TẾT DÂN TỘC NGHĨ VỀ DÂN TỘC

THANH GIANG

Từ xưa đến nay, người Việt Nam dù giàu dù nghèo ai cũng có thói quen lo Tết. Người giàu ăn Tết theo kiểu người giàu, người nghèo ăn Tết theo kiểu người nghèo nhưng chưa chắc ai ăn Tết vui hơn. Năm nào cũng vậy, còn khá lâu mới đến Tết nhưng ai nấy đều đã nghĩ về Tết. Trước hết là những người lo Tết cho các chiến sĩ ở biên cương, hải đảo, là ngành giao thông vận tải lo chuyên chở khách đi lại. Những người sản xuất và buôn bán hàng Tết lo sớm nhất. Sắp đến ngày cuối năm, đường phố đầy người lo sắm Tết, cửa hàng đông khách hơn, quầy bán hàng Tết dần dần xuất hiện khắp nơi…

Tính dân tộc hiện lên đậm nét nhất trong mấy ngày Tết. Từ thú ăn đến thú chơi, thú mua sắm, Tết Ta khác xa Tết Tây. Bữa ăn sum họp gia đình tối 30, mâm cơm cúng ông bà, lời khấn trước bàn thờ tổ tiên, lời chào hỏi chúc tụng nhau ngày Tết…đều khác với ngày thường. Du khách Tây muốn tìm hiểu Việt Nam thường đến nước ta vào dịp Tết.

Trong dịp đón mùa xuân mới, mọi người nghĩ đến gia đình một phần thì nghĩ tới nước nhà mười phần. Suy nghĩ ấy tăng dần bởi vận mệnh dân tộc ta đang đứng trước những thách thức lớn trong, ngoài nước; tình hình kinh tế xã hội đang có những thách thức. Thách thức quả là nhiều và đáng ngại, khiến lòng dân phải lo, nỗi lo dân tộc có thể bị tụt hậu, lo cho biên cương tổ quốc, nạn tham nhũng lan tràn, môi trường sống bị thu hẹp, sự phân hoá giàu nghèo tăng dần…

Trên diễn đàn của báo chí, của nhân dân, nhiều bạn đang thảo luận nghiêm túc những câu hỏi về nguyên nhân vì sao nước ta tụt lại đàng sau một số nước láng giềng thời xưa cũng nghèo như ta, về thời cơ, thách thức của dân tộc.

Chúng ta dễ dàng nhất trí trong đánh giá tình hình và nỗi lo ngại tụt hậu, nhưng điều quan trọng lại là tìm ra nguyên nhân và cách giải quyết.

Có người nói đó là do cơ chế. Có người nói đó là do đạo đức xã hội xuống cấp. Có người đổ lỗi cho các thế lực thù địch bên ngoài…Nhưng bình tâm suy nghĩ kỹ ta sẽ có thể thấy một trong các nguyên nhân sâu xa nhất làm cho tình hình kinh tế xã hội nước ta khó khăn như hiện nay là do tinh thần dân tộc của chúng ta ngày càng phai nhạt. “Chúng ta” ở đây là bạn và tôi, là tất cả mọi người từ lãnh đạo tới dân thường. Đừng đổ lỗi cho ai khác.

Continue reading

TRANH CHẤP MUA BÁN VÀNG TRÊN SÀN: KHÓ XỬ!

HOÀNG YẾN

Hai vụ án có nội dung y hệt nhau, chỉ khác tên, địa chỉ của bị đơn và số tiền phải trả nhưng cấp phúc thẩm giải quyết theo hai hướng…

Năm 2007, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) đưa ra hình thức đầu tư kinh doanh vàng. Theo đó, người tham gia đầu tư vàng trực tiếp ký các hợp đồng giao dịch vàng kiêm hợp đồng cấp tín dụng hạn mức và hợp đồng cầm cố số dư tài khoản VNĐ/vàng. ACB sẽ cung cấp hạn mức tín dụng cho người tham gia đầu tư. Người tham gia đầu tư trực tiếp giao dịch, đặt lệnh mua bán tại trung tâm giao dịch vàng thông qua đại diện của ACB ở đó. Người tham gia đầu tư phải nộp một khoản tiền ký quỹ trên tài khoản và lỗ lãi khi mua bán vàng trên sàn được khấu trừ vào tài khoản.

Hai vụ tương tự, hai hướng giải quyết

Năm 2008, Công ty TNHH Đông Dương đã ủy quyền cho 22 cá nhân là nhân viên công ty trực tiếp ký kết, thực hiện việc giao dịch vàng. Trong đó, có bảy trường hợp có số dư nợ nhưng không thanh toán cho ACB nên bị ACB khởi kiện ra TAND TP Hà Nội.

Tháng 9-2009, TAND TP Hà Nội xử vụ đầu tiên giữa ACB với ông TĐM, nhân viên Đông Dương. Tòa xác định Đông Dương là bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vì đã ủy quyền cho ông M. giao dịch trên sàn vàng, nhân danh công ty mở tài khoản cá nhân và thực hiện các giao dịch dưới sự chỉ đạo, kiểm soát của công ty. Tòa xác định hợp đồng giao dịch có hiệu lực và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ACB, buộc ông M. cùng Đông Dương liên đới trả cho ngân hàng số dư nợ. Sau đó, ông M. và Đông Dương kháng cáo. Tháng 4-2010, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội đã hủy bản án sơ thẩm với lý do cần bổ sung người tham gia tố tụng.

Tháng 2-2010, TAND TP Hà Nội xử vụ thứ hai giữa ACB với bà NTVA, nhân viên Công ty Đông Dương và cũng ra phán quyết tương tự như trên. Tháng 8-2010, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội xử phúc thẩm lại không hủy án mà chỉ sửa án sơ thẩm. Tòa phúc thẩm cho rằng hợp đồng giao dịch vàng giữa ACB và bị đơn là vô hiệu vì hình thức kinh doanh giao dịch trên sàn vàng là hình thức kinh doanh mới, cần phải có giấy phép hoạt động. Việc ACB kinh doanh giao dịch vàng trên sàn là chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép cho hoạt động.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ (CISG)

CỔNG THÔNG TIN PHÁP LUẬT, BỘ CÔNG THƯƠNG – Hiện nay, sự tồn tại của CISG được giới luật sư trong lĩnh vực thương mại quốc tế biết đến khá rộng rãi. Tuy nhiên, khuynh hướng loại trừ không áp dụng Công ước này đặc biệt trong thương mại hàng hóa vẫn tồn tại. Có ba lý do thường được đưa ra để giải thích cho khuynh hướng này. Thứ nhất, mặc dù CISG được biết đến khá rộng rãi thì mức độ am hiểu về việc áp dụng và chức năng của Công ước trên thực tế vẫn rất thấp. Các luật sư vẫn ưa chuộng luật trong nước của họ hơn theo thói quen. Thứ hai, bất cứ khi nào một bên trong hợp đồng có ưu thế cho phép thì bên đó thường thích sử dụng luật của nước mình hơn áp dụng cho hợp đồng. Thứ ba, các bên vẫn chưa bị thuyết phục về lợi ích của CISG so với các luật trong nước về hợp đồng. Tuy nhiên, những lập luận này không có tính thuyết phục vì một số lí do sau đây

