LẤY CHỒNG XA XỨ: CẦN CÓ CÁI NHÌN TỈNH TÁO VÀ CÔNG BẰNG

PGS.TS NGUYỄN MINH HOÀ

Hôn nhân dị chủng (khác chủng tộc, quốc gia) hay hôn nhân quốc tế là chuyện xưa như trái đất. Nhưng từ những năm 1980 trở lại đây nó phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hoá, giao lưu văn hoá và hội nhập kinh tế.

Bản thân các quốc gia chỉ có một dân tộc luôn đề cao sự “thuần chủng giống nòi”, tỏ ra rất dị ứng đối với hôn nhân dị chủng như Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc nay cũng phải mở cửa chấp nhận hôn nhân từ bên ngoài do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có lý do thiếu nguồn lực lao động và chênh lệch giới tính.

Phụ nữ Việt Nam bắt đầu lấy chồng Đài Loan năm 1992, rộ lên từ năm 1994 (530 người), cao điểm nhất năm 2000 là 16.000 người, cho đến nay số phụ nữ lấy chồng Đài Loan là khoảng 58.000 người, nhưng từ 2005 bắt đầu giảm xuống và phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc tăng lên, đến nay khoảng 25.000 người. Trước hiện tượng có nhiều phụ nữ không tìm được hạnh phúc ở xứ người, có người phải bỏ trốn, bị hành hạ, bị qua tay nhiều người, thậm chí phải tự tử, xã hội có nhiều luồng ý kiến khác nhau, trong đó đa phần tỏ ra thương hại, trách móc và có cả lên án, phỉ nhổ. Chúng ta hãy bình tĩnh để nhìn nhận lại hiện tượng này.

Cần có cái nhìn công bằng hơn

Theo nghiên cứu của GS Phan An thì khoảng 9% phụ nữ Việt Nam thất bại trong hôn nhân với người Đài Loan. Còn ông David Ngô, chủ nhiệm văn phòng kinh tế – văn hoá Đài Bắc tại TP.HCM đưa ra còn số là 8%. Tương tự GS Kim Hyun-jae thuộc trường đại học Youngsan đánh giá khoảng 7% phụ nữ Việt Nam không hạnh phúc khi lấy chồng Hàn Quốc.

Như vậy con số gia đình không hạnh phúc trong hôn nhân dị chủng là dưới 10%. Nhưng chúng ta cần biết con số này chắc chắn thấp hơn nhiều so với gia đình Việt Nam không hạnh phúc. Từ sau đổi mới số gia đình ly hôn tăng nhanh, có nghiên cứu đáng tin cậy là khoảng 17%, phụ nữ bị bạo hành trong gia đình dưới nhiều hình thức khác nhau là khá cao, bất bình đẳng giới còn khá phổ biến. Như thế có thể khẳng định là số phụ nữ bất hạnh do hôn nhân với người nước ngoài không cao hơn trong nước, thế nhưng tại sao lại trở thành một hiện tượng được xã hội quan tâm, có lẽ bởi vì cũng một hành động bị đối xử tệ như nhau thì đối với người phụ nữ Việt Nam ở trong nước còn cha mẹ, anh em, bà con xóm giềng, các hội đoàn trợ giúp, còn ở nước ngoài thì họ thân cô, thế cô và hầu hết là không biết tiếng cho nên tình cảnh càng trở nên bi thảm hơn.

Continue reading

SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC XÂY DỰNG CÁC CHẾ ĐỊNH VẬT QUYỀN VÀ TRÁI QUYỀN TRONG LUẬT DÂN SỰ

PGS, TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Phó Hiệu trưởng Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

1. Sự phân biệt kinh điển

Trong quan niệm Latinh, vật quyền (jus in re) được hiểu là quyền được chủ thể (người có quyền) thực hiện trực tiếp và tức thì trên một vật mà không cần vai trò trung gian của một người khác1. Trong chừng mực đó, vật quyền đối lập với trái quyền (jus ad rem), tức là quyền được thực hiện chống lại một người nhằm đòi hỏi một lợi ích về tài sản, cụ thể là một số tiền2.

