CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC: PHAN BIỆT DOANH NGHIỆP ĐỘC QUYỀN VAFDOANH NGHIỆP CÓ VỐN NHÀ NƯỚC

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Nhà nước có nhiệm vụ hiến định bảo đảm mức sống ổn định tối thiểu cho người dân và can thiệp ở nơi và khi thị trường bất lực, nên tại đây, nhà nước phải sử dụng công cụ là các DNNN và trao cho nó độc quyền.

Nên đặt vấn đề cải cách doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong tổng thể chung giải quyết vấn đề kinh tế nhà nước như thế nào để hội nhập thành công. Cần có quy định pháp lý phân biệt rõ ràng DNNN độc quyền với doanh nghiệp có vốn góp của nhà nước.

Trong lịch sử kinh tế thế giới, kinh tế kế hoạch chỉ huy – kết hợp các ưu điểm của cơ chế thị trường dưới sự chỉ huy của lý trí “luôn luôn đúng“ của lãnh đạo – không xa lạ. Nền kinh tế kế hoạch chỉ huy thành công nổi tiếng nhất là nền kinh tế của nước Đức phátxít dưới sự lãnh đạo của Hitler. Thời đó, tỷ lệ thất nghiệp của Đức là 0%, Đức quốc xã là nước áp dụng thành công lý thuyết về vai trò kích cầu nhà nước của nhà kinh tế học nổi tiếng Keynes. Thành quả của nền kinh tế kế hoạch chỉ huy này đã tạo đầy đủ cơ sở vật chất cho Hitler tiến hành chiến tranh thế giới. Điểm đặc biệt nguy hại của một nền kinh tế như vậy là ở chỗ nó luôn phải tự tạo ra các nhu cầu phi thị trường theo ý chí chủ quan của người lãnh đạo. Với nước Đức phátxít, đó là nhu cầu chuẩn bị và phục vụ chiến tranh.

Dù có một nền kinh tế kế hoạch chỉ huy hoàn hảo đi chăng nữa thì nhà nước vẫn không thể giải quyết được vấn nạn thuộc về bản chất là không thể kiểm soát các DNNN. Nhà nước – do đủ thứ nguyên nhân và quan hệ chồng chéo – không bao giờ có thể có được đầy đủ và chính xác các thông tin cần thiết cho việc kiểm soát toàn diện hoạt động của DNNN.

Kinh nghiệm của rất nhiều nước cũng chỉ ra rằng chỉ có thể lựa chọn dứt khoát hoặc là kinh tế thị trường hoặc là kinh tế kế hoạch chứ không thể kết hợp cả hai. Là thành viên WTO, chúng ta đã không chỉ cam kết xây dựng kinh tế thị trường, mà còn có nghĩa vụ tự do hoá thị trường.

Kinh tế thị trường – thông qua thị trường và cạnh tranh tự do, lành mạnh – giải quyết hiệu quả hầu hết các vấn đề của doanh nghiệp, của hoạt động kinh tế. Nhưng kinh tế thị trường làm phát sinh những vấn đề xã hội mà không phải lúc nào thị trường cũng có thể giải quyết ổn thoả. Chính là ở đây, nhà nước mới có trách nhiệm, nghĩa vụ và được phép hoạt động thay thị trường. Tuy nhiên, hoạt động kinh tế này của nhà nước phải tuân thủ ba nguyên tắc: (1) Chỉ can thiệp vào nơi và khi thị trường đã tỏ ra bất lực; (2) Nguyên tắc trợ giúp; (3) Hạn chế đến mức thấp nhất tác động làm sai lệch môi trường cạnh tranh, làm hạn chế quyền tự do kinh doanh của công dân.

Continue reading

QUAN LÝ XÃ HỘI BẰNG PHÁP LUẬT: Đúng nhưng chưa đủ

THS. MAI BỘ – Tòa án quân sự Trung ương

Nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về hình thái kinh tế – xã hội chúng tôi thấy, ngoài các yếu tố về chính trị, tư tưởng, văn hoá, thì thượng tầng kiến trúc còn bao gồm các yếu tố rất quan trọng là pháp luật và đạo đức…

Hai yếu tố này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với hạ tầng cơ sở. Xét trên bình diện công cụ quản lý, thì pháp luật và đạo đức là hai công cụ quan trọng của việc quản lý xã hội.