Mặc dù hiện nay tại các nước phương tây và các nước công nghiệp hóa, các bên được tự do để chọn luật áp dụng cho hợp đồng của họ thì điều này lại không đúng ở phần còn lại của thế giới. Nhiều nước đang phát triển và các nước chuyển đổi e ngại dành cho các thương nhân phương tây quá nhiều lợi thế dẫn đến việc từ chối công nhận các điều khoản chọn luật. Ví dụ ở Brazil, giá trị pháp lý của các điều khoản chọn luật được bàn cãi nhiều hơn hết. Do đó, người mua từ Hoa Kỳ nhận hàng hóa từ người bán Brazil và tự tin giao kết trên cơ sở Luật Thương mại mẫu của Hoa Kỳ có thể bị rơi vào tình trạng rất rủi ro khi cố gắng kiện người bán ở các tòa án Brazil nơi áp dụng luật Brazil đối với hợp đồng mua bán. Điều này dễ dẫn tới tình trạng một bên phải đương đầu với một luật khó có khả năng dự đoán và thậm chí khó hiểu hoặc tiếp cận.

Bên cạnh đó, nếu điều khoản chọn luật được thừa nhận thì việc một bên yêu cầu áp dụng luật của nước mình có thể vẫn gặp phải những trở ngại đáng kể khi kiện ra tòa án của một nước khác. Đầu tiên, luật được chọn phải được chứng minh tại tòa. Điều này bao hàm việc dịch các đạo luật và các văn bản pháp lý khác như các quyết định của tòa án, các bài nghiên cứu sang ngôn ngữ của tòa. Đồng thời việc yêu cầu tư vấn chuyên gia cũng rất cần thiết. Ở một số nước các chuyên gia có thể do tòa chỉ định, trong khi ở nhiều nước khác một bên phải tự đề cử chuyên gia của mình. Chúng ta đều biết rằng tất cả những việc này đều rất tốn kém. Thậm chí nếu một bên có ý thức chịu mọi chi phí để chứng minh luật nước mình tại tòa, họ vẫn sẽ phải đối mặt với sự khó dự đoán liên quan đến việc giải thích và áp dụng luật này bởi tòa án nước ngoài và đôi khi là sự sai lệch hoàn toàn. Tất nhiên càng ngày càng có nhiều tranh chấp về luật mua bán hàng hóa quốc tế không bị kiện ra các tòa án quốc gia mà thường được giải quyết bởi trọng tài thương mại quốc tế. Vấn đề chứng minh luật trong nước và bản dịch của nó vẫn cần thiết khi luật này không thể tiếp cận được bằng tiếng Anh. Trong hoàn cảnh này, làm thế nào để các trọng tài – những người đến từ các hệ thống pháp luật khác nhau có thể áp dụng luật của một nước khác.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 339/TCT-CS NGÀY 25 THÁNG 01 NĂM 2011 CỦA TỔNG CỤC THUẾ, BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN MỘT SỐ VƯỚNG MẮC KHI THỰC HIỆN THÔNG TƯ SỐ 153/2010/TT-BTC

Kính gửi:

Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Tổng cục Thuế nhận được phản ánh của một số Cục Thuế và doanh nghiệp nêu một số vướng mắc trong quá trình thực hiện Thông tư số 153/2010/TT-BTC (Thông tư 153). Để việc thực hiện được thống nhất, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Câu hỏi 1:

Doanh nghiệp xăng dầu trước đây mua hoá đơn của cơ quan thuế, khi viết ghi thêm phí xăng dầu. Vậy nay các doanh nghiệp đề nghị in luôn dòng phí xăng dầu vào hoá đơn có được không?

Trả lời:

Tại điểm 1.b Mục III Thông tư số 06/2001/TT-BTC ngày 17/1/2001 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 78/2000/NĐ-CP ngày 26/12/2000 của Chính phủ về phí xăng dầu hướng dẫn:

“Khi xuất, bán xăng dầu phải thực hiện:

– Tính tiền phí xăng dầu theo mức quy định nêu tại điểm 1 mục II Thông tư này.

– Xuất hoá đơn bán xăng dầu cho đơn vị mua hàng.

Để người tiêu dùng không phải chịu thuế GTGT đối với số tiền phí xăng dầu và không làm đảo lộn công tác hạch toán kế toán của các đơn vị kinh doanh xăng dầu, khi ghi hoá đơn bán xăng dầu (kể cả bán buôn, bán lẻ) các đơn vị kinh doanh xăng dầu phải ghi số tiền phí xăng dầu thành một dòng riêng trên hoá đơn, cụ thể là ở các dòng tổng cộng của hoá đơn phải ghi rõ: giá bán chưa có thuế GTGT (không bao gồm phí xăng dầu), thuế GTGT, phí xăng dầu, giá thanh toán”.

Căn cứ hướng dẫn trên, đối với doanh nghiệp thuộc đối tượng nộp phí xăng dầu thì trên hoá đơn phải ghi số tiền phí xăng dầu thành một dòng riêng và được in trên hoá đơn dòng “phí xăng dầu”.

Continue reading

HOÀN CHỈNH CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TRONG GIAI ĐOẠN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN

THS. PHAN PHƯƠNG NAM – Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh

Giao dịch chứng khoán là một giai đoạn rất quan trọng trong quá trình đầu tư của nhà đầu tư (NĐT) chứng khoán. Chính hoạt động giao dịch chứng khoán là nơi cụ thể hóa các khoản lợi nhuận, các hành vi mua, bán chứng khoán của NĐT chứng khoán. Tuy nhiên, theo nguyên tắc trung gian trên thị trường chứng khoán (TTCK), những NĐT chứng khoán không thể trực tiếp gặp gỡ trao đổi thông tin và mua, bán chứng khoán trực tiếp từ những người có nhu cầu bán, mua chứng khoán khác. Các NĐT chỉ có thể thực hiện hoạt động mua, bán chứng khoán thông qua chủ thể trung gian, công ty chứng khoán (CTCK).

Do đó, để thực hiện hoạt động giao dịch chứng khoán, các NĐT chứng khoán phải có tài khoản mở tại một CTCK và tiến hành mọi hoạt động mua, bán, đầu tư chứng khoán thông qua tài khoản này tại các sàn giao dịch của CTCK. Với hình thức này, các NĐT đã không trực tiếp nắm giữ tiền hoặc chứng khoán của mình sở hữu mà tất cả đều ký thác vào tài khoản tại CTCK. Vì thế, về mặt nguyên tắc, rõ ràng các NĐT cần phải được pháp luật bảo vệ trong quá trình giao dịch nhằm giúp NĐT có thể quản lý chặt chẽ tài sản của mình (gồm tiền và chứng khoán trên tài khoản) cũng như đảm bảo CTCK sẽ thực hiện các lệnh khách hàng.

Cơ chế pháp lý bảo vệ NĐT trên TTCK được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong trình NĐT mở tài khoản, sử dụng tài khoản và quản lý tài khoản chứng khoán mở tại các CTCK.

Như vậy, cơ chế pháp lý bảo vệ NĐT trong giai đoạn giao dịch trên TTCK sẽ bao gồm ba nội dung: pháp luật bảo vệ NĐT trong quan hệ mở tài khoản giữa khách hàng và CTCK; pháp luật bảo vệ NĐT trong quan hệ giữa khách hàng và CTCK trong quá trình đặt lệnh; pháp luật bảo vệ NĐT trong quan hệ giữa khách hàng và CTCK trong quá trình khách hàng quản lý tài khoản.