Vật quyền. Tính chất trực tiếp và tức thì của việc thực hiện vật quyền được thể hiện ngay trong cách thức tác động bằng hành vi vật chất (và cả hành vi pháp lý) của chủ thể lên đối tượng của quyền. Chẳng hạn, chủ sở hữu một chiếc xe máy tự mình cưỡi xe hoặc đem cho mượn, cho thuê mà không cần có, cũng không buộc phải nhờ đến vai trò trung gian của người nào khác. Tương tự, người hưởng hoa lợi đối với một miếng vườn tự mình thu hoa lợi mà không cần xin phép chủ sở hữu cũng không cần sự hỗ trợ pháp lý của ai khác.

Học thuyết pháp lý châu Âu xây dựng nhiều cách phân loại vật quyền. Cách phổ biến nhất là thiết lập hai nhóm vật quyền, tuỳ theo mức độ tác động vật chất mà chủ thể được phép thực hiện đối với vật trong khuôn khổ tìm kiếm lợi ích: nhóm các vật quyền chính và nhóm các vật quyền phụ.

Vật quyền chính là các quyền cho phép người có quyền không chỉ nắm giữ việc kiểm soát vật chất đối với tài sản mà còn có thể khai thác các khả năng và đặc biệt là giá trị kinh tế của tài sản. Quyền sở hữu đứng đầu nhóm vật quyền này do tính chất hoàn hảo của quyền năng: nó tạo điều kiện cho người có quyền thu được lợi ích từ việc khai thác một cách trọn vẹn các khả năng kinh tế của tài sản. Các vật quyền chính khác có mức độ hoàn hảo của quyền năng thấp hơn: quyền hưởng hoa lợi chỉ cho phép người có quyền thu hoa lợi từ việc khai thác tài sản, chứ không cho phép định đoạt tài sản; với quyền địa dịch, người có quyền chỉ được khai thác được tài sản ở một khía cạnh nào đó (chẳng hạn, sự tiện lợi về tầm nhìn, lối đi qua)…

Continue reading

TÌM HIỂU THÊM VỀ ÁN LỆ

LS. ĐIỀN ĐỨC THÀNH

Bản tin Đoàn Luật Sư TP.HCM số 118 + 119 phát hành ngày 25-9-2010 và số 120 + 121 phát hành ngày 30-10-2010, LS. Nguyễn Ngọc Bích và LS. Trương Trọng Nghĩa đã giải thích nguồn gốc, những ưu điểm của án lệ; vì sao nên áp dụng án lệ, và nên áp dụng án lệ ở Việt Nam như thế nào?

Cần nghiên cứu và trân trọng về những ý kiến của hai vị luật sư nói trên; mong rằng pháp luật Việt Nam trong tương lai ổn định và nhất quán. Vì pháp luật là tĩnh, còn án lệ là động. Sau này sinh viên trường luật năm thứ ba hay năm thứ tư sẽ được học môn án lệ này.
Tầm quan trọng của án lệ trong việc nghiên cứu luật học, một giáo sư người Pháp tên là H. Capitant đã viết từ hơn thế kỷ là :”Muốn thật hiểu biết môn luật, không chỉ nghiên cứu về phương diện TĨNH  nghĩa là thuần lý thuyết mà phải quan sát những tương quan pháp lý giữa các cá nhân, xem các tương quan ấy được cấu tạo cách nào, biến chuyển ra sao, phát sinh ra những vụ tranh tụng gì, rồi được Tòa án xét xử thế nào, tóm lại phải cứu xét môn học cả về mặt ĐỘNG”.
Do đó, các nhà nghiên cứu án lệ, vì án lệ đem lại một nguồn sinh lực mới cho các luật lệ; luật lệ càng khó hiểu hay khô khan, thì án lệ lại càng cần thiết hơn. Tại sao vậy ? Vì trong công việc áp dụng luật lệ, tòa án phải giải thích các điều khoản, phải tìm những lý do trong văn từ luật lệ hay trong các nguyên tắc tổng thể, các tòa án dần dần sáng tạo nên một cơ cấu pháp lý, để bổ sung vào các văn bản lập pháp ngày càng thêm hoàn chỉnh và phong phú. Nếu không có án lệ mỗi ngày đem lại nguồn sinh lực mới, các luật lệ sẽ dần dần già nua và lạc hậu hoặc bị triệt tiêu.
Việc nghiên cứu tập hợp các án lệ còn đem lại cho người học luật một lợi ích quý báu, vì có được án lệ mới hiểu rõ những tương quan pháp lý được cấu tạo như thế nào và biến chuyển ra sao.
Muốn nhận biết nhiệm vụ và tầm quan trọng của một định chế pháp lý, ta cần phải biết vị trí cũng như sự điều hành của định chế ấy đã được con người nhận thức và sử dụng trong những điều kiện nào, bằng những phương sách nào, để đưa đến những kết quả hay những hậu quả ra sao. Về những điểm này chỉ có án lệ mới có thể vạch cho người ta thấy rõ và người ta chỉ có thể thấu triệt một định chế pháp lý sau khi đã xét kỹ các phán quyết của tòa án đã áp dụng các định chế ấy.

