NGUYÊN NHÂN ĐÌNH CÔNG Ở MỘT SỐ DOANH NGHIỆP TRONG THỜI GIAN QUA

THS. ĐỖ THỊ VÂN ANH – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

Sau gần 25 năm đổi mới, từ một quốc gia nghèo, Việt Nam đã trở thành một quốc gia có mức thu nhập trung bình trên thế giới. Tất nhiên, đồng thời với sự phá triển, bao giờ cũng nảy sinh các mâu thuẫn trong đời sống xã hội. Một hiện tượng xã hội mới xuất hiện và cũng thể hiện sự mâu thuẫn đó là mối quan hệ vừa đấu tranh, vừa hợp tác giữa người sử dụng lao động và người lao động trong những năm gần đây.

Đình công là hiện tượng không mới trong quá trình công nghiệp hóa trên thế giới, nhằm bảo đảm sự công bằng xã hội. Và cách xử lý nó như thế nào lại phản ánh bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang theo đuổi. Đây cũng là vấn đề phức tạp, đang được tranh luận khá sôi nổi ở một số diễn đàn khoa học trong nước. Để góp phần vào việc giảm thiểu xung đột giữa người lao động và giới chủ, tiến tới loại bỏ đình công, việc tìm hiểu những nguyên nhân dẫn tới đình công trong các doanh nghiêp (DN), cả nhà nước lẫn tư nhân, là rất cần thiết.

Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, từ năm 1995, khi Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành, đến hết tháng 4 – 2009, cả nước đã có 2.697 cuộc đình công. Trong đó, có 89 cuộc ở doanh nghiệp nhà nước (DNNN), 1.983 cuộc ở doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 625 cuộc ở doanh nghiệp ngoài nhà nước.

Bảng 1. Đình công trong các doanh nghiệp từ năm 1995 đến ngày 15-4-2009

Presentation1

Nguồn: Báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

Giai đoạn 1995 – 1999 xảy ra 307 cuộc, chiếm 11,38%; giai đoạn 2000 – 2004 xảy ra 525 cuộc, chiếm 19,46%. Như vậy, mức độ xảy ra đình công có xu hướng tăng nhanh ở các năm về sau. Trong giai đoạn 2005 – 2009, số cuộc đình công tăng gấp 6,07 lần so với giai đoạn 1995 – 1999 và gấp 3,55 lần so với giai đoạn 2000 – 2004.

Continue reading

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: BIẾN TIỀN ĐẶT CỌC THÀNH TIỀN MUA ĐẤT

VĂN ĐOÀN

TAND cùng VKSND tỉnh và Ban Pháp chế HĐND tỉnh Đồng Nai cùng thống nhất phải kiến nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm vì bản án tuyên sai.

Hơn năm năm trước, bà H. (huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai) mua một mảnh đất của vợ chồng ông C. với giá 350 triệu đồng. Hai bên thống nhất, bà H. đặt cọc trên 200 triệu đồng, sẽ thanh toán hết khi đã nhận được giấy tờ đất. Bên bán sẽ đền cọc gấp đôi nếu vi phạm thỏa thuận…

Tòa không cho phạt cọc

Theo bà H., một thời gian sau, vợ chồng ông C. không chịu thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết nên bà kiện đòi tiếp tục hợp đồng, nếu không thì phải bồi thường thiệt hại theo giá đất thị trường…

Phía ông C. giải thích, số tiền trên 200 triệu đồng trên là ông mượn bà này chứ không phải là tiền mua bán đất. Tuy nhiên, hai bên lại thể hiện bằng hợp đồng mua bán. Khi đến hạn, vợ chồng ông nhiều lần gọi bà H. đến để trả nợ nhưng bà không tới lấy tiền mà kiện ông ra tòa. Do đó, vợ chồng ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H.

Xử sơ thẩm đầu năm 2006, TAND huyện Nhơn Trạch đã bác khai nại của bên bán vì không có chứng cứ chứng minh việc mượn tiền. Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H., buộc bên bán phải trả cho bà gần 3 tỉ đồng (giá trị đất theo giá thị trường tại thời điểm xét xử) vì không tiếp tục hợp đồng. Tòa nhận định bà H. đã giao trên 200 triệu đồng cho bên bán, chiếm hơn 3/4 giá trị hợp đồng chuyển nhượng đất. Điều này cho thấy khoản tiền trên mang ý nghĩa ở giai đoạn thanh toán hợp đồng chứ không phải là khoản tiền đặt cọc. Do đó, không thể cho rằng đây là tiền cọc để xử lý bồi thường gấp đôi như đôi bên đã thỏa thuận…

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: RỐI VÌ HỒ SƠ ÁN GỬI BƯU ĐIỆN BỊ MẤT

PHƯƠNG NAM

Hồ sơ một vụ tranh chấp đất trị giá bạc tỉ được TAND Tối cao gửi bưu điện về tòa cấp dưới đã bị thất lạc. Đương sự khóc ròng vì hồ sơ rất khó phục hồi để xét xử lại.