1. Pháp luật bảo vệ nhà đầu tư trong quan hệ mở tài khoản giữa khách hàng và công ty chứng khoán

Quan hệ mở tài khoản được xác lập thông qua hợp đồng mở tài khoản giữa khách hàng, NĐT và CTCK, chủ thể cung cấp dịch vụ. Hợp đồng mở tài khoản được coi là bằng chứng pháp lý quan trọng để xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mở tài khoản. Với tính chất quan trọng đó, NĐT với tư cách là khách hàng có quyền cùng bàn bạc, thỏa thuận các nội dung trong hợp đồng mở tài khoản với CTCK.

Continue reading

TÁC ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG VÀNG NĂM 2010 ĐẾN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

TS. ĐỖ THỊ THỦY – VietinBank

1. Năm của những mức giá kỷ lục trên thị trường vàng

Trong những năm gần đây, giá vàng có xu hướng tăng nhanh. Năm 2010 thị trường vàng (TTV) biến động bất thường với những mức giá kỷ lục liên tiếp được thiết lập. Tháng 11/2010 người dân đã chứng kiến giá vàng trong nước đạt mức giá 38 triệu đồng/lượng. Từ cuối năm 2009 đến ngày 21/12/2010 giá vàng quốc tế tăng 26%, giá vàng trong nước tăng 46%. Sự biến động của TTV đã tác động không nhỏ đến nền kinh tế đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng. Bài toán vàng, lạm phát lại một lần nữa thách thức các nhà điều hành chính sách tiền tệ.
Vậy những nguyên nhân nào khiến giá vàng trong nước tăng đột biến?

Thứ nhất: Giá vàng Việt Nam chịu tác động của giá vàng thế giới

Giá vàng thế giới đã có những bước ngảy vọt chưa từng có, lần đầu tiên trong vòng 10 năm qua, đạt cao nhất vào năm 2010, tăng gấp 5 lần. Vào trung tuần tháng 10/2010, giá vàng thế giới đã lập kỷ lục 1.379,1$/oune, tăng 22% so với đầu năm. Vàng đã trở thành tài sản đặc biệt, không chỉ các Ngân hàng trung ương (NHTW) mà các quỹ đầu tư nhỏ lẻ rất quan tâm. Giá vàng thế giới tăng do 3 nguyên nhân chính:

Khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến nhà đầu tư tìm đến vàng như một chỗ trú ẩn an toàn: Nhân tố chính kích động giá vàng là lạm phát hoành hành các nền kinh tế. Trong hai năm qua, cùng với các chiến dịch kích thích tăng trưởng kinh tế, các NHTW của Mỹ, châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và nhiều nước khác đã tìm cách tăng chi tiêu đồng thời in thêm tiền mặt. Hàng nghìn tỷ USD được bơm vào nền kinh tế toàn cầu, khiến lạm phát gia tăng.
Mặt khác, các yếu tố quốc tế đầy rủi ro sau khủng hoảng khiến vàng trở thành tài sản được ưa chuộng để tích trữ. Chiến dịch nới lỏng chính sách tiền tệ đã không thể thúc đẩy nền kinh tế và giảm thất nghiệp ở các nước như mong muốn. Thay vào đó, luồng "tiền nóng" chảy sang các nền kinh tế đang nổi, nơi chúng được đổ vào các mặt hàng giữ giá như vàng.

Continue reading

NĂM CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH TƯ PHÁP THÀNH CÔNG

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA

Hiện nay, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự đã được Quốc hội cho ý kiến lần thứ nhất tại Kỳ họp thứ 8 và dự kiến thông qua vào Kỳ họp thứ 9, có hai vấn đề lớn được đưa vào trong Dự thảo Luật : (1) Mở rộng sự tham gia của Viện Kiểm sát nhân dân vào 100% các  vụ việc dân sự (Khoản 2 Điều 1 Dự thảo 4); (2) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có quyền xem xét lại các quyết định của chính mình (Khoản 51, 52 Điều 1 Dự thảo 4). Đây là thách thức lớn trong xây dựng thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam và là bước lùi trong thực hiện Chiến lược cải cách Tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/6/2005. Civillawinfor xin trích đăng lại bài viết của PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa về năm chủ trương cải cách tư pháp đã được trang Thông tin pháp luật dân sự đăng ngày 12/05/2008 để các bạn cùng tham khảo.

Mục đích, các tiêu chí cải cách hệ thống tòa án theo Nghị quyết 49 đã khá rõ ràng, theo thiển ý của riêng tôi, vấn đề hiện nay chủ yếu là ý chí chính trị của những người giữ quyền điều hành đất nước.

Ở địa phương, chánh án các tòa án thường có một vị trí xã hội khá khiêm tốn so với giám đốc các sở, ban ngành cùng cấp. Ở trung ương, tòa án chưa thực sự có điều kiện để trở thành một cơ quan quyền lực, góp phần xác lập chính sách một cách đáng kể ở nước ta.

Nếu tòa án tiếp tục thiếu tin cậy thì người dân sẽ tìm đến các phương pháp giải quyết tranh chấp ngoài tòa, công lý không được xác lập thì nguy cơ bất ổn tăng nhanh-hàng nghìn vụ đình công bất hợp pháp từ Nam ra Bắc, đòi nợ thuế, xiết nợ kiểu xã hội đen là một minh chứng cho nhận định này. Thêm nữa, khi người nước ngoài làm ăn tại Việt Nam, tranh chấp sẽ được đưa ra ngoài lãnh thổ nước ta để giải quyết, các trọng tài Singapore hay Hồng Kông sẽ thay thế tòa án Việt Nam trong việc xác lập trật tự kinh doanh ngay ở chính nước ta. Ngoài ra, tư pháp non yếu thì hành pháp lạm quyền, quan chức có nhiều cơ hội lạm dụng quyền lực công mà không bị truy hỏi về trách nhiệm chính trị cũng như pháp lý trước người dân.

Lựa chọn thành công theo gương những người hàng xóm Đông Á, chúng ta cần một nhà nước thượng tôn pháp luật. Nhà nước ấy cần cương tỏa quyền lực của hành chính, đặt Chính phủ, công an, quân đội, ngân hàng quốc doanh và tất cả mọi thiết chế quyền lực khác dưới sự giám sát của pháp luật, của tòa án. Khái niệm ấy người ta gọi là giám sát tư pháp đối với cơ quan công quyền.

Continue reading

ĐẶT TÊN CHO DOANH NGHIỆP: THAY ĐỔI PHẢI CHĂNG, CHỈ LÀM PHỨC TẠP THÊM?

LS. TRẦN VĂN TRÍ – Văn phòng Luật sư Hùng và Đồng sự

1. Đặt tên riêng của doanh nghiệp có sử dụng tiếng nước ngoài:

Mới đây một Công ty Nhật Bản tiến hành đầu tư vào KCX Tân Thuận. Khi nộp hồ sơ xin cấp phép đầu tư thì Ban Quản lý các KCX – KCN (HEPZA) đề nghị chỉnh lại tên Doanh nghiệp với lý do NĐ 43 không quy định được sử dụng tiếng ngoài để cấu thành tên riêng của doanh nghiệp đặt bằng tiếng Việt [1] .