Continue reading

XỬ LÝ HỢP ĐỒNG BẰNG NGOẠI TỆ: CHỎI?

NGUYÊN TẤN

Trước tình trạng biến động của tỷ giá, nhiều doanh nghiệp khi ký kết hợp đồng đều lấy một ngoại tệ mạnh nào đó làm chuẩn để tính giá hàng hóa, dịch vụ. Giao dịch nói trên có bị xem là trái pháp luật? Xung quanh vấn đề này vẫn còn chưa có sự thống nhất, thậm chí ‘chỏi” nhau giữa cơ quan quản lý hành chính và cơ quan xét xử.

Ngân hàng Nhà nước: trái luật!

Thói quen sử dụng ngoại tệ, chủ yếu là đồng đô la Mỹ để tính giá hàng hóa, dịch vụ được các doanh nghiệp khai thác triệt để, nhất là vào lúc đồng nội tệ đang trên đà mất giá như hiện nay. Đây là cách giúp cho bên cung cấp bảo đảm được giá trị hàng hóa, dịch vụ của mình nhưng ngược lại gây thiệt hại không nhỏ cho các đối tượng tiêu dùng.

Ngay cả các hãng luật cũng phải “kêu trời” do tiền thuê văn phòng liên tục bị điều chỉnh, tăng lên theo tỷ giá đồng đô la. Luật sư Trần Anh Đức, Giám đốc Công ty luật Vilaf-Hồng Đức cho biết tiền thuê văn phòng của công ty này khoảng 25.000 đô la Mỹ/tháng. Tuy nhiên, trong vòng một năm qua, với mức tăng của tỷ giá từ 18.500 đồng/đô la lên 19.500 đồng/đô la, mỗi tháng công ty phải trả thêm 25 triệu đồng theo yêu cầu của bên cho thuê.

Bức xúc vì bị “bắt bí”, một hãng luật vừa mới có công văn hỏi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về trường hợp thuê mặt bằng của mình. Nguyên công ty có ký hợp đồng thuê văn phòng của một tập đoàn kinh doanh bất động sản lớn tại Hà Nội. Giá thuê mặt bằng, phí dịch vụ, tiền đặt cọc và tiền trông giữ xe đều được tính bằng đô la Mỹ nhưng được trả bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá bán ra của ngân hàng công bố vào thời điểm thanh toán. Mặc dù, trong quá trình thương lượng bên thuê đề nghị các khoản tiền này được quy đổi ra tiền đồng Việt Nam, tuy nhiên bên cho thuê vẫn không chấp nhận. Do vậy, công ty đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn các bên phải làm gì để tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Continue reading

BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC: KINH NGHIỆM GÌ CHO VIỆT NAM?

