Về tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam SAU GẦN 5 NĂM THÍ ĐIỂM HOẠT ĐỘNG

TS. ĐINH LA THĂNG – Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam

Thực hiện thí điểm hoạt động các tập đoàn kinh tế trong gần 5 năm qua là đưa Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa IX của Đảng vào cuộc sống. Tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện mô hình này là đòi hỏi khách quan và thực tiễn để xây dựng những tập đoàn kinh tế mạnh ở Việt Nam đủ sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế, thực hiện tốt mục tiêu bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chủ trương phát triển các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3(khóa IX) có nêu: Hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối lớn trong nền kinh tế quốc dân, có quy mô rất lớn về vốn, hoạt động cả trong nước và ngoài nước, có trình độ công nghệ cao và quản lý hiện đại, đào tạo, nghiên cứu triển khai với sản xuất kinh doanh. Thí điểm hình thành tập đoàn kinh tế trong một số lĩnh vực có điều kiện, có thế mạnh, có khả năng phát triển để cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả như: dầu khí, viễn thông, điện lực, xây dựng…

Triển khai thực hiện Nghị quyết trên, Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng thí điểm mô hình tập đoàn kinh tế từ đầu năm 2005 nhằm thực hiện các mục tiêu: 1 – Tập trung đầu tư và huy động các nguồn lực hình thành nhóm công ty có quy mô lớn trong các ngành, lĩnh vực then chốt, phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế; 2 – Bảo đảm các cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân, ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển cho các ngành, các lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế; thúc đẩy liên kết trong chuỗi giá trị gia tăng, phát triển các thành phần kinh tế khác; 3 – Tăng cường quản lý, giám sát có hiệu quả đối với vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp trong tập đoàn; 4 – Tạo cơ sở để hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về tập đoàn kinh tế.

Continue reading

VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM SAU GẦN 5 NĂM THÍ ĐIỂM HOẠT ĐỘNG

TS. ĐINH LA THĂNG – Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam

Thực hiện thí điểm hoạt động các tập đoàn kinh tế trong gần 5 năm qua là đưa Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa IX của Đảng vào cuộc sống. Tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện mô hình này là đòi hỏi khách quan và thực tiễn để xây dựng những tập đoàn kinh tế mạnh ở Việt Nam đủ sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế, thực hiện tốt mục tiêu bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chủ trương phát triển các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3(khóa IX) có nêu: Hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối lớn trong nền kinh tế quốc dân, có quy mô rất lớn về vốn, hoạt động cả trong nước và ngoài nước, có trình độ công nghệ cao và quản lý hiện đại, đào tạo, nghiên cứu triển khai với sản xuất kinh doanh. Thí điểm hình thành tập đoàn kinh tế trong một số lĩnh vực có điều kiện, có thế mạnh, có khả năng phát triển để cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả như: dầu khí, viễn thông, điện lực, xây dựng…

Triển khai thực hiện Nghị quyết trên, Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng thí điểm mô hình tập đoàn kinh tế từ đầu năm 2005 nhằm thực hiện các mục tiêu: 1 – Tập trung đầu tư và huy động các nguồn lực hình thành nhóm công ty có quy mô lớn trong các ngành, lĩnh vực then chốt, phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế; 2 – Bảo đảm các cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân, ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển cho các ngành, các lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế; thúc đẩy liên kết trong chuỗi giá trị gia tăng, phát triển các thành phần kinh tế khác; 3 – Tăng cường quản lý, giám sát có hiệu quả đối với vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp trong tập đoàn; 4 – Tạo cơ sở để hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về tập đoàn kinh tế.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PL VỀ XÁC LẬP QUYỀN ĐỐI VỚI TÀI SẢN: HAI CON GẤU NGỰA “LÀM RỐI” CƠ QUAN NHÀ NƯỚC!

CẨM TÚ

Chủ gấu bị cưỡng chế thu hồi đất “làm ngơ” hai con gấu, quận phải gửi cho Thảo Cầm Viên nuôi hộ. Thảo Cầm Viên chịu hết xiết đòi trả lại thì quận chẳng biết phải chuyển gấu đi đâu.

“Nhắc tới hai con gấu ngựa là chúng tôi nhức đầu. Mình không lường được tình huống này bởi trước nay chưa từng có, không ngờ nó phát sinh rắc rối như vậy” – ông Nguyễn Văn Út, Trưởng Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng quận 9, TP.HCM, than.

Mất trăm triệu đồng cơm nước cho… gấu

Ông Nguyễn Xuân Ngữ ngụ quận Gò Vấp có mảnh đất diện tích hơn 3.600 m2 tại phường Long Thạnh Mỹ, quận 9 làm nhà ở, trồng cây, nuôi cá và có cái chuồng nuôi hai con gấu ngựa. Đất này thuộc dự án Khu công nghệ cao nên ông bị giải tỏa. Do không tự nguyện bàn giao mặt bằng nên tháng 5-2009, cơ quan chức năng đã tiến hành cưỡng chế thu hồi đất.

Tuy nhiên, ông Ngữ không chịu di dời các tài sản gắn liền trên đất. Do đó, buộc lòng quận phải cưỡng chế di dời số tài sản trên, trong đó có hai con gấu ngựa của ông Ngữ. Chúng được gửi vào Thảo Cầm Viên chăm sóc tạm thời. Nhưng từ lúc gửi gấu ngựa đến nay, chi phí nuôi dưỡng gấu mà Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng đã phải trả lên đến cả trăm triệu đồng, gần bằng mua hai con gấu mới.

“Hội đồng thẩm định của Sở Tài chính cho biết về nguyên tắc, chi phí cưỡng chế do người bị cưỡng chế phải chịu. Do đó, chủ gấu phải trả tiền nuôi gấu. Tuy nhiên, QĐ 69/2008 do UBND TP ban hành thì cho phép trích 2% trên tổng kinh phí của dự án để ban bồi thường làm chi phí đảm bảo thực hiện bồi thường hộ trợ tái định cư. Trong các khoản chi, có nội dung chi cho công tác cưỡng chế thu hồi đất nếu không thu hồi được của người bị cưỡng chế. Bởi vậy giờ số tiền này chúng tôi chưa biết xử lý sao! ” – ông Út băn khoăn.

