TẾT DÂN TỘC NGHĨ VỀ DÂN TỘC

THANH GIANG

Từ xưa đến nay, người Việt Nam dù giàu dù nghèo ai cũng có thói quen lo Tết. Người giàu ăn Tết theo kiểu người giàu, người nghèo ăn Tết theo kiểu người nghèo nhưng chưa chắc ai ăn Tết vui hơn. Năm nào cũng vậy, còn khá lâu mới đến Tết nhưng ai nấy đều đã nghĩ về Tết. Trước hết là những người lo Tết cho các chiến sĩ ở biên cương, hải đảo, là ngành giao thông vận tải lo chuyên chở khách đi lại. Những người sản xuất và buôn bán hàng Tết lo sớm nhất. Sắp đến ngày cuối năm, đường phố đầy người lo sắm Tết, cửa hàng đông khách hơn, quầy bán hàng Tết dần dần xuất hiện khắp nơi…

Tính dân tộc hiện lên đậm nét nhất trong mấy ngày Tết. Từ thú ăn đến thú chơi, thú mua sắm, Tết Ta khác xa Tết Tây. Bữa ăn sum họp gia đình tối 30, mâm cơm cúng ông bà, lời khấn trước bàn thờ tổ tiên, lời chào hỏi chúc tụng nhau ngày Tết…đều khác với ngày thường. Du khách Tây muốn tìm hiểu Việt Nam thường đến nước ta vào dịp Tết.

Trong dịp đón mùa xuân mới, mọi người nghĩ đến gia đình một phần thì nghĩ tới nước nhà mười phần. Suy nghĩ ấy tăng dần bởi vận mệnh dân tộc ta đang đứng trước những thách thức lớn trong, ngoài nước; tình hình kinh tế xã hội đang có những thách thức. Thách thức quả là nhiều và đáng ngại, khiến lòng dân phải lo, nỗi lo dân tộc có thể bị tụt hậu, lo cho biên cương tổ quốc, nạn tham nhũng lan tràn, môi trường sống bị thu hẹp, sự phân hoá giàu nghèo tăng dần…

Trên diễn đàn của báo chí, của nhân dân, nhiều bạn đang thảo luận nghiêm túc những câu hỏi về nguyên nhân vì sao nước ta tụt lại đàng sau một số nước láng giềng thời xưa cũng nghèo như ta, về thời cơ, thách thức của dân tộc.

Chúng ta dễ dàng nhất trí trong đánh giá tình hình và nỗi lo ngại tụt hậu, nhưng điều quan trọng lại là tìm ra nguyên nhân và cách giải quyết.

Có người nói đó là do cơ chế. Có người nói đó là do đạo đức xã hội xuống cấp. Có người đổ lỗi cho các thế lực thù địch bên ngoài…Nhưng bình tâm suy nghĩ kỹ ta sẽ có thể thấy một trong các nguyên nhân sâu xa nhất làm cho tình hình kinh tế xã hội nước ta khó khăn như hiện nay là do tinh thần dân tộc của chúng ta ngày càng phai nhạt. “Chúng ta” ở đây là bạn và tôi, là tất cả mọi người từ lãnh đạo tới dân thường. Đừng đổ lỗi cho ai khác.

Continue reading

TRANH CHẤP MUA BÁN VÀNG TRÊN SÀN: KHÓ XỬ!

HOÀNG YẾN

Hai vụ án có nội dung y hệt nhau, chỉ khác tên, địa chỉ của bị đơn và số tiền phải trả nhưng cấp phúc thẩm giải quyết theo hai hướng…

Năm 2007, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) đưa ra hình thức đầu tư kinh doanh vàng. Theo đó, người tham gia đầu tư vàng trực tiếp ký các hợp đồng giao dịch vàng kiêm hợp đồng cấp tín dụng hạn mức và hợp đồng cầm cố số dư tài khoản VNĐ/vàng. ACB sẽ cung cấp hạn mức tín dụng cho người tham gia đầu tư. Người tham gia đầu tư trực tiếp giao dịch, đặt lệnh mua bán tại trung tâm giao dịch vàng thông qua đại diện của ACB ở đó. Người tham gia đầu tư phải nộp một khoản tiền ký quỹ trên tài khoản và lỗ lãi khi mua bán vàng trên sàn được khấu trừ vào tài khoản.

Hai vụ tương tự, hai hướng giải quyết

Năm 2008, Công ty TNHH Đông Dương đã ủy quyền cho 22 cá nhân là nhân viên công ty trực tiếp ký kết, thực hiện việc giao dịch vàng. Trong đó, có bảy trường hợp có số dư nợ nhưng không thanh toán cho ACB nên bị ACB khởi kiện ra TAND TP Hà Nội.