Khi đến Việt Nam tiếp cận thị trường, Công ty Nhật Bản đã không quên nghiên cứu các quy định pháp lý liên quan đến đặt tên cho Công ty dự định sẽ được thành lập. Theo đó, tại thời điểm ra quyết định đầu tư, Nghị định 88/2006/NĐ-CP cho phép “Riêng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể sử dụng tên riêng bằng tiếng nước ngoài đã đăng ký để cấu thành một phần hoặc toàn bộ tên riêng của doanh nghiệp – điểm b, khoản 1, điều 10”. Trong thời gian chuẩn bị hồ sơ (vì phải hợp pháp hóa lãnh sự các hồ sơ cần thiết khá lâu) cho đến khi hoàn tất thì NĐ 43 ra đời.

Chúng ta đều biết rằng nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam không chỉ riêng các thể nhân mà rất nhiều pháp nhân kinh tế (Công ty). Các Công ty này đã có bề dày kinh nghiệm và nổi tiếng trên phạm vi toàn cầu. Chính vì lẻ đó, giữ nguyên tên của mình và chỉ thêm tên của Quốc gia nơi đầu tư để phân biệt với các Công ty thành lập ở các Quốc gia khác nhau là lựa chọn của các Công ty này (Ví dụ như Honda Việt Nam, Toyota Việt Nam, Intel Việt Nam …). Vấn đề là vậy, NĐ 88 cũng thể hiện rất rõ chính sách của Nhà nước Việt Nam cam kết bảo vệ nhu cầu chính đáng đó cho Nhà đâu tư nước ngoài nhưng không biết lý do gì NĐ 43 lại bỏ đi? Nếu không được sử dụng tên Công ty mà mình phải bỏ công tạo lập thì chắc chắn nhà đầu tư nước ngoài sẽ không vào Việt Nam.

Chẳng lẽ Việt Nam đã thu hút đủ vốn đầu tư nước ngoài và chúng ta cần thay đổi chính sách để hạn chế đầu tư? Chính sách của Nhà nước thay đổi làm ảnh hưởng đến các dự định của doanh nghiệp được xem là một rủi ro pháp lý. Song trường hợp quy định về đặt tên doanh nghiệp không phải chính sách thay đổi mà dường như các Cơ quan soạn thảo đã vô ý hay cố tình mắc lỗi bỏ đi quy định tại điểm b, điều 10 của NĐ 88 khi soạn thảo NĐ 43. Ngày 20/7/2010, Thông tư 14/2010/TT-BKH hướng dẫn NĐ 43 sẽ có hiệu lực và dĩ nhiên việc đặt tên cho Công ty có vốn đầu tư nước ngoài sẽ trờ thành môt đề tài nóng bỏng cần phải bận tâm của các Luật sư. Để giải quyết lỗi này, Bộ kế hoạch đầu tư cần sớm có hướng dẫn rõ cho các Cơ quan đăng ký kinh doanh chấp nhận cách đặt tên riêng cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo như hướng dẫn tại điểm b, điều 10, NĐ 88 đã hết hiệu lực.

Continue reading

HỌC THUYẾT VỀ ĐẠI DIỆN VÀ MẤY VẤN ĐỀ CỦA PHÁP LUẬT CÔNG TY VIÊT NAM

TS. BÙI XUÂN HẢI – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Bài viết này phân tích những vấn đề cơ bản của học thuyết về đại diện (agency theory) ở các nước phương Tây trong việc lý giải mối quan hệ giữa cổ đông và người quản lý công ty, và sử dụng những luận điểm của học thuyết này để bình luận về một số vấn đề trong thực tiễn quản trị doanh nghiệp và pháp luật công ty Việt Nam nhằm mục đích đưa ra một số kiến nghị cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật hiện hành.

1. Mối quan hệ giữa các cổ đông và người quản lý công ty và lý thuyết về đại diện (agency theory)

Công ty với tư cách là một pháp nhân – một thực thể pháp lý độc lập (a separate legal entity), tự bản thân nó không thể hành động cho chính mình mà chỉ có thể hành động thông qua con người cụ thể – những người quản lý công ty.[1] Cũng vì thế, công ty luôn cần có người đại diện trong giao dịch để xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Từ giữa thế kỷ 19, các án lệ của các nước theo truyền thống thông luật (common law) đã khẳng định rằng, công ty chỉ có thể hành động thông qua các giám đốc (directors) – tức những người quản lý công ty, và hành động của cá nhân cổ đông sẽ không ảnh hưởng gì, không ràng buộc trách nhiệm của pháp nhân công ty – với tư cách là một thực thể pháp lý độc lập.[2] Bởi lẽ đó, luật công ty của các nước theo truyền thống common law, cả luật thành văn (statutory law) và luật án lệ (case law) – đã phát triển nhiều nguyên tắc pháp lý về người quản lý công ty, đặc biệt là xác định ai là người quản lý công ty và các nghĩa vụ pháp lý của họ (directors’ duties).[3]

Trong tác phẩm Của cải của các Dân tộc (The Wealth of Nations), nhà kinh tế học nổi tiếng Adam Smith đã cho rằng với đặc tính của công việc quản lý, các cổ đông không nên kỳ vọng và tin tưởng rằng người quản lý công ty sẽ hành động như họ muốn, bởi lẽ người quản lý công ty luôn có xu hướng thiếu siêng năng, mẫn cán và lợi dụng vị trí của mình để tìm kiếm lợi ích cá nhân cho chính họ hơn là cho các cổ đông và công ty.[4] Trong nghiên cứu của mình, Adam Smith đã dự đoán xu hướng phát triển của các công ty hiện đại với sự phân tách giữa quyền sở hữu và quản lý, kiểm soát công ty (separation of ownership and control).[5] Trong nghiên cứu nổi tiếng được công bố năm 1932, Berle và Means khẳng định rằng với sự phát triển của phương tiện truyền thông hiện đại, việc tổ chức tốt của các thị trường chứng khoán và sự tăng lên nhanh chóng về số lượng các nhà đầu tư, vấn đề sở hữu vốn trong các công ty ngày càng bị phân tán và cổ phần sẽ được sở hữu bởi nhiều chủ thể đa dạng hơn.[6] Hai ông cũng cho rằng, mô hình công ty hiện đại ngày nay là đại diện của một hình thức mới về tài sản, mà tài sản đó lại được kiểm soát, quản lý bởi những người quản lý công ty (những người làm thuê) hơn là các cổ đông (những chủ sở hữu thực sự của tài sản). Từ đó, các học giả này cũng kết luận rằng, có sự phân tách giữa sở hữu và quản lý, kiểm soát trong các công ty hiện đại.