Continue reading

NGUYÊN NHÂN ĐÌNH CÔNG Ở MỘT SỐ DOANH NGHIỆP TRONG THỜI GIAN QUA

THS. ĐỖ THỊ VÂN ANH – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

Sau gần 25 năm đổi mới, từ một quốc gia nghèo, Việt Nam đã trở thành một quốc gia có mức thu nhập trung bình trên thế giới. Tất nhiên, đồng thời với sự phá triển, bao giờ cũng nảy sinh các mâu thuẫn trong đời sống xã hội. Một hiện tượng xã hội mới xuất hiện và cũng thể hiện sự mâu thuẫn đó là mối quan hệ vừa đấu tranh, vừa hợp tác giữa người sử dụng lao động và người lao động trong những năm gần đây.

Đình công là hiện tượng không mới trong quá trình công nghiệp hóa trên thế giới, nhằm bảo đảm sự công bằng xã hội. Và cách xử lý nó như thế nào lại phản ánh bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang theo đuổi. Đây cũng là vấn đề phức tạp, đang được tranh luận khá sôi nổi ở một số diễn đàn khoa học trong nước. Để góp phần vào việc giảm thiểu xung đột giữa người lao động và giới chủ, tiến tới loại bỏ đình công, việc tìm hiểu những nguyên nhân dẫn tới đình công trong các doanh nghiêp (DN), cả nhà nước lẫn tư nhân, là rất cần thiết.

Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, từ năm 1995, khi Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành, đến hết tháng 4 – 2009, cả nước đã có 2.697 cuộc đình công. Trong đó, có 89 cuộc ở doanh nghiệp nhà nước (DNNN), 1.983 cuộc ở doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 625 cuộc ở doanh nghiệp ngoài nhà nước.

Bảng 1. Đình công trong các doanh nghiệp từ năm 1995 đến ngày 15-4-2009

Presentation1

Nguồn: Báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

Giai đoạn 1995 – 1999 xảy ra 307 cuộc, chiếm 11,38%; giai đoạn 2000 – 2004 xảy ra 525 cuộc, chiếm 19,46%. Như vậy, mức độ xảy ra đình công có xu hướng tăng nhanh ở các năm về sau. Trong giai đoạn 2005 – 2009, số cuộc đình công tăng gấp 6,07 lần so với giai đoạn 1995 – 1999 và gấp 3,55 lần so với giai đoạn 2000 – 2004.

Continue reading

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: BIẾN TIỀN ĐẶT CỌC THÀNH TIỀN MUA ĐẤT

VĂN ĐOÀN

TAND cùng VKSND tỉnh và Ban Pháp chế HĐND tỉnh Đồng Nai cùng thống nhất phải kiến nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm vì bản án tuyên sai.

Hơn năm năm trước, bà H. (huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai) mua một mảnh đất của vợ chồng ông C. với giá 350 triệu đồng. Hai bên thống nhất, bà H. đặt cọc trên 200 triệu đồng, sẽ thanh toán hết khi đã nhận được giấy tờ đất. Bên bán sẽ đền cọc gấp đôi nếu vi phạm thỏa thuận…

Tòa không cho phạt cọc

Theo bà H., một thời gian sau, vợ chồng ông C. không chịu thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết nên bà kiện đòi tiếp tục hợp đồng, nếu không thì phải bồi thường thiệt hại theo giá đất thị trường…

Phía ông C. giải thích, số tiền trên 200 triệu đồng trên là ông mượn bà này chứ không phải là tiền mua bán đất. Tuy nhiên, hai bên lại thể hiện bằng hợp đồng mua bán. Khi đến hạn, vợ chồng ông nhiều lần gọi bà H. đến để trả nợ nhưng bà không tới lấy tiền mà kiện ông ra tòa. Do đó, vợ chồng ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H.

Xử sơ thẩm đầu năm 2006, TAND huyện Nhơn Trạch đã bác khai nại của bên bán vì không có chứng cứ chứng minh việc mượn tiền. Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H., buộc bên bán phải trả cho bà gần 3 tỉ đồng (giá trị đất theo giá thị trường tại thời điểm xét xử) vì không tiếp tục hợp đồng. Tòa nhận định bà H. đã giao trên 200 triệu đồng cho bên bán, chiếm hơn 3/4 giá trị hợp đồng chuyển nhượng đất. Điều này cho thấy khoản tiền trên mang ý nghĩa ở giai đoạn thanh toán hợp đồng chứ không phải là khoản tiền đặt cọc. Do đó, không thể cho rằng đây là tiền cọc để xử lý bồi thường gấp đôi như đôi bên đã thỏa thuận…

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: RỐI VÌ HỒ SƠ ÁN GỬI BƯU ĐIỆN BỊ MẤT

PHƯƠNG NAM

Hồ sơ một vụ tranh chấp đất trị giá bạc tỉ được TAND Tối cao gửi bưu điện về tòa cấp dưới đã bị thất lạc. Đương sự khóc ròng vì hồ sơ rất khó phục hồi để xét xử lại.

Hơn bảy năm trước, bà L. cho một người quen mượn trên 30.000 m2đất tại TP Phan Thiết (Bình Thuận) để canh tác. Theo bà, làm được một thời gian, người này đã lấy luôn đất của bà. Năm 2003, bà khởi kiện đòi lại tài sản.

Chờ mãi không thấy hồ sơ

Sau ba năm thụ lý vụ kiện, tháng 5-2006, TAND TP Phan Thiết bất ngờ ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Không đồng tình với quyết định này, bà L. kháng cáo. Tuy nhiên, TAND tỉnh Bình Thuận đã bác kháng cáo của bà. Thấy bị thiệt thòi, bà liền gửi đơn kiến nghị đến TAND Tối cao đề nghị giám đốc thẩm…

Nhận được đơn, TAND Tối cao đã rút toàn bộ hồ sơ vụ kiện lên để xem xét. Tháng 5-2009, chánh án TAND Tối cao ra quyết định kháng nghị vì việc đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng, không đảm bảo quyền lợi của các đương sự.