Thứ nhất, nói về pháp luật thì tại Điều 12 Hiến pháp nước ta khẳng định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Như vậy, trong đạo luật gốc, Nhà nước ta khẳng định pháp luật là công cụ quản lý xã hội. Trên phương diện lý luận, thì pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng được tạo nên bởi cơ sở hạ tầng là quan hệ sản xuất; và có nhiệm vụ điều chỉnh quan hệ sản xuất. Nếu pháp luật phù hợp với các yếu tố của hạ tầng cơ sở (trong đó có quan hệ sản xuất), thì nó thúc đẩy quá trình phát triển quan hệ kinh tế và làm tăng trưởng kinh tế. Ngược lại, nếu pháp luật không phù hợp với các yếu tố của hạ tầng cơ sở, thì nó kìm hãm sự phát triển quan hệ kinh tế và làm giảm khả năng tăng trưởng kinh tế.

Nói tới pháp luật và để có pháp luật chuẩn (phù hợp và có khả năng điều chỉnh quan hệ sản xuất theo hướng tích cực), thì phải nói tới các môi trường tồn tại của pháp luật và đòi hỏi pháp luật phải tốt ở tất cả những môi trường tồn tại của nó. Vậy, pháp luật tồn tại ở những môi trường nào? Chúng tôi cho rằng, pháp luật tồn tại ở ba môi trường là: xây dựng pháp luật; thực hiện pháp luật; và ý thức pháp luật.

Ở môi trường xây dựng pháp luật, thì có thể nói với sự cố gắng hết mình dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội và các cơ quan có thẩm quyền đã nghiên cứu và ban hành một hệ thống đồ sộ các văn bản pháp luật để điều chỉnh các lĩnh vực quan hệ xã hội. Như vậy, có thể nói chúng ta không thiếu các văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ kinh tế nói riêng.

Tuy nhiên, ở môi trường thực hiện pháp luật thì mặc dù đã có rất nhiều cố gắng của các cơ quan thực thi pháp luật và đạt được rất nhiều thành quả nhất là sự tăng trưởng kinh tế trong 10 năm thực hiện Cương lĩnh nhưng vẫn nổi lên vấn đề là pháp luật không nghiêm. Nguyên nhân của nó là việc tổ chức thi hành pháp luật. Tình trạng cố tình vi phạm pháp luật hoặc lách luật vì động cơ cục bộ hoặc động cơ cá nhân xảy ra phổ biến ở nhiều cơ quan, tổ chức và công dân.

Continue reading

QUAN LÝ XÃ HỘI BẰNG PHÁP LUẬT ĐÚNG NHƯ CHƯA ĐỦ

THS. MAI BỘ – Tòa án quân sự Trung ương

Nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về hình thái kinh tế – xã hội chúng tôi thấy, ngoài các yếu tố về chính trị, tư tưởng, văn hoá, thì thượng tầng kiến trúc còn bao gồm các yếu tố rất quan trọng là pháp luật và đạo đức…

Hai yếu tố này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với hạ tầng cơ sở. Xét trên bình diện công cụ quản lý, thì pháp luật và đạo đức là hai công cụ quan trọng của việc quản lý xã hội.

Thứ nhất, nói về pháp luật thì tại Điều 12 Hiến pháp nước ta khẳng định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa". Như vậy, trong đạo luật gốc, Nhà nước ta khẳng định pháp luật là công cụ quản lý xã hội. Trên phương diện lý luận, thì pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng được tạo nên bởi cơ sở hạ tầng là quan hệ sản xuất; và có nhiệm vụ điều chỉnh quan hệ sản xuất. Nếu pháp luật phù hợp với các yếu tố của hạ tầng cơ sở (trong đó có quan hệ sản xuất), thì nó thúc đẩy quá trình phát triển quan hệ kinh tế và làm tăng trưởng kinh tế. Ngược lại, nếu pháp luật không phù hợp với các yếu tố của hạ tầng cơ sở, thì nó kìm hãm sự phát triển quan hệ kinh tế và làm giảm khả năng tăng trưởng kinh tế.

