BÁO CÁO TÌNH HÌNH ĐÀO TẠO THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG NĂM 2010

CỤC THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, BỘ CÔNG THƯƠNG – Ngày 12 tháng 7 năm 2010, Quyết định số 1073/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2011 – 2015 (sau đây gọi tắt là Quyết định 1073) đã được ban hành. Kế hoạch tổng thể đặt ra mục tiêu tổng quát: “Thương mại điện tử được sử dụng phổ biến và đạt mức tiên tiến trong các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Kế hoạch tổng thể đã ưu tiên việc phát triển nguồn nhân lực về TMĐT, coi đây là một trong những giải pháp quan trọng nhất để đạt được mục tiêu trên.

Kế thừa những thành tựu đã đạt được từ việc thực hiện Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 – 2010, nội dung phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn 05 năm sắp tới tập trung vào hai nội dung chủ yếu là phổ biến, tuyên truyền nâng cao nhận thức về lợi ích của TMĐT và đẩy mạnh đào tạo chính quy về TMĐT.

Ngày 01 tháng 6 năm 2009, Quyết định số 698/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 đã được ban hành, trong đó nhiều giải pháp để nâng cao về chất lượng và số lượng nguồn nhân lực CNTT Việt Nam. Theo Quyết định của Thủ tướng, mục tiêu đến năm 2015 có khoảng 30% số lượng sinh viên CNTT, điện tử, viễn thông sau khi tốt nghiệp ở các trường đại học có đủ khả năng chuyên môn và ngoại ngữ để có thể tham gia thị trường lao động quốc tế; ở các trường đại học, cao đẳng bảo đảm đạt tỷ lệ trung bình 15 – 20 sinh viên/giảng viên trong đào tạo CNTT; 70% số giảng viên CNTT ở đại học và trên 50% giảng viên CNTT ở cao đẳng có trình độ thạc sĩ trở lên; tăng nhanh số giảng viên có trình độ tiến sĩ; đến năm 2015, cung cấp cho các doanh nghiệp 250.000 lao động chuyên môn về CNTT, điện tử, viễn thông có trình độ từ trung cấp chuyên nghiệp và sơ cấp nghề (đào tạo 1 năm) trở lên, trong đó có 50% lao động có trình độ cao đẳng, đại học và 5% có trình độ thạc sĩ trở lên.v.v..

Một trong những nhân tố quan trọng để đạt được mục tiêu phát triển nguồn nhân lực TMĐT trên cơ sở huy động nguồn lực của toàn xã hội là xây dựng một xã hội học tập được đào tạo liên tục, tự học, thường xuyên trau dồi kỹ năng, kiến thức, phát triển trí tuệ và sự sáng tạo. Với sự phát triển nhanh chóng của CNTT và truyền thông, đào tạo trực tuyến đã ra đời mở ra một kỷ nguyên mới cho lĩnh vực giáo dục đào tạo và đem lại những lợi ích to lớn cho các chủ thể tham gia. Do đó, ứng dụng đào tạo trực tuyến trong hoạt động đào tạo TMĐT theo hướng khuyến khích các tổ chức đầu tư, phát triển công nghệ đào tạo trực tuyến, hỗ trợ các trường đại học và doanh nghiệp liên kết trong việc thiết kế nội dung, giáo trình đào tạo trực tuyến, hỗ trợ về vốn và các ưu đãi về thuế.v.v.. là những phương hướng mới được đề ra trong Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử trong giai đoạn 2011 – 2015.

Continue reading

ỦY QUYỀN CHO NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC ĐẾN ĐÂU?

LS. LÊ TRỌNG DŨNG – Công ty Luật TNHH InvestPro&HoàngGiao

Để nâng cao hiệu quả quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp khác, Chính phủ đã có chính sách tìm người giỏi, thạo việc điều hành để thuê họ đại diện phần góp vốn Nhà nước. Cụ thể, SCIC (Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước) đang tăng cường tìm kiếm người giỏi để thuê và ủy quyền cho họ đại diện phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp có vốn của Nhà nước.

Những văn bản hướng dẫn cụ thể về địa vị pháp lý, xác định nghĩa vụ, chế độ đãi ngộ của người đại diện phần vốn nhà nước vẫn đang được Chính phủ chuẩn bị cho ra đời. Nhưng nếu tôn trọng tự do thỏa thuận, trên cơ sở Bộ luật Dân sự 2005, Luật Doanh nghiệp 2005, vẫn có thể thiết kế ra thỏa thuận thuê người đại diện phần vốn nhà nước đáp ứng được mục tiêu.