Sau đó, TAND Tối cao ra quyết định giám đốc thẩm tuyên hủy quyết định sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho TAND TP Phan Thiết giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Ngày 29-9-2009, TAND Tối cao gửi toàn bộ hồ sơ vụ án đến TAND TP Phan Thiết theo dạng bưu phẩm bảo đảm thông qua dịch vụ của Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel. Thế nhưng sau gần năm tháng ròng rã chờ đợi, bà L. chẳng thấy TAND TP Phan Thiết xét xử lại. Nóng lòng, bà lại lục đục đi khiếu nại. Lúc này bà mới bật ngửa ra rằng nơi đây chưa hề nhận được hồ sơ vụ án nên không thể đưa vụ án ra xét xử.

Nhân viên bưu điện làm ẩu

Không tin hồ sơ vụ án đòi số diện tích trị giá bạc tỉ của mình bỗng dưng biến mất, bà L. vội vã gửi đơn đến TAND Tối cao yêu cầu làm rõ. Tòa này cũng vội vàng tổ chức xác minh phiếu báo do Viettel gửi về văn phòng liên quan đến gói bưu phẩm nói trên. Qua kiểm tra, tòa phát hiện có chữ ký kèm tên người nhận là bà Q., nhân viên văn thư TAND TP Phan Thiết. Tuy nhiên, giám định chữ ký và chữ viết thì đó không phải là chữ do bà Q. viết ra.

Continue reading

CÓ NÊN ĐỊNH GIÁ CÁC QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

BÙI HUYỀN

Ngày càng có nhiều người công nhận rằng, quyền sở hữu trí tuệ như một tài sản và công cụ của một doanh nghiệp có thể đóng góp đáng kể cho thành công của doanh nghiệp. Sự thật là việc tiềm lực này tồn tại cho các doanh nghiệp thu lợi từ các danh mục quyền sở hữu trí tuệ của họ đã dẫn tới một mối quan tâm nhiều hơn về định giá các quyền sở hữu trí tuệ.

Ở đây nên quan tâm tới sự khác nhau giữa giá cả và giá trị của một tài sản sở hữu trí tuệ. Giá cả chủ yếu được xác định như những thứ mà một người mua sẵn sàng trả, trong một giao dịch bình thường dựa vào giá trị được nhận thấy của sản phẩm. Giá trị là trừu tượng nhưng những tính toán số lượng tất định dựa trên một loạt các phương pháp và luật lệ được kiểm định theo đúng trật tự. Nói cách khác, mặc dù giá trị sở hữu trí tuệ có thể ảnh hưởng tới việc định giá một tài sản sở hữu trí tuệ cũng không nhất thiết phải giống như việc định giá cả. Việc định giá thường bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác bao gồm thời gian, nhu cầu, lý do bán và những kỹ năng đàm phán của các bên liên quan.

Các công cụ được sử dụng cho việc định giá các sản phẩm sở hữu trí tuệ có thể giúp các doanh nghiệp quản lý các danh mục quyền sở hữu trí tuệ của họ một cách thực tế và hiệu quả hơn. Việc định giá các quyền sở hữu trí tuệ đưa ra một tiêu chuẩn so sánh hữu ích và cơ sở đàm phán về việc chuyển nhượng hoặc mua các tài sản thuộc quyền sở hữu trí tuệ.

Trước khi một doanh nghiệp bắt tay vào việc định giá các giá trị tài sản quyền sở hữu trí tuệ thì cần phải trả lời các câu hỏi sau:

  • Tại sao doanh nghiệp quyết định định giá các quyền sở hữu trí tuệ?
  • Khi nào cần và sử dụng các thông tin (kết quả của việc định giá trị này)?
  • Quyền sở hữu trí tuệ nào cần được định giá?
  • Phương pháp định giá nào nên được áp dụng?
  • Những cân nhắc khi định giá quyền sở hữu trí tuệ

Continue reading

NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN ĐỀ CAO PHÁP LUẬT HAY THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT

THS. CAO VIỆT THĂNG – Viện Nhà nước và Pháp luật

Theo quan niệm của nhiều học giả về nhà nước pháp quyền, một trong những đòi hỏi quan trọng của nhà nước pháp quyền là thượng tôn pháp luật. Liệu đây có phải là nguyên lý cơ bản của của nhà nước pháp quyền hay không? Vấn đề này có lẽ cũng cần có được sự luận giải chí ít từ những góc độ cơ bản để có được sự thỏa mãn của những người muốn tìm hiểu về nó. Trong bài viết này tác giả chỉ xin đưa ra một số vấn đề quan điểm về đề cao pháp luật và thượng tôn pháp luật trong nhà nước pháp quyền từ đó để mọi người có thể đánh giá nó tùy theo cách hiểu của mình.

Trước hết nói về sự khác biệt giữa đề cao pháp luật và thượng tôn pháp luật: Nếu như nói về tính chất rõ ràng một bên hàm chứa yếu tố cưỡng bức từ phía ngoài, còn một bên xuất phát từ phía trong chính yếu tố của sự vật. Thượng tôn là hàm chứa việc thừa nhận, tôn trọng ở một cấp độ cao nhất từ phía xã hội đối với pháp luật. Ngược lại, đề cao nó biểu hiện là xuất phát từ ý chí bên ngoài (nhà nước) là đề cao đối với pháp luật. Do đó, có thể thấy đây là hai trạng thái khác nhau.

Tuy cùng thừa nhận về hình thức nhà nước pháp quyền, xuất phát từ nhiều điều kiện khác nhau, việc ra đời các hệ thống pháp luật cũng mang lại các giá trị khác nhau. Trong các nhà nước được coi là dân chủ thì pháp luật luôn được ban hành và thông qua bằng các con đường chính đáng. Sự chính đáng này thể hiện việc ban hành pháp luật luôn phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của nó như: đồng thuận đa số, thẩm quyền ban hành, trình tự…, và nó không có những biểu hiện che đậy các hành vi làm luật không chính đáng. Do đó, hầu hết các đạo luật của quốc gia khi đưa vào áp dụng nó làm cho đa số những người áp dụng, những người tham gia các quan hệ pháp lý này cảm thấy mãn. Đó là những đạo luật chứa đựng cả niềm tin của xã hội trong đó. Những người tham gia vào các quan hệ pháp luật đều cảm thấy rằng ý chí của mình đã được thể hiện trong đó. Hay chí ít là ý chí của xã hội đã được thể hiện trong các đạo luật đó. Và nếu pháp luật có đi ngược ý chí của một số cá nhân đơn lẻ thì họ cũng vẫn thoải mái chấp nhận vì cho rằng mình đã hi sinh một cách chính đáng tự do tự nhiên để đổi lấy tự do dân sự (tự do xã hội). Bởi vì họ đều hiểu một điều đơn giản rằng trong tự do dân sự họ luôn được bảo vệ bởi các trật tự xã hội (theo các nhà vị lợi thì người ta sẽ thoải mái hi sinh những lợi ích đó (tự do tự nhiên) vì họ biết rằng họ sẽ được nhiều hơn mất).