Nói tới pháp luật và để có pháp luật chuẩn (phù hợp và có khả năng điều chỉnh quan hệ sản xuất theo hướng tích cực), thì phải nói tới các môi trường tồn tại của pháp luật và đòi hỏi pháp luật phải tốt ở tất cả những môi trường tồn tại của nó. Vậy, pháp luật tồn tại ở những môi trường nào? Chúng tôi cho rằng, pháp luật tồn tại ở ba môi trường là: xây dựng pháp luật; thực hiện pháp luật; và ý thức pháp luật.

Ở môi trường xây dựng pháp luật, thì có thể nói với sự cố gắng hết mình dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội và các cơ quan có thẩm quyền đã nghiên cứu và ban hành một hệ thống đồ sộ các văn bản pháp luật để điều chỉnh các lĩnh vực quan hệ xã hội. Như vậy, có thể nói chúng ta không thiếu các văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ kinh tế nói riêng.

Tuy nhiên, ở môi trường thực hiện pháp luật thì mặc dù đã có rất nhiều cố gắng của các cơ quan thực thi pháp luật và đạt được rất nhiều thành quả nhất là sự tăng trưởng kinh tế trong 10 năm thực hiện Cương lĩnh nhưng vẫn nổi lên vấn đề là pháp luật không nghiêm. Nguyên nhân của nó là việc tổ chức thi hành pháp luật. Tình trạng cố tình vi phạm pháp luật hoặc lách luật vì động cơ cục bộ hoặc động cơ cá nhân xảy ra phổ biến ở nhiều cơ quan, tổ chức và công dân.

Continue reading

CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN TRUYỀN THỐNG

TỪ THẢO – Global Invest Co.ltd

– Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) là một loại hình công ty, một mô hình tổ chức kinh doanh trong nền kinh tế thị trường như các loại hình tổ chức kinh doanh khác.

– Công ty TNHH là một pháp nhân – một thực thể pháp lý trừu tượng và độc lập (trong tiếng Anh gọi là artificial legal person hay Separate legal entity). Công ty độc lập và tách bạch hoàn toàn với các chủ thể đã tạo lập ra nó và đưa tài sản taọ lập nên tài sản của nó về mặt pháp luật.

– Thành viên công ty không nhiều, thường bị giới hạn ở mức tối đa và thường là những người quen biết nhau. Các nhà làm luật thường không chấp nhận mô hình công ty này có số lượng thành viên quá lớn. Bên cạnh đó, các thành viên của mô hình công ty này thường có mối quan hệ với nhau về nhân thân: có thể là người trong dòng họ, gia đình hay bạn bè, thân thiết ở mức độ có thể tin cậy và chia sẻ. Tính chất của các mối quan hệ này gần giống như của công ty đối nhân (mà điển hình là các hơp danh – partnership).

– Bản chất của loại công ty này mang tính đóng chứ không mở như công ty cổ phần. Đặc tính này có liên quan chặt chẽ đến việc huy động vốn từ công chúng của loại công ty này trong sự so sánh với công ty cổ phần. Các loại công ty này thường không được quyền huy động vốn từ công chúng thông qua phát hành chứng khoán ra công chúng một cách công khai. Tuy nhiên, vấn đề cụ thể của việc phát hành chứng khoán có khác nhau ở các quốc gia. Có quốc gia cấm công ty TNHH phát hành mọi loại chứng khoán, có quốc gia cho phép nó phát hành giấy nhận nợ – trái phiếu (debenture) để vay vốn từ bên ngoài… Tuy nhiên, tất cả các nước đều không cho nó phát hành cổ phiếu (Shares) để huy động vốn từ công chúng vì nếu cho phép nó phát hành cổ phiếu vì nếu cho phép nó phát hành cổ phiếu,khi đó nó sẽ trở thành công ty cổ phần. Dù khả năng huy động vốn từ công chúng đến đâu, tất cả đều không thể làm thay đổi tư cách và số lượng thành viên bằng việc phát hành chứng khoán. Về cơ bản, chứng khoán có hai loại: các chứng chỉ đầu tư ở dạng cổ phiếu để trở thành cổ đông công ty và loại thứ hai là các trái phiếu ghi nợ, ai là chủ sở hữu thì họ là chủ nợ của công ty. Tính khép kín, tính đóng của loại công ty này không cho phép nó phát hành cổ phiếu vì phát hành cổ phiếu là huy động thêm vốn điều lệ, người mua nó sẽ trở thành chủ sở hữu, trở thành thành viên của công ty.