Continue reading

QUY ĐỊNH VỀ “ĐÌNH CHỈ” TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

THS. TỐNG CÔNG CƯỜNG – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Đình chỉ là một phương thức xử lý đặc biệt của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Trước đây, trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế hay Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động chỉ quy định một loại đình chỉ duy nhất là đình chỉ giải quyết vụ án dưới hình thức “Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án”.[1]

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định nhiều loại đình chỉ khác nhau tương ứng với từng giai đoạn tố tụng và từng loại căn cứ khác nhau, theo đó Tòa án sẽ ra nhiều loại quyết định đình chỉ khác nhau: đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục phúc thẩm, đình chỉ xét xử phúc thẩm, đình chỉ xét xử yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên, quy định trong BLTTDS về tính chất, căn cứ, hình thức quyết định của các loại đình chỉ nêu trên cũng chưa thật sự rõ ràng, cụ thể, dẫn đến có nhiều vướng mắc về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng dân sự. Bài viết này phân tích về các loại đình chỉ trong tố tụng dân sự theo quy định của BLTTDS hiện hành.

1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại thủ tục sơ thẩm

Tính chất của loại đình chỉ giải quyết vụ án dân sự này là chấm dứt hoạt động tố tụng. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục sơ thẩm là một phương thức giải quyết vụ án dân sự. Bởi vì, một vụ án dân sự sẽ được giải quyết qua một trong ba phương thức là hòa giải thành công, đình chỉ giải quyết vụ án và mở phiên tòa xét xử.[2] Các căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án được quy định cụ thể tại Điều 192 BLTTDS bao gồm: (i) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; (ii) Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó; (iii) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện; (iv) Cơ quan, tổ chức rút văn bản khởi kiện trong trường hợp không có nguyên đơn hoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án; (v) Các đương sự đã tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án; (vi) Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt; (vii) Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó; (viii) Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.

Continue reading

NÊN HAY KHÔNG NÊN QUY ĐỊNH THỦ TỤC “HÒA GIẢI Ở CẤP CƠ SỞ” TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

ĐĂNG MINH

Nên hay không nên quy định  Theo Luật đất đai năm 2003,  “hòa giải ở cấp cơ sở” trong giải quyết các tranh chấp đất đai là một trong những điều kiện bắt buộc trước khi các đương sự được khởi kiện tới Tòa án?

1. Những bất cập về mặt pháp luật và vướng mắc trong thực tiễn:

Điều 135 Luật đất đai năm 2003 quy định về  hoà giải tranh chấp đất đai như sau:

“1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp.   

Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai.

Thời hạn hoà giải là ba mươi ngày làm việc, kể từ ngày Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nhận được đơn.

Kết quả hoà giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất. Trường hợp kết quả hoà giải khác với hiện trạng sử dụng đất thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chuyển kết quả hoà giải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết theo quy định về quản lý đất đai.”

Tuy nhiên, Điều 136 Luật đất đai quy định “ Tòa án chỉ giải quyết các tranh chấp đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã nhưng các đương sự không nhất trí với nhau” . Như vậy, thủ tục hòa giải cơ sở do Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn tiến hành là điều kiện bắt buộc trước khi các đương sự được khởi kiện tới Tòa án chứ không phải là thủ tục mang tính tùy nghi hoặc khuyến khích.

Continue reading

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HỢP ĐỒNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI CỦA DOANH NGHIỆP VÀ MỘT SỐ LIÊN HỆ VỚI HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG

torn-contractTS. LÊ VĂN LUYỆN (Học viện Ngân hàng) & THS. ĐÀO NGỌC CHUYỀN (Văn phòng Luật sư Đào và Đồng nghiệp)

Nói đến hợp đồng kinh doanh thương mại, không thể không nói đến điều khoản cơ bản về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Đây là sự thỏa thuận của các bên trong giao dịch dân sự, kinh doanh thương mại, đồng thời, cũng là các chế định của pháp luật; nó tồn tại đã lâu nhưng cũng còn nhiều bất cập mà doanh nghiệp và những người làm công tác pháp lý nói chung và luật sư nói riêng còn một số điểm phải trao đổi làm rõ.

Vấn đề này không chỉ dừng tại đó, mà còn có ảnh hưởng đến các bên có liên quan, trực tiếp là các ngân hàng thương mại (NHTM) và tổ chức tín dụng (TCTD) khác tài trợ vốn cho doanh nghiệp. Nếu như khách hàng bị thiệt hại do đối tác gây ra, không được bồi thường kịp thời và giải quyết vi phạm đó kéo dài, mà giá trị hợp đồng đó có sự tài trợ vốn, cho vay của NHTM,… thì doanh nghiệp rất dễ rơi vào tình trạng nợ quá hạn, nợ khó đòi,… vì dòng tiền quay vòng không đúng dự kiến, nợ NHTM không được trả đúng hạn. Do đó NHTM, trực tiếp là cán bộ tín dụng cần có nhận thức đầy đủ hơn để giải quyết mối quan hệ với khách hàng cũng như xử lý nợ khi phát sinh liên quan đến hợp đồng có tranh chấp bồi thường. Bên cạnh đó, các TCTD cần nắm rõ vấn đề này khi giải quyết tranh chấp, bồi thường, vi phạm với đối tác trong hoạt động của mình.

Về lý luận và khoa học pháp lý: Pháp luật quy định về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại như sau:

Theo các quy định của pháp luật hiện hành: (i) Điều 422 Bộ luật Dân sự năm 2005 cho phép các bên trong giao dịch dân sự được thoả thuận về mức phạt vi phạm; có thể thoả thuận vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm. (ii) Luật Thương mại quy định: Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm (Điều 301)… Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm (Điều 302). (iii) Luật Xây dựng quy định: Đối với công trình xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước, mức thưởng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng làm lợi, mức phạt không vượt quá 12% giá trị hợp đồng bị vi phạm (Điều 110).

Continue reading

ĐỊNH DẠNG NHÂN HIỆU CÁ NHÂN

NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG – Tâm Việt Group

Người ta nhận ra một đất nước bởi quốc hiệu, nhận ra một công ty bởi thương hiệu và nhận ra một con người bởi nhân hiệu. Nhân hiệu chính là cái để người ta nhớ tới mình, trân trọng mình. Vậy thì xây dựng nhân hiệu cho mình bắt đầu từ đâu và như thế nào?

Ta nhớ lại những lần ta đi mua hàng, ta cần mua bột giặt, nhãn hiệu nào sẽ xuất hiện ngay trong đầu ta? Omo, Tide, Vì Dân… Ta cần uống nước ngọt, ngay lập tức ta nghĩ đến Cocacola và Pepsi, C2…Hoặc nhắc đến Mỹ người ta nghĩ ngay đến tiềm lực tài chính, nhắc đến Nhật người ta nghĩ đến chất lượng hàng hóa, nhắc đến Trung Quốc người ta nghĩ đến đông dân… Một ngày nào đó tên của ta được nhắc đến, người khác sẽ nghĩ ngay đến điều gì, sự giàu có, sự hài hước, lòng tốt bụng, những bản nhạc trữ tình… hay nhắc đến một lĩnh vực nào đó người ta sẽ nghĩ ngay đến ta như đại diện của ngành công nghệ thông tin, giáo dục, kỹ năng sống, báo chí,… hoặc sẽ là không gì cả. Thế giới càng ngày càng phát triển, nếu như trước đây một người bán vạn người mua thì bây giờ vạn người bán một người mua và người mua không có nhiều thời gian dành cho việc lựa chọn khó khăn đó. Chính vì vậy, khách hàng chỉ mua những sản phẩm đã có hình ảnh sẵn trong tâm trí họ, theo thói quen hoặc theo những khuôn mẫu sẵn có, như việc họ bước vào cửa hàng sẽ dễ mua những món đồ bày ở quầy bên phải hơn là bên trái hoặc mua chính túi bột giặt họ đã mua từ những lần trước mà không tính toán cân nhắc nhiều. Và nếu ta là một sản phẩm, một loại hàng hóa còn những ông chủ, những người xung quanh là khách hàng, họ có mua ta ngay khi họ cần hay không? Làm sao để mỗi lần khách hàng của ta cần một phần mềm mới họ lại nghĩ ngay đến ta, hoặc khi họ cần những chương trình quảng cáo thì ta sẽ nằm trong tâm trí họ? Khách hàng cần tổ chức những sự kiện, ta sẽ là người nổi bật nhất trong đó, hoặc họ đã quen với cung cách ứng xử khéo léo và dễ chịu của ta nên họ không nghĩ tới ai khác mỗi lần đi ăn. Ta sẽ là ai trong gia đình mình, nhóm của mình, công ty mình và họ cần điều gì ở mình.