Continue reading

BÁO CÁO TÌNH HÌNH ĐÀO TẠO THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG NĂM 2010

CỤC THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, BỘ CÔNG THƯƠNG – Ngày 12 tháng 7 năm 2010, Quyết định số 1073/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2011 – 2015 (sau đây gọi tắt là Quyết định 1073) đã được ban hành. Kế hoạch tổng thể đặt ra mục tiêu tổng quát: “Thương mại điện tử được sử dụng phổ biến và đạt mức tiên tiến trong các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Kế hoạch tổng thể đã ưu tiên việc phát triển nguồn nhân lực về TMĐT, coi đây là một trong những giải pháp quan trọng nhất để đạt được mục tiêu trên.

Kế thừa những thành tựu đã đạt được từ việc thực hiện Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 – 2010, nội dung phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn 05 năm sắp tới tập trung vào hai nội dung chủ yếu là phổ biến, tuyên truyền nâng cao nhận thức về lợi ích của TMĐT và đẩy mạnh đào tạo chính quy về TMĐT.

Ngày 01 tháng 6 năm 2009, Quyết định số 698/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 đã được ban hành, trong đó nhiều giải pháp để nâng cao về chất lượng và số lượng nguồn nhân lực CNTT Việt Nam. Theo Quyết định của Thủ tướng, mục tiêu đến năm 2015 có khoảng 30% số lượng sinh viên CNTT, điện tử, viễn thông sau khi tốt nghiệp ở các trường đại học có đủ khả năng chuyên môn và ngoại ngữ để có thể tham gia thị trường lao động quốc tế; ở các trường đại học, cao đẳng bảo đảm đạt tỷ lệ trung bình 15 – 20 sinh viên/giảng viên trong đào tạo CNTT; 70% số giảng viên CNTT ở đại học và trên 50% giảng viên CNTT ở cao đẳng có trình độ thạc sĩ trở lên; tăng nhanh số giảng viên có trình độ tiến sĩ; đến năm 2015, cung cấp cho các doanh nghiệp 250.000 lao động chuyên môn về CNTT, điện tử, viễn thông có trình độ từ trung cấp chuyên nghiệp và sơ cấp nghề (đào tạo 1 năm) trở lên, trong đó có 50% lao động có trình độ cao đẳng, đại học và 5% có trình độ thạc sĩ trở lên.v.v..

Một trong những nhân tố quan trọng để đạt được mục tiêu phát triển nguồn nhân lực TMĐT trên cơ sở huy động nguồn lực của toàn xã hội là xây dựng một xã hội học tập được đào tạo liên tục, tự học, thường xuyên trau dồi kỹ năng, kiến thức, phát triển trí tuệ và sự sáng tạo. Với sự phát triển nhanh chóng của CNTT và truyền thông, đào tạo trực tuyến đã ra đời mở ra một kỷ nguyên mới cho lĩnh vực giáo dục đào tạo và đem lại những lợi ích to lớn cho các chủ thể tham gia. Do đó, ứng dụng đào tạo trực tuyến trong hoạt động đào tạo TMĐT theo hướng khuyến khích các tổ chức đầu tư, phát triển công nghệ đào tạo trực tuyến, hỗ trợ các trường đại học và doanh nghiệp liên kết trong việc thiết kế nội dung, giáo trình đào tạo trực tuyến, hỗ trợ về vốn và các ưu đãi về thuế.v.v.. là những phương hướng mới được đề ra trong Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử trong giai đoạn 2011 – 2015.

Continue reading

ỦY QUYỀN CHO NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC ĐẾN ĐÂU?

LS. LÊ TRỌNG DŨNG – Công ty Luật TNHH InvestPro&HoàngGiao

Để nâng cao hiệu quả quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp khác, Chính phủ đã có chính sách tìm người giỏi, thạo việc điều hành để thuê họ đại diện phần góp vốn Nhà nước. Cụ thể, SCIC (Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước) đang tăng cường tìm kiếm người giỏi để thuê và ủy quyền cho họ đại diện phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp có vốn của Nhà nước.

Những văn bản hướng dẫn cụ thể về địa vị pháp lý, xác định nghĩa vụ, chế độ đãi ngộ của người đại diện phần vốn nhà nước vẫn đang được Chính phủ chuẩn bị cho ra đời. Nhưng nếu tôn trọng tự do thỏa thuận, trên cơ sở Bộ luật Dân sự 2005, Luật Doanh nghiệp 2005, vẫn có thể thiết kế ra thỏa thuận thuê người đại diện phần vốn nhà nước đáp ứng được mục tiêu.

Để không lúng túng khi xác định các quyền, nghĩa vụ cụ thể của người đại diện phần vốn nhà nước, tránh thất bại như kế hoạch thuê giám đốc trước đây, văn bản thỏa thuận thuê người đại diện phần vốn nhà nước cần phải xác định rõ phạm vi ủy quyền, thiết kế đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu và người đại diện vốn nhà nước.

Ủy quyền đến đâu?

Phần lớn doanh nghiệp mà Nhà nước có vốn góp là các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã cổ phần hóa hoặc công ty TNHH nhà nước một thành viên, hiện nay đã hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005. Khi tham gia với vai trò là cổ đông/thành viên, với số vốn lớn, chủ sở hữu vốn nhà nước có thể tham gia cho ý kiến và quyết định các hoạt động trong doanh nghiệp. Thông thường những người được chủ sở hữu thuê làm đại diện phần vốn nhà nước sẽ được tham gia vào những chức vụ lãnh đạo như chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc để quản lý, điều hành doanh nghiệp theo hướng đi có lợi cho chủ sở hữu.