Tháng 9-2009, TAND TP Hà Nội xử vụ đầu tiên giữa ACB với ông TĐM, nhân viên Đông Dương. Tòa xác định Đông Dương là bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vì đã ủy quyền cho ông M. giao dịch trên sàn vàng, nhân danh công ty mở tài khoản cá nhân và thực hiện các giao dịch dưới sự chỉ đạo, kiểm soát của công ty. Tòa xác định hợp đồng giao dịch có hiệu lực và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ACB, buộc ông M. cùng Đông Dương liên đới trả cho ngân hàng số dư nợ. Sau đó, ông M. và Đông Dương kháng cáo. Tháng 4-2010, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội đã hủy bản án sơ thẩm với lý do cần bổ sung người tham gia tố tụng.

Tháng 2-2010, TAND TP Hà Nội xử vụ thứ hai giữa ACB với bà NTVA, nhân viên Công ty Đông Dương và cũng ra phán quyết tương tự như trên. Tháng 8-2010, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội xử phúc thẩm lại không hủy án mà chỉ sửa án sơ thẩm. Tòa phúc thẩm cho rằng hợp đồng giao dịch vàng giữa ACB và bị đơn là vô hiệu vì hình thức kinh doanh giao dịch trên sàn vàng là hình thức kinh doanh mới, cần phải có giấy phép hoạt động. Việc ACB kinh doanh giao dịch vàng trên sàn là chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép cho hoạt động.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ (CISG)

CỔNG THÔNG TIN PHÁP LUẬT, BỘ CÔNG THƯƠNG – Hiện nay, sự tồn tại của CISG được giới luật sư trong lĩnh vực thương mại quốc tế biết đến khá rộng rãi. Tuy nhiên, khuynh hướng loại trừ không áp dụng Công ước này đặc biệt trong thương mại hàng hóa vẫn tồn tại. Có ba lý do thường được đưa ra để giải thích cho khuynh hướng này. Thứ nhất, mặc dù CISG được biết đến khá rộng rãi thì mức độ am hiểu về việc áp dụng và chức năng của Công ước trên thực tế vẫn rất thấp. Các luật sư vẫn ưa chuộng luật trong nước của họ hơn theo thói quen. Thứ hai, bất cứ khi nào một bên trong hợp đồng có ưu thế cho phép thì bên đó thường thích sử dụng luật của nước mình hơn áp dụng cho hợp đồng. Thứ ba, các bên vẫn chưa bị thuyết phục về lợi ích của CISG so với các luật trong nước về hợp đồng. Tuy nhiên, những lập luận này không có tính thuyết phục vì một số lí do sau đây

Mặc dù hiện nay tại các nước phương tây và các nước công nghiệp hóa, các bên được tự do để chọn luật áp dụng cho hợp đồng của họ thì điều này lại không đúng ở phần còn lại của thế giới. Nhiều nước đang phát triển và các nước chuyển đổi e ngại dành cho các thương nhân phương tây quá nhiều lợi thế dẫn đến việc từ chối công nhận các điều khoản chọn luật. Ví dụ ở Brazil, giá trị pháp lý của các điều khoản chọn luật được bàn cãi nhiều hơn hết. Do đó, người mua từ Hoa Kỳ nhận hàng hóa từ người bán Brazil và tự tin giao kết trên cơ sở Luật Thương mại mẫu của Hoa Kỳ có thể bị rơi vào tình trạng rất rủi ro khi cố gắng kiện người bán ở các tòa án Brazil nơi áp dụng luật Brazil đối với hợp đồng mua bán. Điều này dễ dẫn tới tình trạng một bên phải đương đầu với một luật khó có khả năng dự đoán và thậm chí khó hiểu hoặc tiếp cận.

Bên cạnh đó, nếu điều khoản chọn luật được thừa nhận thì việc một bên yêu cầu áp dụng luật của nước mình có thể vẫn gặp phải những trở ngại đáng kể khi kiện ra tòa án của một nước khác. Đầu tiên, luật được chọn phải được chứng minh tại tòa. Điều này bao hàm việc dịch các đạo luật và các văn bản pháp lý khác như các quyết định của tòa án, các bài nghiên cứu sang ngôn ngữ của tòa. Đồng thời việc yêu cầu tư vấn chuyên gia cũng rất cần thiết. Ở một số nước các chuyên gia có thể do tòa chỉ định, trong khi ở nhiều nước khác một bên phải tự đề cử chuyên gia của mình. Chúng ta đều biết rằng tất cả những việc này đều rất tốn kém. Thậm chí nếu một bên có ý thức chịu mọi chi phí để chứng minh luật nước mình tại tòa, họ vẫn sẽ phải đối mặt với sự khó dự đoán liên quan đến việc giải thích và áp dụng luật này bởi tòa án nước ngoài và đôi khi là sự sai lệch hoàn toàn. Tất nhiên càng ngày càng có nhiều tranh chấp về luật mua bán hàng hóa quốc tế không bị kiện ra các tòa án quốc gia mà thường được giải quyết bởi trọng tài thương mại quốc tế. Vấn đề chứng minh luật trong nước và bản dịch của nó vẫn cần thiết khi luật này không thể tiếp cận được bằng tiếng Anh. Trong hoàn cảnh này, làm thế nào để các trọng tài – những người đến từ các hệ thống pháp luật khác nhau có thể áp dụng luật của một nước khác.

Continue reading