NHÀ TRẢ CHẬM – MỘT THỊ TRƯỜNG TIỀM NĂNG

TS. NGUYỄN TẤN VẠNG

Trong những năm gần đây, nền kinh tế VN tăng trưởng rất nhanh và ổn định, GDP bình quân đạt 7- 8%/ năm, nhiều nhà kinh tế nước ngoài xem VN như là một thị trường lớn (hơn 80 triệu dân), đầy tiềm năng trong khu vực và thế giới. Đời sống người dân cũng không ngừng được nâng cao (thu nhập bình quân đầu người tăng xấp xỉ 5 lần so với năm 1985). Theo đó, ngành vật liệu xây dựng cũng tăng trưởng một cách tỉ lệ, bình quân 10%/ năm (tăng gấp 5 lần so với năm 1997). Theo đánh giá của Vụ quản lý vật liệu, Bộ xây dựng, thì nhu cầu của ngành hàng này sẽ đạt gấp đôi trong 5 năm tới và tăng từ 4 – 7 lần đến năm 2020.

Nhu cầu của thị trường

Để không ngừng kích cầu, tăng nhanh doanh số tiêu thụ hàng hóa, một vấn đề nổi bật nhất trên thị trường trong thời gian gần đây là Mua- Bán hàng hóa trả chậm. Mở đầu cho sự ra mắt loại hình kinh doanh độc đáo này (mặc dù trên thế giới đã có từ nhiều thập kỷ nay) chúng ta không thể quên công lao của các đại gia trong làng vận chuyển, lúc đầu là ô tô du lịch, sau đến là xe tải các loại. Không lâu sau đó là hàng loạt các mặt hàng tiêu dùng khác, từ những chiếc xe gắn máy đắt tiền (hàng trăm triệu đồng) cho đến những vật dụng giá mềm hơn như: máy điều hòa, máy giặt, máy vi tính, thậm chí đến cả bàn ghế, giường tủ, ti vi…..Nổi bật và mang tính xã hội cao nhất trong làn sóng trả chậm đó là “Xây dựng nhà trả chậm”- một mô hình cải tiến từ sự học hỏi của các nhà kinh doanh bất động sản nước ngoài (bán nhà, chung cư trả góp). Quả thật, với sự ra đời của loại hình kinh doanh này đã nhận được sự đồng tình cao của xã hội, cũng như sự ủng hộ lập tức từ các cơ quan chức năng. Hãy thử làm một phép tính nhỏ, chúng ta có thể thấy ngay được tính xã hội, nhu cầu có thật, cũng như sự đóng góp to lớn của loại hình kinh doanh này vào tốc độ phát triển của ngành vật liệu xây dựng, nói riêng, mang lại bộ mặt mỹ quan mới cho xã hội, góp phần vào sự phát triển kinh tế đất nước, nói chung.

Cụ thể, chỉ tính riêng phạm vi TP.HCM (diện tích gần 2.095 km2, (trong đó có 19 quận nội thành, 5 huyện ngoại thành, mật độ dân cư bình quân là 3,340 người/ km2 (ở những khu vực trung tâm đã lên đến 10.600 người/ km2) [1] , cao hơn nhiều so với một số thành phố lớn trên thế giới như: Fukuoka của Nhật 4.084 người/ km2 , Tokyo 5.570 người/ km2 , ngay cả New Yorktrung tâm tài chính lớn nhất của Mỹ cũng chỉ đến 9.000 người/ km2 [2] . Thêm nữa, dân số thành phố đã không ngừng tăng trưởng từ 6,06 triệu người (năm 2004) đã lên đến gần 7 triệu người (năm 2006); trong đó, số người trong độ tuổi 18- 30 chiếm đến gần 50% (gần 3,5 triệu người- có nhu cầu về nhà ở rất lớn), tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trên 13% [3] . Bên cạnh đó là hàng trăm dự án qui hoạch đô thị, khu dân cư đã và đang được triển khai ở các quận, huyện vành đai thành phố: quận 2, quận 7, quận 8, quận 9, Bình Chánh, ….với hàng triệu nền nhà mà không ít những chủ nhân của nó đã cạn nguồn tài chính sau khi đã trút ống cho những mảnh đất vàng này! Đây cũng là một đối tượng khách hàng đầy tiềm năng, nguồn thu nhập ổn định, có tính an toàn cao về tài sản đảm bảo (quyền sử dụng đất của chính nền nhà đó).