Để người đại diện phần vốn góp hành động phù hợp với ý chí của chủ sở hữu, cần phải xác định rõ một phạm vi ủy quyền nhất định. Nếu phạm vi ủy quyền càng rộng thì người được đại diện vốn nhà nước càng có nhiều quyền chủ động quyết định các hoạt động của doanh nghiệp. Và khi trao quyền cho người đại diện phần vốn góp, cần lưu ý đến phạm vi ủy quyền được quy định tại điều 144, Bộ luật Dân sự 2005. Theo đó, về nguyên tắc phạm vi ủy quyền được xác lập trên cơ sở thỏa thuận của các bên, người đại diện phần vốn nhà nước có thể được chủ sở hữu trao toàn bộ quyền lực hoặc trao một vài quyền nhất định.

Continue reading

TIÊU CHUẨN ĐỂ ĐỨNG TÊN TÁC GIẢ BÀI VIẾT KHOA HỌC

NGUYỄN VĂN TUẤN

Có phải Shakespeare là tác giả của các vở kịch Much ado about nothing, King Lear, Hamlet, Othello? Có phải Đoàn Thị Điểm là người dịch Chinh phụ ngâm? Những câu hỏi đó thoạt đầu mới nghe qua thì có vẻ lạ lùng và không cần thiết, nhưng xét một cách khách quan, ngày xưa người ta chưa có một hệ thống và chứng cứ để xác định tác giả của một tác phẩm.

Ngày nay, dù có hệ thống và tiêu chuẩn cho một tác giả, thực tế vẫn có những trường hợp mà người đứng tên tác giả một công trình khoa học nhưng chẳng có đóng góp một tí nào, cho dù là một chữ, trong công trình đó. Vấn đề này trở nên thời sự khi “sự cố đạo văn” trong khoa học được báo chí phanh phui gần đây.

Bài báo khoa học không chỉ thể hiện kết cục của một công trình nghiên cứu, mà ở góc độ cá nhân còn thể hiện một thành tựu của nhà khoa học. Trong thực tế số bài báo khoa học vẫn là một trong những tiêu chí quan trọng trong việc đề bạt chức danh khoa bảng.

Ví dụ, nghiên cứu cho thấy trong ngành y khoa những cá nhân được đề bạt chức danh giáo sư thường có số bài báo khoa học cao gấp hai lần những người không được đề bạt (*). Do đó, có thể nói không ngoa rằng bài báo khoa học là một đơn vị tiền tệ trong học thuật và nghiên cứu khoa học.

Một công trình nghiên cứu khoa học thường có nhiều tác giả, chuyên gia đóng góp từ ý tưởng, chọn mô hình nghiên cứu, xác định phương pháp, cách thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, soạn thảo và diễn giải kết quả nghiên cứu, đến công bố bài báo khoa học. Mỗi bài báo thường có năm tác giả (tính trung bình), nhưng cũng có khi con số tác giả lên đến hàng trăm! Thật vậy, những công trình nghiên cứu đa quốc gia trong vài năm gần đây, có khi số tác giả quá nhiều (500 người), tập san phải đăng tên họ trong một phụ trang.

Do đó, đứng trước một bài báo có nhiều tác giả, người đọc (kể cả các ủy ban đề bạt chức danh giáo sư) phải hỏi về vai trò và mức độ đóng góp cho công trình nghiên cứu của từng tác giả như thế nào, và ai đủ tư cách đứng tên tác giả bài báo khoa học. Vấn đề này dẫn đến bàn luận giữa các tổng biên tập về việc đề ra tiêu chuẩn cho tác giả bài báo khoa học.

Continue reading

CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC: PHAN BIỆT DOANH NGHIỆP ĐỘC QUYỀN VAFDOANH NGHIỆP CÓ VỐN NHÀ NƯỚC

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Nhà nước có nhiệm vụ hiến định bảo đảm mức sống ổn định tối thiểu cho người dân và can thiệp ở nơi và khi thị trường bất lực, nên tại đây, nhà nước phải sử dụng công cụ là các DNNN và trao cho nó độc quyền.

Nên đặt vấn đề cải cách doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong tổng thể chung giải quyết vấn đề kinh tế nhà nước như thế nào để hội nhập thành công. Cần có quy định pháp lý phân biệt rõ ràng DNNN độc quyền với doanh nghiệp có vốn góp của nhà nước.

Trong lịch sử kinh tế thế giới, kinh tế kế hoạch chỉ huy – kết hợp các ưu điểm của cơ chế thị trường dưới sự chỉ huy của lý trí “luôn luôn đúng“ của lãnh đạo – không xa lạ. Nền kinh tế kế hoạch chỉ huy thành công nổi tiếng nhất là nền kinh tế của nước Đức phátxít dưới sự lãnh đạo của Hitler. Thời đó, tỷ lệ thất nghiệp của Đức là 0%, Đức quốc xã là nước áp dụng thành công lý thuyết về vai trò kích cầu nhà nước của nhà kinh tế học nổi tiếng Keynes. Thành quả của nền kinh tế kế hoạch chỉ huy này đã tạo đầy đủ cơ sở vật chất cho Hitler tiến hành chiến tranh thế giới. Điểm đặc biệt nguy hại của một nền kinh tế như vậy là ở chỗ nó luôn phải tự tạo ra các nhu cầu phi thị trường theo ý chí chủ quan của người lãnh đạo. Với nước Đức phátxít, đó là nhu cầu chuẩn bị và phục vụ chiến tranh.

Dù có một nền kinh tế kế hoạch chỉ huy hoàn hảo đi chăng nữa thì nhà nước vẫn không thể giải quyết được vấn nạn thuộc về bản chất là không thể kiểm soát các DNNN. Nhà nước – do đủ thứ nguyên nhân và quan hệ chồng chéo – không bao giờ có thể có được đầy đủ và chính xác các thông tin cần thiết cho việc kiểm soát toàn diện hoạt động của DNNN.

Kinh nghiệm của rất nhiều nước cũng chỉ ra rằng chỉ có thể lựa chọn dứt khoát hoặc là kinh tế thị trường hoặc là kinh tế kế hoạch chứ không thể kết hợp cả hai. Là thành viên WTO, chúng ta đã không chỉ cam kết xây dựng kinh tế thị trường, mà còn có nghĩa vụ tự do hoá thị trường.