Vì quá trinh định vị dựa theo cơ chế nhận dạng nên ta phải định vị nhân hiệu. Trước tiên ta cần hiểu cơ chế gọi là cơ chế "Nhận dạng và phản xạ", khi đã hiểu cơ chế này rồi ta sẽ xây dựng nhân hiệu của mình theo cơ chế "Định dạng nhân hiệu" để đạt hiệu quả cao nhất.

Nhận dạng và phản xạ

Mỗi người một ngày ta đưa ra tới hơn 50.000 quyết định, ta không thể ngồi cân nhắc thiệt hơn trong từng quyết định của mình như: Lên xe máy thì ngồi ra sao, nổ máy như thế nào, đến đoạn rẽ có bật xinhan hay không, về nhà mình thì đi đường cũ hay tìm một đường mới, đánh răng có cần uống nước trước không, rửa mặt thì rửa ở đâu trước…. Những quyết định đó đều được thực hiện rất nhanh mà không cần tính toán. Tất cả đều là những phản xạ, có điều kiện hoặc không có điều kiện. Phản xạ không điều kiện được gọi là bản năng, còn phản xạ có điều kiện chính là những thói quen, mặc định và chuẩn mực sẵn có trong mỗi người. Khi đã có thói quen, mặc định và chuẩn mực rồi thì ra sẽ hành động rất nhanh theo đó mà không hề có sự suy nghĩ cân nhắc nào. Như việc một người có mặc định "Người ngoài là xấu" thì người đó khi nhận dạng một người là người ngoài gia đình của họ lập tức họ tránh xa hoặc sợ sệt, không dám nói chuyện thoải mái mà không hề cân nhắc có nên hay không. Trong gia đình nếu người vợ có quan điểm "Chồng về khuya là đi chơi bời" thì tất cả những lần chồng về khuya chị ta đều có thói quen tra hỏi hay trì triết và cũng không cân nhắc xem có đúng như vậy hay không.

Continue reading

NHÌN LẠI VẤN ĐỀ HÔN NHÂN QUỐC TẾ THƯƠNG MẠI HÓA GIỮA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC

NGUYỄN NGỌC TUYỀN – Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng

1. Đặt vấn đề
Gần hai mươi năm đã trôi qua kể từ ngày chính phủ hai nước Việt Nam – Hàn Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ (22/12/1992). Trong khoảng thời gian đó, mối quan hệ giữa hai nước đã có những chuyển biến rất sinh động, tích cực và đạt được nhiều thành quả trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kĩ thuật… Trên lĩnh vực kinh tế, các nhà đầu tư, kinh doanh Hàn Quốc đã tìm đến Việt Nam như một thị trường mới mẻ, đầy hứa hẹn. Nắm bắt tiềm năng này, Hàn Quốc đã nhanh chóng trở thành nhà đầu tư và là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam. Đồng thời, trong nhiều năm trở lại đây, Hàn Quốc cũng là thị trường thu hút nhiều lao động xuất khẩu của nước ta. Về mặt văn hóa xã hội, quan hệ trao đổi hợp tác giữa hai nước trên các lĩnh vực văn hóa – giáo dục, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ, mang lại những hiệu quả thiết thực. Làn sóng văn hóa Hàn Quốc (Hallyu) với mục tiêu truyền bá hình ảnh văn hóa Hàn Quốc ra thế giới đã ồ ạt tràn vào Việt Nam và được giới trẻ Việt Nam tiếp nhận mạnh mẽ… Có thể nói, dấu ấn Hàn Quốc để lại đối với xã hội Việt Nam trong gần hai mươi năm quan hệ ngoại giao là rất lớn. Tuy nhiên, trong mối quan hệ này, mặt tốt cũng nhiều, nhưng mặt xấu cũng không ít. Trên thực tế, đi cùng với những thành tựu trong quan hệ giữa hai nước là không ít những vấn đề xã hội nảy sinh và ngày càng trở thành những điểm nóng thu hút sự quan tâm của dư luận Việt Nam, Hàn Quốc. Trong đó, thiết nghĩ vấn đề cấp thiết hơn cả và cần sự quan tâm nhiều hơn từ chính phủ và xã hội hai đất nước chính là vấn đề môi giới hôn nhân quốc tế giữa cô dâu Việt Nam với đàn ông Hàn Quốc.

2. Vài nét về thực trạng môi giới kết hôn thương mại giữa phụ nữ Việt Nam và đàn ông Hàn Quốc

Từ vài năm trở lại đây, thỉnh thoảng báo chí Việt Nam và Hàn Quốc lại gây xôn xao dư luận của hai xã hội với những bài báo viết về những vụ việc đau lòng xảy ra đối với một số cô dâu Việt Nam bất hạnh trên xứ người. Cô dâu Việt Nam tự tử do không tìm được lối thoát cho mình trong cuộc hôn nhân với người chồng Hàn Quốc. Cô dâu Việt Nam bị chồng đánh đập tàn nhẫn đến chết… Trong suốt năm 2008, xã hội Việt Nam lẫn Hàn Quốc đều tỏ ra rất bất bình trước vụ việc cô dâu Việt Nam bị nhà chồng tước  đoạt quyền nuôi con, không cho cô  được tiếp xúc với hai  đứa con của mình ngay sau khi cô sinh xong. Và gần đây nhất là vụ việc cô dâu Thạch Thị Hồng Ngọc đã bị chồng, vốn là người có vấn đề về thần kinh, đâm chết vào ngày 8/7/2010 tại thành phố Busan.

Continue reading

BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI: MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH NHÌN TỪ GÓC ĐỘ PHÁP LÝ ĐẾN THỰC TIỄN

child supportTHS. NGUYỄN THÙY TRANG – Công ty Công nghiệp Hóa chất mỏ – TKV

Về bản chất, bảo đảm tiền vay chỉ là một trong những biện pháp để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ đối với hợp đồng chính, nó không phải là điều kiện bắt buộc, dù có các biện pháp này hay không đều không ảnh hưởng đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên, bên có nghĩa vụ vẫn phải nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ và chịu các biện pháp xử lý về tài sản nếu vi phạm (phong tỏa tài khoản, niêm phong tài sản, bị các cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác để đảm bảo trả nợ, …). Tuy nhiên, để đồng thời đạt được hai mục đích: Phát triển thị trường, khách hàng và bảo đảm an toàn đối với các khoản cho vay, thì việc áp dụng các biện pháp này được xem như công cụ hiệu quả và an toàn đối với các ngân hàng.