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 07/BTP-TTR NGÀY 07 THÁNG 01 NĂM 2011 CỦA THANH TRA BỘ TƯ PHÁP HƯỚNG DẪN NGHIỆP VỤ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Kính gửi:

Thanh tra Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre

Phúc đáp công số: 89/CV-TTr ngày 26 tháng 11 năm 2010 của Thanh tra Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre V/v xin ý kiến về những vướng mắc qua việc triển khai thực hiện xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp theo Nghị định 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tư pháp, sau khi nghiên cứu, Thanh tra Bộ có ý kiến như sau:

1. Về trường hợp thứ nhất

Theo quy định tại Điều 14 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký quản lý hộ tịch quy định: “ Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em.”. Như vậy, Nghị định không quy định việc trẻ em sống với ai thì người đó phải có trách nhiệm đi khai sinh cho trẻ. Việc xác định người có trách nhiệm đi khai sinh cho trẻ em khi cha, mẹ không thể đi khai sinh, không dựa trên cơ sở xác định trẻ phải sống với ai mà dựa trên cơ sở vận dụng các quy định về quan hệ giữa ông, bà với cháu hoặc những thân thích theo quy định của Bộ Luật Dân sự và Luật Hôn nhân và gia đình. Do vậy, Nếu trong thời hạn 60 ngày, các chủ thể trên không đi đăng ký khai sinh cho trẻ thì phải làm thủ tục đăng ký khai sinh quá hạn.

2. Trường hợp thứ hai

Tại Điều 20 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP về thời hạn đi khai tử và trách nhiệm khai tử đã quy định:

“ 1. Thời hạn đi khai tử là 15 ngày, kể từ ngày chết.

2. Thân nhân của người chết có trách nhiệm đi khai tử; nếu người chết không có thân nhân, thì chủ nhà hoặc người có trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, nơi người đó cư trú hoặc công tác trước khi chết đi khai tử.”.

Theo đó, thì thân nhân của người chết phải có trách nhiệm đi khai tử cho người đã chết, thân nhân ở đây được hiểu là những người có quan hệ thuyết thống( ông, bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái) hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh quyền và nghĩa vụ. Như vậy, trong trường hợp này các con trong gia đình tuy đã trưởng thành vẫn phải là người có trách nhiệm đi khai tử cho người (cha) hoặc người (mẹ) của mình.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 89/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 11 THÁNG 01 NĂM 2011 CỦA BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ TRỢ CẤP THÔI VIỆC, MẤT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

Kính gửi:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Kon Tum

Trả lời công văn số 1136/SLĐTBXH-LĐTL ngày 30/11/2010 của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Kon Tum về trợ cấp thôi việc, mất việc làm cho người lao động từ công ty nhà nước chuyển sang công ty cổ phần, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Theo quy định tại khoản 8 Điều 36 Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần thì sau khi công ty nhà nước chuyển thành công ty cổ phần, trường hợp người lao động bị mất việc, thôi việc trong thời gian từ năm thứ 2 đến hết năm thứ 5 kể từ ngày chuyển thành công ty cổ phần thì công ty cổ phần có trách nhiệm thanh toán 50% tổng mức trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc theo quy định của Bộ luật Lao động, số còn lại được thanh toán từ tiền thu của Nhà nước do cổ phần hóa công ty nhà nước quy định tại Điều 35 Nghị định 187/2004/NĐ-CP. Hết thời hạn trên, công ty cổ phần chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ trợ cấp cho người lao động.

2. Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về việc làm thì: "Thời gian để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian làm việc thực tế cho người sử dụng lao động đó đến khi bị mất việc làm. Trường hợp, người lao động trước đó có thời gian làm việc ở khu vực nhà nước mà chưa được nhận trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm, thì thời gian đó chỉ được tính để nhận trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Lao động". Theo đó, người lao động làm việc ở công ty nhà nước, sau đó tiếp tục chuyển sang làm việc ở công ty cổ phần và bị mất việc làm ở công ty cổ phần thì thời gian làm việc tại các công ty nhà nước được tính trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động và Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp.

Continue reading

TÌNH CẢM ĐẤT

THU SAN & NGUYỄN THẾ HÙNG

1. Trí nhớ và tình cảm cộng đồng

Đời người trăm năm là dài. Nhưng những năm cuối đời thường ít người còn khỏe mạnh cả về sức lực thể chất lẫn tinh thần. Vì vậy, khi về già sự minh mẫn cũng giảm. Người già thường hay quên. Có một số cụ bị lẫn, thậm chí không nhớ được tên người thân nữa. Cho nên, có thể nói trí nhớ cá nhân rất hạn hẹp, chỉ mạnh mẽ trong khoảng trăm năm là cùng. Trong khi đó, trí nhớ của gia tộc thì dài hơn. Có lẽ được 5-6 thế hệ. Thật vậy, ít người có thể biết và nhớ được hành trạng của cụ tổ 5 đời nhà mình, ngay cả những gia tộc lớn, có ghi chép gia phả đầy đủ cũng vậy.