Kinh tế thị trường – thông qua thị trường và cạnh tranh tự do, lành mạnh – giải quyết hiệu quả hầu hết các vấn đề của doanh nghiệp, của hoạt động kinh tế. Nhưng kinh tế thị trường làm phát sinh những vấn đề xã hội mà không phải lúc nào thị trường cũng có thể giải quyết ổn thoả. Chính là ở đây, nhà nước mới có trách nhiệm, nghĩa vụ và được phép hoạt động thay thị trường. Tuy nhiên, hoạt động kinh tế này của nhà nước phải tuân thủ ba nguyên tắc: (1) Chỉ can thiệp vào nơi và khi thị trường đã tỏ ra bất lực; (2) Nguyên tắc trợ giúp; (3) Hạn chế đến mức thấp nhất tác động làm sai lệch môi trường cạnh tranh, làm hạn chế quyền tự do kinh doanh của công dân.

Continue reading

QUAN LÝ XÃ HỘI BẰNG PHÁP LUẬT: Đúng nhưng chưa đủ

THS. MAI BỘ – Tòa án quân sự Trung ương

Nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về hình thái kinh tế – xã hội chúng tôi thấy, ngoài các yếu tố về chính trị, tư tưởng, văn hoá, thì thượng tầng kiến trúc còn bao gồm các yếu tố rất quan trọng là pháp luật và đạo đức…

Hai yếu tố này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với hạ tầng cơ sở. Xét trên bình diện công cụ quản lý, thì pháp luật và đạo đức là hai công cụ quan trọng của việc quản lý xã hội.

Thứ nhất, nói về pháp luật thì tại Điều 12 Hiến pháp nước ta khẳng định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Như vậy, trong đạo luật gốc, Nhà nước ta khẳng định pháp luật là công cụ quản lý xã hội. Trên phương diện lý luận, thì pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng được tạo nên bởi cơ sở hạ tầng là quan hệ sản xuất; và có nhiệm vụ điều chỉnh quan hệ sản xuất. Nếu pháp luật phù hợp với các yếu tố của hạ tầng cơ sở (trong đó có quan hệ sản xuất), thì nó thúc đẩy quá trình phát triển quan hệ kinh tế và làm tăng trưởng kinh tế. Ngược lại, nếu pháp luật không phù hợp với các yếu tố của hạ tầng cơ sở, thì nó kìm hãm sự phát triển quan hệ kinh tế và làm giảm khả năng tăng trưởng kinh tế.

Nói tới pháp luật và để có pháp luật chuẩn (phù hợp và có khả năng điều chỉnh quan hệ sản xuất theo hướng tích cực), thì phải nói tới các môi trường tồn tại của pháp luật và đòi hỏi pháp luật phải tốt ở tất cả những môi trường tồn tại của nó. Vậy, pháp luật tồn tại ở những môi trường nào? Chúng tôi cho rằng, pháp luật tồn tại ở ba môi trường là: xây dựng pháp luật; thực hiện pháp luật; và ý thức pháp luật.

Ở môi trường xây dựng pháp luật, thì có thể nói với sự cố gắng hết mình dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội và các cơ quan có thẩm quyền đã nghiên cứu và ban hành một hệ thống đồ sộ các văn bản pháp luật để điều chỉnh các lĩnh vực quan hệ xã hội. Như vậy, có thể nói chúng ta không thiếu các văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ kinh tế nói riêng.

Tuy nhiên, ở môi trường thực hiện pháp luật thì mặc dù đã có rất nhiều cố gắng của các cơ quan thực thi pháp luật và đạt được rất nhiều thành quả nhất là sự tăng trưởng kinh tế trong 10 năm thực hiện Cương lĩnh nhưng vẫn nổi lên vấn đề là pháp luật không nghiêm. Nguyên nhân của nó là việc tổ chức thi hành pháp luật. Tình trạng cố tình vi phạm pháp luật hoặc lách luật vì động cơ cục bộ hoặc động cơ cá nhân xảy ra phổ biến ở nhiều cơ quan, tổ chức và công dân.

Continue reading

QUAN LÝ XÃ HỘI BẰNG PHÁP LUẬT ĐÚNG NHƯ CHƯA ĐỦ

THS. MAI BỘ – Tòa án quân sự Trung ương

Nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về hình thái kinh tế – xã hội chúng tôi thấy, ngoài các yếu tố về chính trị, tư tưởng, văn hoá, thì thượng tầng kiến trúc còn bao gồm các yếu tố rất quan trọng là pháp luật và đạo đức…

Hai yếu tố này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với hạ tầng cơ sở. Xét trên bình diện công cụ quản lý, thì pháp luật và đạo đức là hai công cụ quan trọng của việc quản lý xã hội.

Thứ nhất, nói về pháp luật thì tại Điều 12 Hiến pháp nước ta khẳng định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa". Như vậy, trong đạo luật gốc, Nhà nước ta khẳng định pháp luật là công cụ quản lý xã hội. Trên phương diện lý luận, thì pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng được tạo nên bởi cơ sở hạ tầng là quan hệ sản xuất; và có nhiệm vụ điều chỉnh quan hệ sản xuất. Nếu pháp luật phù hợp với các yếu tố của hạ tầng cơ sở (trong đó có quan hệ sản xuất), thì nó thúc đẩy quá trình phát triển quan hệ kinh tế và làm tăng trưởng kinh tế. Ngược lại, nếu pháp luật không phù hợp với các yếu tố của hạ tầng cơ sở, thì nó kìm hãm sự phát triển quan hệ kinh tế và làm giảm khả năng tăng trưởng kinh tế.

Nói tới pháp luật và để có pháp luật chuẩn (phù hợp và có khả năng điều chỉnh quan hệ sản xuất theo hướng tích cực), thì phải nói tới các môi trường tồn tại của pháp luật và đòi hỏi pháp luật phải tốt ở tất cả những môi trường tồn tại của nó. Vậy, pháp luật tồn tại ở những môi trường nào? Chúng tôi cho rằng, pháp luật tồn tại ở ba môi trường là: xây dựng pháp luật; thực hiện pháp luật; và ý thức pháp luật.

