Về tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam SAU GẦN 5 NĂM THÍ ĐIỂM HOẠT ĐỘNG

TS. ĐINH LA THĂNG – Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam

Thực hiện thí điểm hoạt động các tập đoàn kinh tế trong gần 5 năm qua là đưa Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa IX của Đảng vào cuộc sống. Tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện mô hình này là đòi hỏi khách quan và thực tiễn để xây dựng những tập đoàn kinh tế mạnh ở Việt Nam đủ sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế, thực hiện tốt mục tiêu bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chủ trương phát triển các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3(khóa IX) có nêu: Hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối lớn trong nền kinh tế quốc dân, có quy mô rất lớn về vốn, hoạt động cả trong nước và ngoài nước, có trình độ công nghệ cao và quản lý hiện đại, đào tạo, nghiên cứu triển khai với sản xuất kinh doanh. Thí điểm hình thành tập đoàn kinh tế trong một số lĩnh vực có điều kiện, có thế mạnh, có khả năng phát triển để cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả như: dầu khí, viễn thông, điện lực, xây dựng…

Triển khai thực hiện Nghị quyết trên, Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng thí điểm mô hình tập đoàn kinh tế từ đầu năm 2005 nhằm thực hiện các mục tiêu: 1 – Tập trung đầu tư và huy động các nguồn lực hình thành nhóm công ty có quy mô lớn trong các ngành, lĩnh vực then chốt, phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế; 2 – Bảo đảm các cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân, ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển cho các ngành, các lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế; thúc đẩy liên kết trong chuỗi giá trị gia tăng, phát triển các thành phần kinh tế khác; 3 – Tăng cường quản lý, giám sát có hiệu quả đối với vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp trong tập đoàn; 4 – Tạo cơ sở để hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về tập đoàn kinh tế.

Continue reading

VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM SAU GẦN 5 NĂM THÍ ĐIỂM HOẠT ĐỘNG

TS. ĐINH LA THĂNG – Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam

Thực hiện thí điểm hoạt động các tập đoàn kinh tế trong gần 5 năm qua là đưa Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa IX của Đảng vào cuộc sống. Tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện mô hình này là đòi hỏi khách quan và thực tiễn để xây dựng những tập đoàn kinh tế mạnh ở Việt Nam đủ sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế, thực hiện tốt mục tiêu bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chủ trương phát triển các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3(khóa IX) có nêu: Hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối lớn trong nền kinh tế quốc dân, có quy mô rất lớn về vốn, hoạt động cả trong nước và ngoài nước, có trình độ công nghệ cao và quản lý hiện đại, đào tạo, nghiên cứu triển khai với sản xuất kinh doanh. Thí điểm hình thành tập đoàn kinh tế trong một số lĩnh vực có điều kiện, có thế mạnh, có khả năng phát triển để cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả như: dầu khí, viễn thông, điện lực, xây dựng…

Triển khai thực hiện Nghị quyết trên, Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng thí điểm mô hình tập đoàn kinh tế từ đầu năm 2005 nhằm thực hiện các mục tiêu: 1 – Tập trung đầu tư và huy động các nguồn lực hình thành nhóm công ty có quy mô lớn trong các ngành, lĩnh vực then chốt, phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế; 2 – Bảo đảm các cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân, ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển cho các ngành, các lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế; thúc đẩy liên kết trong chuỗi giá trị gia tăng, phát triển các thành phần kinh tế khác; 3 – Tăng cường quản lý, giám sát có hiệu quả đối với vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp trong tập đoàn; 4 – Tạo cơ sở để hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về tập đoàn kinh tế.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PL VỀ XÁC LẬP QUYỀN ĐỐI VỚI TÀI SẢN: HAI CON GẤU NGỰA “LÀM RỐI” CƠ QUAN NHÀ NƯỚC!

CẨM TÚ

Chủ gấu bị cưỡng chế thu hồi đất “làm ngơ” hai con gấu, quận phải gửi cho Thảo Cầm Viên nuôi hộ. Thảo Cầm Viên chịu hết xiết đòi trả lại thì quận chẳng biết phải chuyển gấu đi đâu.

“Nhắc tới hai con gấu ngựa là chúng tôi nhức đầu. Mình không lường được tình huống này bởi trước nay chưa từng có, không ngờ nó phát sinh rắc rối như vậy” – ông Nguyễn Văn Út, Trưởng Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng quận 9, TP.HCM, than.

Mất trăm triệu đồng cơm nước cho… gấu

Ông Nguyễn Xuân Ngữ ngụ quận Gò Vấp có mảnh đất diện tích hơn 3.600 m2 tại phường Long Thạnh Mỹ, quận 9 làm nhà ở, trồng cây, nuôi cá và có cái chuồng nuôi hai con gấu ngựa. Đất này thuộc dự án Khu công nghệ cao nên ông bị giải tỏa. Do không tự nguyện bàn giao mặt bằng nên tháng 5-2009, cơ quan chức năng đã tiến hành cưỡng chế thu hồi đất.

Tuy nhiên, ông Ngữ không chịu di dời các tài sản gắn liền trên đất. Do đó, buộc lòng quận phải cưỡng chế di dời số tài sản trên, trong đó có hai con gấu ngựa của ông Ngữ. Chúng được gửi vào Thảo Cầm Viên chăm sóc tạm thời. Nhưng từ lúc gửi gấu ngựa đến nay, chi phí nuôi dưỡng gấu mà Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng đã phải trả lên đến cả trăm triệu đồng, gần bằng mua hai con gấu mới.

“Hội đồng thẩm định của Sở Tài chính cho biết về nguyên tắc, chi phí cưỡng chế do người bị cưỡng chế phải chịu. Do đó, chủ gấu phải trả tiền nuôi gấu. Tuy nhiên, QĐ 69/2008 do UBND TP ban hành thì cho phép trích 2% trên tổng kinh phí của dự án để ban bồi thường làm chi phí đảm bảo thực hiện bồi thường hộ trợ tái định cư. Trong các khoản chi, có nội dung chi cho công tác cưỡng chế thu hồi đất nếu không thu hồi được của người bị cưỡng chế. Bởi vậy giờ số tiền này chúng tôi chưa biết xử lý sao! ” – ông Út băn khoăn.

Continue reading