Ngược lại, trí nhớ cộng đồng thì dài lâu và có thể xem như trường tồn. Thực vậy, bất kỳ người Việt nào cũng biết các vua Hùng có công dựng nước. Đó là sự kiện của bốn ngàn năm trước. Những sự kiện ngàn năm về Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lý Công Uẩn,… vẫn mãi mãi sống trong tâm trí mọi con dân Việt nam. Do vậy, có thể khẳng khái kết luận rằng trí nhớ của cộng đồng dân tộc là một trí nhớ vĩnh hằng. Một người có thể quên điều này điều nọ, nhưng cả dân tộc thì không thể quên. Tuy vậy, trí nhớ dân tộc cũng hay tập trung vào những sự kiện lớn, mà thường quên những sự kiện nhỏ. Nhớ chuyện lớn, quên chuyện nhỏ cũng là điều bình thường.

2. Tình cảm đối với đất

Gần đây, trong khi chuẩn bị Đại Hội Đảng 11, Đài truyền hình chiếu phim Bí thư tỉnh ủy. Đó là sự quay về của trí nhớ dân tộc đối với một cá nhân đặc biệt, Ông Kim Ngọc, người có công đầu trong sự nghiệp đổi mới. Ngoài dòng tư tưởng chủ đạo, bộ phim còn nói về tình cảm của con người đối với đất. Quả vậy, sau cuộc cách mạng năm 1945, nhân dân Việt nam (đặc biệt là nông dân) đã trải qua rất nhiều cung bậc tình cảm đới với đất.

Tình cảm hồ hởi: cải cách ruộng đất 1953

Tình cảm sợ hãi: các cuộc đấu tố sau cải cách ruộng đất

Tình cảm luyến tiếc: vận động đưa đất vào HTX những năm 1960

Tình cảm hờ hững: đất đã trở thành tài sản chung của HTX, nông dân chỉ còn 5%.

Continue reading

TỪ CÔNG HỮU VÔ CHỦ ĐẾN LỢI ÍCH NHÓM

image TRẦN TRỌNG THỨC

Dưới tác động của kinh tế thị trường và chủ trương phân cấp quản lý, tình trạng công hữu vô chủ diễn ra ngày càng phong phú với việc phân lô đất cho các dự án hay đấu thầu những khu đất vàng ở các đô thị. Nhờ vậy một số cá nhân có thế lực đã trục lợi qua việc biến tài sản chung thành sở hữu riêng.

Vào buổi bình minh của kinh tế thị trường ở nước ta, một số nhà phân tích tình hình đã đưa ra khái niệm "công hữu vô chủ" để mô tả tình trạng tài sản thuộc về sở hữu chung (sở hữu toàn dân) nhưng xem ra không có ai làm chủ. Hay nói cách khác, khi tài sản công đã vào tay một cơ quan, một cá nhân có quyền lực thì người ta tự cho mình quyền xử lý nó một cách vô nguyên tắc.

Tình trạng này được thể hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau, ngày càng thiên biến vạn hóa, nhưng có cùng điểm xuất phát là khái niệm làm chủ chung chung tồn tại từ thời kỳ bao cấp, dẫn đến những lạm dụng trong việc sung dụng tài nguyên mà đích đến cuối cùng là biến của chung thành của riêng. Người hưởng lợi từ tình trạng công hữu vô chủ ban đầu chỉ là những cá nhân đơn lẻ hoặc vài cơ quan nhà nước, đến nay thì đã trở thành đặc quyền của các nhóm lợi ích.

Nhiều năm trước, lợi dụng tình hình tranh tối tranh sáng trong việc quản lý tài sản công, không ít đơn vị được nhà nước giao quyền quản lý công sở, nhà xưởng, mặt bằng đã tự ý cho thuê, hay chuyển một phần diện tích sang làm nhà ở hoặc bỏ hoang. Một báo cáo của Sở Tài nguyên – Môi trường Hà Nội năm 2006 cho thấy có tới 422 điểm nhà đất với hơn hai triệu mét vuông do các doanh nghiệp thuộc trung ương quản lý sử dụng sai mục đích, trong đó đa số là cho thuê kiếm chênh lệch hoặc bỏ hoang, chưa sử dụng.