Ở môi trường xây dựng pháp luật, thì có thể nói với sự cố gắng hết mình dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội và các cơ quan có thẩm quyền đã nghiên cứu và ban hành một hệ thống đồ sộ các văn bản pháp luật để điều chỉnh các lĩnh vực quan hệ xã hội. Như vậy, có thể nói chúng ta không thiếu các văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ kinh tế nói riêng.

Tuy nhiên, ở môi trường thực hiện pháp luật thì mặc dù đã có rất nhiều cố gắng của các cơ quan thực thi pháp luật và đạt được rất nhiều thành quả nhất là sự tăng trưởng kinh tế trong 10 năm thực hiện Cương lĩnh nhưng vẫn nổi lên vấn đề là pháp luật không nghiêm. Nguyên nhân của nó là việc tổ chức thi hành pháp luật. Tình trạng cố tình vi phạm pháp luật hoặc lách luật vì động cơ cục bộ hoặc động cơ cá nhân xảy ra phổ biến ở nhiều cơ quan, tổ chức và công dân.

Continue reading

CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN TRUYỀN THỐNG

TỪ THẢO – Global Invest Co.ltd

– Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) là một loại hình công ty, một mô hình tổ chức kinh doanh trong nền kinh tế thị trường như các loại hình tổ chức kinh doanh khác.

– Công ty TNHH là một pháp nhân – một thực thể pháp lý trừu tượng và độc lập (trong tiếng Anh gọi là artificial legal person hay Separate legal entity). Công ty độc lập và tách bạch hoàn toàn với các chủ thể đã tạo lập ra nó và đưa tài sản taọ lập nên tài sản của nó về mặt pháp luật.

– Thành viên công ty không nhiều, thường bị giới hạn ở mức tối đa và thường là những người quen biết nhau. Các nhà làm luật thường không chấp nhận mô hình công ty này có số lượng thành viên quá lớn. Bên cạnh đó, các thành viên của mô hình công ty này thường có mối quan hệ với nhau về nhân thân: có thể là người trong dòng họ, gia đình hay bạn bè, thân thiết ở mức độ có thể tin cậy và chia sẻ. Tính chất của các mối quan hệ này gần giống như của công ty đối nhân (mà điển hình là các hơp danh – partnership).

– Bản chất của loại công ty này mang tính đóng chứ không mở như công ty cổ phần. Đặc tính này có liên quan chặt chẽ đến việc huy động vốn từ công chúng của loại công ty này trong sự so sánh với công ty cổ phần. Các loại công ty này thường không được quyền huy động vốn từ công chúng thông qua phát hành chứng khoán ra công chúng một cách công khai. Tuy nhiên, vấn đề cụ thể của việc phát hành chứng khoán có khác nhau ở các quốc gia. Có quốc gia cấm công ty TNHH phát hành mọi loại chứng khoán, có quốc gia cho phép nó phát hành giấy nhận nợ – trái phiếu (debenture) để vay vốn từ bên ngoài… Tuy nhiên, tất cả các nước đều không cho nó phát hành cổ phiếu (Shares) để huy động vốn từ công chúng vì nếu cho phép nó phát hành cổ phiếu vì nếu cho phép nó phát hành cổ phiếu,khi đó nó sẽ trở thành công ty cổ phần. Dù khả năng huy động vốn từ công chúng đến đâu, tất cả đều không thể làm thay đổi tư cách và số lượng thành viên bằng việc phát hành chứng khoán. Về cơ bản, chứng khoán có hai loại: các chứng chỉ đầu tư ở dạng cổ phiếu để trở thành cổ đông công ty và loại thứ hai là các trái phiếu ghi nợ, ai là chủ sở hữu thì họ là chủ nợ của công ty. Tính khép kín, tính đóng của loại công ty này không cho phép nó phát hành cổ phiếu vì phát hành cổ phiếu là huy động thêm vốn điều lệ, người mua nó sẽ trở thành chủ sở hữu, trở thành thành viên của công ty.

Continue reading

VAI TRÒ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA ĐẠI LÝ BẢO HIỂM TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM

THS. LÊ THỊ THẢO – Khoa Luật, ĐạI học Huế

1. Đặt vấn đề

Sau hơn 20 năm đổi mới và mở cửa thị trường bảo hiểm, ngành bảo hiểm Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ. Cùng với sự lớn mạnh của ngành bảo hiểm, Luật Kinh doanh bảo hiểm (KDBH) được Quốc hội thông qua đã tạo một nền tảng pháp lý cho hoạt động bảo hiểm phát triển ở Việt Nam. Hiện nay, trên địa bàn cả nước đã có 29 doanh nghiệp và hơn 30 văn phòng đại diện nước ngoài hoạt động trong tất cả các lĩnh vực bảo hiểm với các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH): công ty bảo hiểm nhà nước, DNBH cổ phần và DNBH có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập và tham gia trong nhiều lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm. Với doanh thu của các loại hình bảo hiểm trên địa bàn cả nước hằng năm đã đạt 900 triệu USD, tốc độ tăng trưởng khoảng 30%/năm, Việt Nam đang được coi là mảnh đất màu mỡ của các tập đoàn KDBH nước ngoài. Bên cạnh sự ra đời và thành công của DNBH không thể không tính đến vai trò của đại lý bảo hiểm (ĐLBH).

Các công ty bảo hiểm muốn kinh doanh hiệu quả, tăng doanh thu, phí bảo hiểm, tăng số lượng hợp đồng khai thác mới, tăng số lượng khách hàng thì phải có một hệ thống đại lý hoạt động hiệu quả, chuyên nghiệp và có tinh thần trách nhiệm cao; đồng thời, tạo niềm tin và sự quảng bá để tăng cường khách hàng tham gia và có điều kiện tiếp cận với các loại dịch vụ bảo hiểm thì hoạt động của các đại lý phải đảm bảo niềm tin cho khách hàng và gắn kết trách nhiệm của đại lý với hoạt động kinh doanh của đại lý và xiết chặt cơ chế quản lý đối với ĐLBH. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến vai trò và trách nhiệm của đại lý trong hoạt động bảo hiểm của DNBH, trên cơ sở đó, đề xuất ý kiến nhằm tăng cường trách nhiệm của ĐLBH góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động KDBH, tạo động lực để hoạt động bảo hiểm trở thành một kênh tài chính hữu hiệu cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế đất nước.