Hơn bảy năm trước, bà L. cho một người quen mượn trên 30.000 m2đất tại TP Phan Thiết (Bình Thuận) để canh tác. Theo bà, làm được một thời gian, người này đã lấy luôn đất của bà. Năm 2003, bà khởi kiện đòi lại tài sản.

Chờ mãi không thấy hồ sơ

Sau ba năm thụ lý vụ kiện, tháng 5-2006, TAND TP Phan Thiết bất ngờ ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Không đồng tình với quyết định này, bà L. kháng cáo. Tuy nhiên, TAND tỉnh Bình Thuận đã bác kháng cáo của bà. Thấy bị thiệt thòi, bà liền gửi đơn kiến nghị đến TAND Tối cao đề nghị giám đốc thẩm…

Nhận được đơn, TAND Tối cao đã rút toàn bộ hồ sơ vụ kiện lên để xem xét. Tháng 5-2009, chánh án TAND Tối cao ra quyết định kháng nghị vì việc đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng, không đảm bảo quyền lợi của các đương sự.

Sau đó, TAND Tối cao ra quyết định giám đốc thẩm tuyên hủy quyết định sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho TAND TP Phan Thiết giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Ngày 29-9-2009, TAND Tối cao gửi toàn bộ hồ sơ vụ án đến TAND TP Phan Thiết theo dạng bưu phẩm bảo đảm thông qua dịch vụ của Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel. Thế nhưng sau gần năm tháng ròng rã chờ đợi, bà L. chẳng thấy TAND TP Phan Thiết xét xử lại. Nóng lòng, bà lại lục đục đi khiếu nại. Lúc này bà mới bật ngửa ra rằng nơi đây chưa hề nhận được hồ sơ vụ án nên không thể đưa vụ án ra xét xử.

Nhân viên bưu điện làm ẩu

Không tin hồ sơ vụ án đòi số diện tích trị giá bạc tỉ của mình bỗng dưng biến mất, bà L. vội vã gửi đơn đến TAND Tối cao yêu cầu làm rõ. Tòa này cũng vội vàng tổ chức xác minh phiếu báo do Viettel gửi về văn phòng liên quan đến gói bưu phẩm nói trên. Qua kiểm tra, tòa phát hiện có chữ ký kèm tên người nhận là bà Q., nhân viên văn thư TAND TP Phan Thiết. Tuy nhiên, giám định chữ ký và chữ viết thì đó không phải là chữ do bà Q. viết ra.

Continue reading

CÓ NÊN ĐỊNH GIÁ CÁC QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

BÙI HUYỀN

Ngày càng có nhiều người công nhận rằng, quyền sở hữu trí tuệ như một tài sản và công cụ của một doanh nghiệp có thể đóng góp đáng kể cho thành công của doanh nghiệp. Sự thật là việc tiềm lực này tồn tại cho các doanh nghiệp thu lợi từ các danh mục quyền sở hữu trí tuệ của họ đã dẫn tới một mối quan tâm nhiều hơn về định giá các quyền sở hữu trí tuệ.

Ở đây nên quan tâm tới sự khác nhau giữa giá cả và giá trị của một tài sản sở hữu trí tuệ. Giá cả chủ yếu được xác định như những thứ mà một người mua sẵn sàng trả, trong một giao dịch bình thường dựa vào giá trị được nhận thấy của sản phẩm. Giá trị là trừu tượng nhưng những tính toán số lượng tất định dựa trên một loạt các phương pháp và luật lệ được kiểm định theo đúng trật tự. Nói cách khác, mặc dù giá trị sở hữu trí tuệ có thể ảnh hưởng tới việc định giá một tài sản sở hữu trí tuệ cũng không nhất thiết phải giống như việc định giá cả. Việc định giá thường bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác bao gồm thời gian, nhu cầu, lý do bán và những kỹ năng đàm phán của các bên liên quan.

Các công cụ được sử dụng cho việc định giá các sản phẩm sở hữu trí tuệ có thể giúp các doanh nghiệp quản lý các danh mục quyền sở hữu trí tuệ của họ một cách thực tế và hiệu quả hơn. Việc định giá các quyền sở hữu trí tuệ đưa ra một tiêu chuẩn so sánh hữu ích và cơ sở đàm phán về việc chuyển nhượng hoặc mua các tài sản thuộc quyền sở hữu trí tuệ.

Trước khi một doanh nghiệp bắt tay vào việc định giá các giá trị tài sản quyền sở hữu trí tuệ thì cần phải trả lời các câu hỏi sau:

  • Tại sao doanh nghiệp quyết định định giá các quyền sở hữu trí tuệ?
  • Khi nào cần và sử dụng các thông tin (kết quả của việc định giá trị này)?
  • Quyền sở hữu trí tuệ nào cần được định giá?
  • Phương pháp định giá nào nên được áp dụng?
  • Những cân nhắc khi định giá quyền sở hữu trí tuệ

Continue reading