Để không lúng túng khi xác định các quyền, nghĩa vụ cụ thể của người đại diện phần vốn nhà nước, tránh thất bại như kế hoạch thuê giám đốc trước đây, văn bản thỏa thuận thuê người đại diện phần vốn nhà nước cần phải xác định rõ phạm vi ủy quyền, thiết kế đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu và người đại diện vốn nhà nước.

Ủy quyền đến đâu?

Phần lớn doanh nghiệp mà Nhà nước có vốn góp là các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã cổ phần hóa hoặc công ty TNHH nhà nước một thành viên, hiện nay đã hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005. Khi tham gia với vai trò là cổ đông/thành viên, với số vốn lớn, chủ sở hữu vốn nhà nước có thể tham gia cho ý kiến và quyết định các hoạt động trong doanh nghiệp. Thông thường những người được chủ sở hữu thuê làm đại diện phần vốn nhà nước sẽ được tham gia vào những chức vụ lãnh đạo như chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc để quản lý, điều hành doanh nghiệp theo hướng đi có lợi cho chủ sở hữu.

Để người đại diện phần vốn góp hành động phù hợp với ý chí của chủ sở hữu, cần phải xác định rõ một phạm vi ủy quyền nhất định. Nếu phạm vi ủy quyền càng rộng thì người được đại diện vốn nhà nước càng có nhiều quyền chủ động quyết định các hoạt động của doanh nghiệp. Và khi trao quyền cho người đại diện phần vốn góp, cần lưu ý đến phạm vi ủy quyền được quy định tại điều 144, Bộ luật Dân sự 2005. Theo đó, về nguyên tắc phạm vi ủy quyền được xác lập trên cơ sở thỏa thuận của các bên, người đại diện phần vốn nhà nước có thể được chủ sở hữu trao toàn bộ quyền lực hoặc trao một vài quyền nhất định.

Continue reading

TIÊU CHUẨN ĐỂ ĐỨNG TÊN TÁC GIẢ BÀI VIẾT KHOA HỌC

NGUYỄN VĂN TUẤN

Có phải Shakespeare là tác giả của các vở kịch Much ado about nothing, King Lear, Hamlet, Othello? Có phải Đoàn Thị Điểm là người dịch Chinh phụ ngâm? Những câu hỏi đó thoạt đầu mới nghe qua thì có vẻ lạ lùng và không cần thiết, nhưng xét một cách khách quan, ngày xưa người ta chưa có một hệ thống và chứng cứ để xác định tác giả của một tác phẩm.

Ngày nay, dù có hệ thống và tiêu chuẩn cho một tác giả, thực tế vẫn có những trường hợp mà người đứng tên tác giả một công trình khoa học nhưng chẳng có đóng góp một tí nào, cho dù là một chữ, trong công trình đó. Vấn đề này trở nên thời sự khi “sự cố đạo văn” trong khoa học được báo chí phanh phui gần đây.

Bài báo khoa học không chỉ thể hiện kết cục của một công trình nghiên cứu, mà ở góc độ cá nhân còn thể hiện một thành tựu của nhà khoa học. Trong thực tế số bài báo khoa học vẫn là một trong những tiêu chí quan trọng trong việc đề bạt chức danh khoa bảng.

Ví dụ, nghiên cứu cho thấy trong ngành y khoa những cá nhân được đề bạt chức danh giáo sư thường có số bài báo khoa học cao gấp hai lần những người không được đề bạt (*). Do đó, có thể nói không ngoa rằng bài báo khoa học là một đơn vị tiền tệ trong học thuật và nghiên cứu khoa học.

Một công trình nghiên cứu khoa học thường có nhiều tác giả, chuyên gia đóng góp từ ý tưởng, chọn mô hình nghiên cứu, xác định phương pháp, cách thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, soạn thảo và diễn giải kết quả nghiên cứu, đến công bố bài báo khoa học. Mỗi bài báo thường có năm tác giả (tính trung bình), nhưng cũng có khi con số tác giả lên đến hàng trăm! Thật vậy, những công trình nghiên cứu đa quốc gia trong vài năm gần đây, có khi số tác giả quá nhiều (500 người), tập san phải đăng tên họ trong một phụ trang.

Do đó, đứng trước một bài báo có nhiều tác giả, người đọc (kể cả các ủy ban đề bạt chức danh giáo sư) phải hỏi về vai trò và mức độ đóng góp cho công trình nghiên cứu của từng tác giả như thế nào, và ai đủ tư cách đứng tên tác giả bài báo khoa học. Vấn đề này dẫn đến bàn luận giữa các tổng biên tập về việc đề ra tiêu chuẩn cho tác giả bài báo khoa học.

Continue reading