2. Vai trò và trách nhiệm của đại lý bảo hiểm trong quan hệ KDBH

Cá nhân và tổ chức trung gian đứng ra làm chủ thể phân phối bảo hiểm được chính thức ghi nhận với tư cách là “ĐLBH” tại Việt Nam trong Nghị định số 100/NĐ-CP ban hành ngày 18/12/1993: “ĐLBH là cá nhân có đủ điều kiện quy định tại Điều 19 của Nghị định này hoạt động ĐLBH”; Theo quy định tại Điều 19 thì “Hoạt động ĐLBH phải trên cơ sở hợp đồng đại lý ký kết với DNBH. Cá nhân hoạt động ĐLBH phải có đủ các điều kiện sau:

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 109/2010/NĐ-CP NGÀY 4 THÁNG 11 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ KINH DOANH XUẤT KHẨU GẠO

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Thương mại ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công thương,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định về kinh doanh xuất khẩu thóc, gạo các loại (sau đây gọi chung là gạo).

2. Hoạt động nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển khẩu, quá cảnh, gia công gạo cho nước ngoài; hoạt động xuất khẩu phi mậu dịch, viện trợ, biếu, tặng gạo không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với thương nhân theo quy định của Luật Thương mại; các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trong quản lý, điều hành xuất khẩu gạo và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

Điều 3. Quyền kinh doanh xuất khẩu gạo

1. Thương nhân Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, nếu đáp ứng đủ điều kiện quy định tại Điều 4 Nghị định này và được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo (sau đây viết tắt là Giấy chứng nhận), có quyền được kinh doanh xuất khẩu gạo theo quy định tại Nghị định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Thương nhân là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo theo quy định tại Nghị định này; các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam và cam kết của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Continue reading

SỬA ĐỔI BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ ĐỂ GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM BẢO ĐẢM TÍNH KHÁCH QUAN NHẤT

PHÙNG HƯƠNG

Chế định giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng hình sự là nhằm sửa chữa những sai lầm, thiếu sót trong hoạt động xét xử hoặc phát hiện những tình tiết mới làm thay đổi nội dung bản án, quyết định đã có hiệu lực trên cơ sở có kháng nghị của người có thẩm quyền. Tuy nhiên, những quy định liên quan đến chế định giám đốc thẩm, tái thẩm hiện còn bộc lộ nhiều vấn đề cần thiết phải nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi để phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp.

Không phải là cấp xét xử thứ 3

Mặc dù các quy định của pháp luật tố tụng hình sự đã xác định cơ chế 2 cấp xét xử vừa bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, vừa là điều kiện để Tòa án cấp trên trực tiếp khắc phục những sai sót có thể có của Tòa án cấp sơ thẩm. Song trên thực tế cơ chế này cũng chưa bảo đảm chắc chắn mọi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp hoàn toàn đúng . Và khi phát hiện sai lầm, hoặc tình tiết mới thì các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án sẽ được xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Như vậy, giám đốc thẩm và tái thẩm được hiểu không phải là một cấp xét xử mà là một thủ tục đặc biệt, không phải là cấp xét xử thứ 3. Do đó, bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực được xem xét lại trên cơ sở có kháng nghị của người thẩm quyền khi phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án hoặc phát hiện các tình tiết, chứng cứ mới mà các tình tiết, chứng cứ mới này chưa được xem xét và đánh giá ở trong các giai đoạn xét xử trước. Tuy nhiên, liên quan đến giám đốc thẩm, tái thẩm còn nhiều vấn đề nảy sinh từ thẩm quyền giám đốc thẩm, số lượng các bản án, quyết định được xem xét theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm đến quá trình xem xét các bản án, quyết định theo trình tự này.

Phó chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Luật sư Phạm Hồng Hải cho rằng, để xem xét bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo trình tự tái thẩm được đúng đắn, cần thiết phải điều tra, xác minh và thẩm định các tình tiết mới được phát hiện và theo Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì chỉ có Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp mới có thẩm quyền kháng nghị theo trình tự tái thẩm.

Continue reading

THẾ NÀO LÀ ĐỒNG TÁC GIẢ?

VŨ THỊ PHƯƠNG ANH

Vụ tai tiếng về "đạo văn" mới đây làm nảy sinh ra một câu hỏi mà theo tôi lẽ ra phải được đặt ra từ lâu, ngay từ khi VN bắt đầu thực hiện đào tạo sau đại học trong nước, đó là: Thế nào là đồng tác giả (co-authorship)?

Câu hỏi này cần được đặt ra là vì trong vụ việc được báo chí đề cập đến gần đây, mặc dù bài báo ghi đến 4 tác giả (đồng nghĩa với việc cả 4 người cùng hưởng danh tiếng và có thể cả những quyền lợi khác nữa), nhưng đến lúc bài báo bị kết án là có đạo văn thì các tác giả khác lại nói rằng thực ra chỉ có một tác giả chính, còn những người khác không tham gia gì (tức sẽ không chịu trách nhiệm về việc đạo văn!)

Để trả lời câu hỏi đã đặt ra, tôi đã tìm trên mạng, và tìm được một bài viết rất đầy đủ, rõ ràng có tựa là "What is authorship, and what should it be? A survey of prominent guidelines for determining authorship in scientific publications", đăng trên tạp chí mạng Practical Assessment, Research and Evaluation. Bài báo rất hữu ích cho những người làm công tác quản lý khoa học công nghệ vì các tác giả đã bỏ công tổng hợp hết những hướng dẫn về "đồng tác giả" từ các tạp chí và hiệp hội lớn của các lĩnh vực khác nhau.

Dưới đây tôi chỉ đưa ra một định nghĩa về "co-authorship" mà tôi thấy là khá trùng với những gì tôi biết qua kinh nghiệm thời tôi đi học nước ngoài. Định nghĩa này cũng rút từ bài báo trên, ở trang 5, định nghĩa của Hiệp hội xã hội học Anh Quốc:

Everyone who is listed as an author should have made a substantial direct academic contribution to at least two of the four main components of a typical scientific project or paper; a) conception or design, b) data collection and processing, c) analysis and interpretation of the data, and d) writing substantial sections of the paper. Authorship should be reserved for those, and only those, who have made significant intellectual contribution to the research.

Continue reading