Continue reading

VAI TRÒ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA ĐẠI LÝ BẢO HIỂM TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM

THS. LÊ THỊ THẢO – Khoa Luật, ĐạI học Huế

1. Đặt vấn đề

Sau hơn 20 năm đổi mới và mở cửa thị trường bảo hiểm, ngành bảo hiểm Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ. Cùng với sự lớn mạnh của ngành bảo hiểm, Luật Kinh doanh bảo hiểm (KDBH) được Quốc hội thông qua đã tạo một nền tảng pháp lý cho hoạt động bảo hiểm phát triển ở Việt Nam. Hiện nay, trên địa bàn cả nước đã có 29 doanh nghiệp và hơn 30 văn phòng đại diện nước ngoài hoạt động trong tất cả các lĩnh vực bảo hiểm với các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH): công ty bảo hiểm nhà nước, DNBH cổ phần và DNBH có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập và tham gia trong nhiều lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm. Với doanh thu của các loại hình bảo hiểm trên địa bàn cả nước hằng năm đã đạt 900 triệu USD, tốc độ tăng trưởng khoảng 30%/năm, Việt Nam đang được coi là mảnh đất màu mỡ của các tập đoàn KDBH nước ngoài. Bên cạnh sự ra đời và thành công của DNBH không thể không tính đến vai trò của đại lý bảo hiểm (ĐLBH).

Các công ty bảo hiểm muốn kinh doanh hiệu quả, tăng doanh thu, phí bảo hiểm, tăng số lượng hợp đồng khai thác mới, tăng số lượng khách hàng thì phải có một hệ thống đại lý hoạt động hiệu quả, chuyên nghiệp và có tinh thần trách nhiệm cao; đồng thời, tạo niềm tin và sự quảng bá để tăng cường khách hàng tham gia và có điều kiện tiếp cận với các loại dịch vụ bảo hiểm thì hoạt động của các đại lý phải đảm bảo niềm tin cho khách hàng và gắn kết trách nhiệm của đại lý với hoạt động kinh doanh của đại lý và xiết chặt cơ chế quản lý đối với ĐLBH. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến vai trò và trách nhiệm của đại lý trong hoạt động bảo hiểm của DNBH, trên cơ sở đó, đề xuất ý kiến nhằm tăng cường trách nhiệm của ĐLBH góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động KDBH, tạo động lực để hoạt động bảo hiểm trở thành một kênh tài chính hữu hiệu cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế đất nước.

2. Vai trò và trách nhiệm của đại lý bảo hiểm trong quan hệ KDBH

Cá nhân và tổ chức trung gian đứng ra làm chủ thể phân phối bảo hiểm được chính thức ghi nhận với tư cách là “ĐLBH” tại Việt Nam trong Nghị định số 100/NĐ-CP ban hành ngày 18/12/1993: “ĐLBH là cá nhân có đủ điều kiện quy định tại Điều 19 của Nghị định này hoạt động ĐLBH”; Theo quy định tại Điều 19 thì “Hoạt động ĐLBH phải trên cơ sở hợp đồng đại lý ký kết với DNBH. Cá nhân hoạt động ĐLBH phải có đủ các điều kiện sau:

Continue reading