Hiện nay, mỗi ngân hàng thương mại hầu như đã xây dựng quy định về các biện pháp bảo đảm tiền vay để áp dụng thống nhất trong toàn hệ thống. Tuy nhiên, trên thực tế, ngay cả các “ông lớn” trong lĩnh vực ngân hàng cũng đã gặp không ít khó khăn, vướng mắc liên quan đến việc xử lý, định giá tài sản bảo đảm dẫn đến việc đưa khoản tín dụng của mình lâm vào tình trạng nợ xấu, nợ khó đòi khi những giao dịch bảo đảm không phát huy giá trị theo đúng nghĩa.

Hệ thống pháp luật nước ta quy định khá cụ thể về các giao dịch bảo đảm, từ Bộ luật Dân sự 2005 đến các văn bản hướng dẫn của Chính phủ, Bộ, ngành liên quan. Điều này xuất phát từ nhu cầu thực tế nhằm tạo ra một hành lang pháp lý bình ổn cho các bên. Song, điều đó không đồng nghĩa với việc, tất cả các hoạt động cấp tín dụng không có điều kiện bảo đảm là trái luật, vì pháp luật dân sự tôn trọng tối đa sự thỏa thuận và quyền tự định đoạt của các bên, luật quy định về các hình thức bảo đảm nhưng không cấm việc giao kết tín dụng không có bảo đảm. Do vậy, khi xem xét có lựa chọn các biện pháp bảo đảm hay không, các bên cần nghiên cứu đồng thời các quy định của pháp luật và Điều lệ cũng như quy định quản lý nội bộ của ngân hàng, vì nếu các quy định của Điều lệ không vi phạm vào điều cấm của pháp luật[1], các bên buộc phải có nghĩa vụ tuân thủ, mà trong trường hợp này, pháp luật không cấm các ngân hàng đề ra các biện pháp bảo đảm tiền vay, vì vậy, nếu quy định nội bộ của ngân hàng yêu cầu bắt buộc phải áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay, thì cán bộ ngân hàng sẽ vi phạm pháp luật nếu cho vay không có bảo đảm.

Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định một số trường hợp cụ thể cho vay không cần có bảo đảm, tôi xin đơn cử một số quy định sau:

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 57 /BXD-QLN NGÀY 14 THÁNG 10 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ VIỆC CHUYỂN NHƯỢNG HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ Ở

Kính gửi:

Công ty cổ phần Xây dựng và Phát triển nhà Hoàng Anh

Bộ Xây dựng nhận được công văn số 105/CV-HA.10 ngày 28/8/2010 của Công ty cổ phần Xây dựng và Phát triển nhà Hoàng Anh (HAGL Land) đề nghị hướng dẫn về việc chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 60 của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở thì những trường hợp tổ chức, cá nhân đã ký hợp đồng góp vốn hoặc hợp đồng hợp tác đầu tư (gọi chung là góp vốn) để được phân chia sản phẩm là nhà ở theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 9 của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP mà sau đó bên tham gia góp vốn có nhu cầu chuyển nhượng lại nhà ở này cho người khác thì bên tham gia góp vốn được quyền trực tiếp ký hợp đồng chuyển nhượng cho bên thứ ba. Việc chuyển nhượng này được thực hiện theo hướng dẫn sau đây:

– Trường hợp là hộ gia đình, cá nhân hoặc tổ chức không có chức năng kinh doanh bất động sản thì thực hiện chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở theo quy định tại khoản 5 Điều 8 và khoản 1 Điều 20 của Thông tư số 16/2010/TT-BXD ngày 01/9/2010 của Bộ Xây dựng quy định cụ thể và hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP;

– Trường hợp là doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản thì thực hiện bán nhà ở theo quy định tại khoản 3 Điều 20 của Thông tư số 16/2010/TT-BXD, doanh nghiệp này chỉ được chuyển nhượng nhà ở cho bên thứ ba sau khi đã thanh toán hết tiền mua nhà ở cho chủ đầu tư hoặc sau khi đã nhận bàn giao nhà ở từ chủ đầu tư. Việc chuyển nhượng nhà ở trong trường hợp này được thực hiện như sau:

+ Nếu doanh nghiệp đã thanh toán hết tiền mua nhà ở nhưng chưa nhận bàn giao nhà ở từ chủ đầu tư thì sau khi hoàn thành thủ tục bán nhà ở qua sàn giao dịch bất động sản theo quy định, doanh nghiệp được ký hợp đồng với tên gọi là hợp đồng chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ mua nhà ở (có các nội dung như văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở nêu tại phụ lục số 14 ban hành kèm theo Thông tư số 16/2010/TT-BXD) với bên nhận chuyển nhượng quyền và nghĩa mua nhà ở, hợp đồng này không phải công chứng, nhưng phải có xác nhận của chủ đầu tư vào hợp đồng, bên chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ mua nhà ở phải nộp nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước theo quy định. Sau khi có xác nhận của chủ đầu tư thì chủ đầu tư sẽ chấm dứt giao dịch với doanh nghiệp (bên chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ mua nhà ở) để giao dịch trực tiếp với bên nhận chuyển nhượng quyền và nghĩa mua nhà ở;

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 76 /BXD-QLN NGÀY 26 THÁNG 11 NĂM 2010 CỦA CỤC QUẢN LÝ NHÀ, BỘ XÂY DỰNG VỀ VIỆC CHUYỂN NHƯỢNG HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ Ở

Kính gửi:

Công ty CP địa ốc Sài Gòn Thương Tín

Ngày 11/11/2010 Công ty CP địa ốc Sài Gòn Thương Tín có văn bản số 544/CV-CSPC đề nghị Bộ Xây dựng hướng dẫn một số vấn đề liên quan đến việc thực hiện Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở và Thông t­ư số 16/2010/TT-BXD ngày 01/9/2010 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thi hành Nghị định này. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 60 của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP và quy định tại khoản 6 Điều 18 của Thông tư­ số 16/2010/TT-BXD, đối với những tr­ường hợp hộ gia đình, cá nhân đã nhận bàn giao nhà ở từ chủ đầu tư­ mà có nhu cầu bán lại nhà ở đó cho ngư­ời khác thì phải có giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu về nhà ở, không áp dụng hình thức chuyển nh­ượng hợp đồng mua bán nhà ở như­ đối với trư­ờng hợp chư­a nhận bàn giao nhà ở từ chủ đầu t­ư.

Quy định nêu trên là phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật Nhà ở, bởi vì tại thời điểm này bên bán đã có nhà ở và các bên đã thực hiện xong hợp đồng mua bán nhà ở (giống như­ tr­ường hợp hộ gia đình, cá nhân đã xây dựng xong nhà ở riêng lẻ theo giấy phép xây dựng, như­ng chủ nhà chư­a có giấy tờ chứng nhận về quyền sở hữu nhà ở), nên chủ nhà muốn bán nhà này thì phải có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu về nhà ở, không thể thực hiện chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở khi các bên đã thực hiện xong hợp đồng này. Mặt khác, tại thời điểm này chủ đầu tư đã gửi hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu về nhà ở đứng tên người mua nhà ở cho cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận, do đó nếu bên có nhà ở thực hiện chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở trong khi cơ quan có thẩm quyền đang làm thủ tục cấp giấy chứng nhận về sở hữu cho họ sẽ tạo ra nhiều thủ tục phức tạp cho việc sang tên chủ sở hữu nhà ở và không đúng với quy định về mua bán nhà ở hiện nay.