Thời kỳ tiếp theo, công hữu vô chủ biểu hiện qua việc lợi dụng những chủ trương đúng đắn của nhà nước như hoá giá nhà hay cổ phần hóa doanh nghiệp để trục lợi, biến tài sản chung thành sở hữu riêng. Biết bao nhiêu căn nhà đã được "bán rẻ như cho", biết bao nhiêu công ty quốc doanh được định giá thấp đến mức bất ngờ, gây thất thoát lớn tài sản quốc gia và làm giàu cho những kẻ cơ hội.

Những năm gần đây, dưới tác động của kinh tế thị trường và chủ trương phân cấp quản lý, tình trạng công hữu vô chủ diễn ra ngày càng phong phú với việc phân lô đất cho các dự án hay đấu thầu những khu đất vàng ở các đô thị. Phân lô là hành vi thể hiện quyền lực và chỉ những tổ chức quyền lực mới có thể biến công hữu thành tư hữu; còn đấu thầu khu đất vàng có khi lại là biểu hiện sức mạnh của đồng tiền cùng các mối quan hệ thân quen.

Continue reading

KINH NGHIỆM CỦA DOANH NGHIỆP VÀ QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

image GS. BRUCE A. BLONIGEN – Khoa Kinh tế thuộc Đại học Oregon, chuyên gia nghiên cứu của NBER, Cộng tác viên của Trung tâm Nghiên cứu Toàn cầu hóa và Chính sách Kinh tế Leverhulme (GEP)

Giới thiệu

Điều tra chống bán phá giá (AD) bắt đầu khi có đơn kiện của một bên trong nước có liên quan. Đây là một nhà sản xuất điển hình (hoặc một nhóm nhà sản xuất) mà sản phẩm của họ đang cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu là đối tượng của cuộc điều tra. Sau đó cơ quan có thẩm quyền điều tra sẽ xác định thực sự có bán phá giá hay không, bán phá giá được định nghĩa là việc doanh nghiệp nước ngoài bán sản phẩm với giá thấp hơn giá công bằng hay giá thông thường, và liệu những hành động thương mại như vậy có gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa trong vụ kiện hay không. Nếu những tiêu chuẩn này thoả mãn, một mức thuế chống bán phá giá tương đương với biên độ phá giá đã tính toán sẽ được áp dụng với các sản phẩm nhập khẩu. Ở Hoa Kỳ, việc tính toán biên độ phá giá do Cục Thương mại Quốc tế của Bộ Thương mại Hoa Kỳ (USDOC) tiến hành, và Uỷ ban Thương mại Quốc tế (USITC) sẽ xác định tổn thất.

Có sự tác động qua lại rất lớn giữa những người đệ đơn kiện và cơ quan có thẩm quyền điều tra chống bán phá giá ở Hoa Kỳ. Bên đệ đơn phải trình cho cơ quan có thẩm quyền một đơn kiện phù hợp về trường hợp mà họ muốn điều tra và sau đó cung cấp đầy đủ thông tin cũng như các phân tích và lý lẽ pháp lý trong suốt quá trình điều tra. Các thông tin chi tiết về luật pháp cũng như cách thức mà các cơ quan của chính phủ áp dụng luật trong các trường hợp thực tế là rất quan trọng. Sự phức tạp của việc kiện tụng và quá trình đưa ra biện pháp chống bán phá giá cho thấy rằng việc các bên đệ đơn có kinh nghiệm hay có ý thức học hỏi đóng một vai trò quan trọng trong quá trình kiện và kết quả của vụ kiện chống bán phá giá. Đặc biệt, người ta cho rằng các kinh nghiệm sẵn có làm giảm chi phí kiện về sau và đồng thời cũng làm tăng ảnh hưởng của những người đệ đơn khi họ tranh cãi về vụ kiện và có nhiều khả năng thu được kết quả có lợi hơn. Việc nhận thức về những tác động như vậy rõ ràng thúc đẩy việc đệ đơn nhưng tác động của nó đến kết quả vụ kiện còn rất mơ hồ như chúng ta xem xét chi tiết ở phần tiếp theo. Mặc dù việc học hỏi có thể làm tăng khả năng đưa ra phán quyết có lợi ở những vụ kiện này, nhưng người ta lại coi trọng chi phí kiện thấp hơn là những tác động như vậy nên họ thường sẽ lựa chọn các vụ kiện thiếu lý lẽ hơn.

Continue reading