TS. NGUYỄN QUỐC VINH

Không hiểu sao bài viết được đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn điện tử ngày 12/12/2010 nhưng nội dung tác giả vẫn góp ý vào Dự thảo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước vốn đã được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 – Civillawinfor

Việc một người dân TPHCM khởi kiện cơ quan phụ trách giao thông và công chính thành phố vì thiệt hại kinh tế do lô cốt gây ra thu hút sự chú ý của đông đảo các giới. Công chúng chờ đợi kết cục về trách nhiệm đối với những bất ổn an sinh họ đang gánh chịu. Còn với các luật gia, vụ án này sẽ đánh dấu sự tiến bộ (hay không) của pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại Việt Nam.

Cho đến nay, số vụ kiện bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại Việt Nam xảy ra ít, thông thường chỉ xảy ra trong một số lĩnh vực như tai nạn giao thông, xây dựng công trình dân dụng… chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong các tranh chấp dân sự.

Điều này trái ngược với tỷ lệ thực tế tại các nước phát triển. Lấy ví dụ tại Nhật Bản, số vụ tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chiếm hơn 60% tổng số tranh chấp dân sự. Hơn 30% còn lại chia cho các tranh chấp hợp đồng, hưởng lợi không có căn cứ chính đáng và thực hiện công việc không có ủy quyền.

Vài kinh nghiệm từ Nhật Bản

Một trong những bị đơn thường xuyên trong các vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại các nước phát triển là nhà nước hoặc cơ quan nhà nước như chính quyền địa phương. Họ trở thành bị đơn vì đã được xã hội giao cho các quyền (nghĩa vụ) thực hiện công việc nhất định như cấp phép, bảo đảm chất lượng cuộc sống, xây dựng công trình công cộng… nhưng đã không hoàn thành những công việc này mà còn gây thiệt hại cho người khác.

Lấy ví dụ tại Nhật Bản, từ năm 1947 nước này đã ban hành Luật về bồi thường nhà nước (Kokka baisho ho) quy định về những trường hợp nhà nước phải bồi thường. Cụ thể điều 1.1 luật này quy định: “Khi thực thi công vụ, nếu một quan chức chính quyền có hành vi vi phạm, dù cố ý hoặc vô ý, mà gây thiệt hại cho người khác thì nhà nước hoặc cơ quan có liên quan phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại”. Điều 2.1 luật này quy định: “Trong trường hợp có khiếm khuyết khi xây dựng hoặc quản lý đường sá, sông ngòi và các cơ sở công cộng khác mà gây thiệt hại cho người khác thì nhà nước hoặc cơ quan có liên quan phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 23/2010/TT-BTP NGÀY 06 THÁNG 12 NĂM 2010 QUI ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN NGHỊ ĐỊNH SỐ 17/2010/NĐ-CP NGÀY 04 THÁNG 03 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN

Căn cứ Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản;

Căn cứ Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;

Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản (sau đây gọi tắt là Nghị định số 17/2010/NĐ-CP) như sau:

Chương I

ĐÀO TẠO NGHỀ ĐẤU GIÁ

Điều 1. Khóa đào tạo nghề đấu giá

1. Khóa đào tạo nghề đấu giá được tổ chức theo hình thức đào tạo tập trung nhằm trang bị cho học viên kiến thức pháp luật cơ bản về bán đấu giá tài sản, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng hành nghề bán đấu giá, qua đó tiêu chuẩn hóa về chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ đấu giá viên.

Cơ sở đào tạo nghề đấu giá tổ chức các khóa đào tạo nghề theo định kỳ hoặc căn cứ theo nhu cầu đào tạo thực tế.  

2. Học viên đăng ký tham dự khóa đào tạo nghề theo thông báo chiêu sinh của cơ sở đào tạo nghề đấu giá.                                                                                                          

3. Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt chương trình khung của khóa đào tạo nghề đấu giá. Thời gian đào tạo nghề là ba tháng, bao gồm thời gian đào tạo tại cơ sở đào tạo nghề và thời gian thực tập tại tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp. Thời gian đào tạo tại cơ sở đào tạo gồm có phần học lý thuyết và phần thực hành, trong đó phần thực hành chiếm 1/2 tổng số tiết học.

Continue reading