Continue reading

NHÀ TRẢ CHẬM – MỘT THỊ TRƯỜNG TIỀM NĂNG

TS. NGUYỄN TẤN VẠNG

Trong những năm gần đây, nền kinh tế VN tăng trưởng rất nhanh và ổn định, GDP bình quân đạt 7- 8%/ năm, nhiều nhà kinh tế nước ngoài xem VN như là một thị trường lớn (hơn 80 triệu dân), đầy tiềm năng trong khu vực và thế giới. Đời sống người dân cũng không ngừng được nâng cao (thu nhập bình quân đầu người tăng xấp xỉ 5 lần so với năm 1985). Theo đó, ngành vật liệu xây dựng cũng tăng trưởng một cách tỉ lệ, bình quân 10%/ năm (tăng gấp 5 lần so với năm 1997). Theo đánh giá của Vụ quản lý vật liệu, Bộ xây dựng, thì nhu cầu của ngành hàng này sẽ đạt gấp đôi trong 5 năm tới và tăng từ 4 – 7 lần đến năm 2020.

Nhu cầu của thị trường

Để không ngừng kích cầu, tăng nhanh doanh số tiêu thụ hàng hóa, một vấn đề nổi bật nhất trên thị trường trong thời gian gần đây là Mua- Bán hàng hóa trả chậm. Mở đầu cho sự ra mắt loại hình kinh doanh độc đáo này (mặc dù trên thế giới đã có từ nhiều thập kỷ nay) chúng ta không thể quên công lao của các đại gia trong làng vận chuyển, lúc đầu là ô tô du lịch, sau đến là xe tải các loại. Không lâu sau đó là hàng loạt các mặt hàng tiêu dùng khác, từ những chiếc xe gắn máy đắt tiền (hàng trăm triệu đồng) cho đến những vật dụng giá mềm hơn như: máy điều hòa, máy giặt, máy vi tính, thậm chí đến cả bàn ghế, giường tủ, ti vi…..Nổi bật và mang tính xã hội cao nhất trong làn sóng trả chậm đó là “Xây dựng nhà trả chậm”- một mô hình cải tiến từ sự học hỏi của các nhà kinh doanh bất động sản nước ngoài (bán nhà, chung cư trả góp). Quả thật, với sự ra đời của loại hình kinh doanh này đã nhận được sự đồng tình cao của xã hội, cũng như sự ủng hộ lập tức từ các cơ quan chức năng. Hãy thử làm một phép tính nhỏ, chúng ta có thể thấy ngay được tính xã hội, nhu cầu có thật, cũng như sự đóng góp to lớn của loại hình kinh doanh này vào tốc độ phát triển của ngành vật liệu xây dựng, nói riêng, mang lại bộ mặt mỹ quan mới cho xã hội, góp phần vào sự phát triển kinh tế đất nước, nói chung.

Cụ thể, chỉ tính riêng phạm vi TP.HCM (diện tích gần 2.095 km2, (trong đó có 19 quận nội thành, 5 huyện ngoại thành, mật độ dân cư bình quân là 3,340 người/ km2 (ở những khu vực trung tâm đã lên đến 10.600 người/ km2) [1] , cao hơn nhiều so với một số thành phố lớn trên thế giới như: Fukuoka của Nhật 4.084 người/ km2 , Tokyo 5.570 người/ km2 , ngay cả New Yorktrung tâm tài chính lớn nhất của Mỹ cũng chỉ đến 9.000 người/ km2 [2] . Thêm nữa, dân số thành phố đã không ngừng tăng trưởng từ 6,06 triệu người (năm 2004) đã lên đến gần 7 triệu người (năm 2006); trong đó, số người trong độ tuổi 18- 30 chiếm đến gần 50% (gần 3,5 triệu người- có nhu cầu về nhà ở rất lớn), tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trên 13% [3] . Bên cạnh đó là hàng trăm dự án qui hoạch đô thị, khu dân cư đã và đang được triển khai ở các quận, huyện vành đai thành phố: quận 2, quận 7, quận 8, quận 9, Bình Chánh, ….với hàng triệu nền nhà mà không ít những chủ nhân của nó đã cạn nguồn tài chính sau khi đã trút ống cho những mảnh đất vàng này! Đây cũng là một đối tượng khách hàng đầy tiềm năng, nguồn thu nhập ổn định, có tính an toàn cao về tài sản đảm bảo (quyền sử dụng đất của chính nền nhà đó).

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 07/BTP-TTR NGÀY 07 THÁNG 01 NĂM 2011 CỦA THANH TRA BỘ TƯ PHÁP HƯỚNG DẪN NGHIỆP VỤ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Kính gửi:

Thanh tra Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre

Phúc đáp công số: 89/CV-TTr ngày 26 tháng 11 năm 2010 của Thanh tra Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre V/v xin ý kiến về những vướng mắc qua việc triển khai thực hiện xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp theo Nghị định 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tư pháp, sau khi nghiên cứu, Thanh tra Bộ có ý kiến như sau:

1. Về trường hợp thứ nhất

Theo quy định tại Điều 14 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký quản lý hộ tịch quy định: “ Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em.”. Như vậy, Nghị định không quy định việc trẻ em sống với ai thì người đó phải có trách nhiệm đi khai sinh cho trẻ. Việc xác định người có trách nhiệm đi khai sinh cho trẻ em khi cha, mẹ không thể đi khai sinh, không dựa trên cơ sở xác định trẻ phải sống với ai mà dựa trên cơ sở vận dụng các quy định về quan hệ giữa ông, bà với cháu hoặc những thân thích theo quy định của Bộ Luật Dân sự và Luật Hôn nhân và gia đình. Do vậy, Nếu trong thời hạn 60 ngày, các chủ thể trên không đi đăng ký khai sinh cho trẻ thì phải làm thủ tục đăng ký khai sinh quá hạn.

2. Trường hợp thứ hai

Tại Điều 20 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP về thời hạn đi khai tử và trách nhiệm khai tử đã quy định:

“ 1. Thời hạn đi khai tử là 15 ngày, kể từ ngày chết.

2. Thân nhân của người chết có trách nhiệm đi khai tử; nếu người chết không có thân nhân, thì chủ nhà hoặc người có trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, nơi người đó cư trú hoặc công tác trước khi chết đi khai tử.”.

Theo đó, thì thân nhân của người chết phải có trách nhiệm đi khai tử cho người đã chết, thân nhân ở đây được hiểu là những người có quan hệ thuyết thống( ông, bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái) hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh quyền và nghĩa vụ. Như vậy, trong trường hợp này các con trong gia đình tuy đã trưởng thành vẫn phải là người có trách nhiệm đi khai tử cho người (cha) hoặc người (mẹ) của mình.

Continue reading