NGHỊ ĐỊNH SỐ 106/2010/NĐ-CP NGÀY 28 THÁNG 10 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 85/2007/NĐ-CP NGÀY 25 THÁNG 5 NĂM 2007 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT QUẢN LÝ THUẾ VÀ NGHỊ ĐỊNH SỐ 100/2008/NĐ-CP NGÀY 08 THÁNG 9 NĂM 2008 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Quản lý thuế ngày 29 tháng 11 năm 2006;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế như sau:

1. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 3 như sau:

“2. Việc ủy nhiệm thu thuế phải được thực hiện thông qua hợp đồng giữa thủ trưởng cơ quan quản lý thuế với cơ quan, tổ chức, cá nhân được ủy nhiệm thu, trừ một số trường hợp ủy nhiệm thu đối với các khoản thu nhập có tính chất không thường xuyên theo quy định của Bộ Tài chính.”

2. Bổ sung thêm khoản 5 Điều 4 như sau:

“5. Trường hợp người nộp thuế tạm ngừng hoạt động kinh doanh có văn bản đề nghị gửi cơ quan quản lý thuế trực tiếp thì không phải nộp hồ sơ khai thuế trong thời gian tạm ngừng hoạt động kinh doanh”.

3. Sửa đổi, bổ sung các khoản 1, 2 Điều 5 như sau:

“1. Khi có thay đổi thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế đã nộp, người nộp thuế phải thông báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp (ghi trên Giấy chứng nhận đăng ký thuế) trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày có sự thay đổi thông tin. Trường hợp nộp hồ sơ thay đổi thông tin đăng ký thuế theo trình tự, thủ tục một cửa liên thông theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh thì thực hiện theo trình tự, thủ tục đó.

2. Trường hợp có sự thay đổi trụ sở của người nộp thuế dẫn đến thay đổi cơ quan thuế quản lý trực tiếp ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác, người nộp thuế có trách nhiệm nộp đủ số tiền thuế đã khai hoặc đề nghị hoàn số tiền thuế nộp thừa trước khi thay đổi trụ sở và không phải quyết toán thuế với cơ quan thuế, trừ trường hợp thời điểm thay đổi trụ sở trùng với thời điểm quyết toán thuế năm.”

4. Sửa đổi, bổ sung Điều 7 như sau:

Điều 7. Khai thuế giá trị gia tăng.

1. Khai thuế giá trị gia tăng (trừ khai thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu) quy định như sau:

Continue reading

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT AN TỬ

TRƯƠNG HỒNG QUANG – Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

“Quyền được chết” được pháp luật một số nước coi là quyền nhân thân của con người và được quy định trong một đạo luật gọi là Luật An tử. Quyền được chết, hiểu một cách đơn giản là quyền của một người đã thành niên đang phải chịu sự đau đớn về thể chất hoặc tinh thần kéo dài và không thể chịu đựng được sau một tai nạn hay một bệnh lý không thể cứu chữa, rơi vào tình huống y tế không lối thoát1, nên đã chọn thực hiện quyền được chết.

Hiện nay, một số quốc gia như Hà Lan, Bỉ, Lúcxămbua, các bang của Hoa Kỳ đã thông qua đạo luật về an tử. Nhưng quyền được chết vẫn chưa được xem là quyền nhân thân trong pháp luật dân sự của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nguyên nhân của vấn đề này xuất phát từ nhiều khía cạnh khác nhau: trình độ lập pháp, các khía cạnh kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa… đã tác động làm cho quyền được chết trở thành cuộc chiến không chỉ dừng lại ở phạm vi lập pháp2. Chúng tôi xin đưa ra những nghiên cứu ban đầu về nội dung của một đạo luật quy định về quyền này.

1. Quyền được chết và khả năng xây dựng Luật An tử ở Việt Nam

Tại kỳ họp thứ 6 và 7 Quốc hội khóa XI (2004, 2005), Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách năm 2005, vấn đề quyền được chết đã được đưa vào Dự thảo sửa đổi Bộ Luật Dân sự và được khá nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm. Nhìn chung, các quan điểm đều nhìn nhận đây là một việc làm nhân đạo, nhưng lại là một vấn đề nhạy cảm, không phù hợp với đạo lý người Á Đông hiện nay. Hơn nữa, số lượng bệnh nhân giai đoạn cuối, mắc bệnh vô phương cứu chữa của Việt Nam còn ít so với thế giới3. Do đó, quyền được chết vẫn chưa được công nhận và thông qua tại Việt Nam.

Trong đại bộ phận dân cư, quyền được chết là một vấn đề còn xa lạ và còn có nhiều sự nhầm lẫn trong quan niệm cũng như nhận thức. Bên cạnh đó, phong tục, tập quán và truyền thống Á Đông đã chi phối đến việc tiếp cận những vấn đề mới, nhạy cảm có liên quan đến tín ngưỡng, văn hóa. Một điều phải công nhận là truyền thống phương Đông chúng ta luôn coi trọng sự sống con người, xem nó là thứ quý giá nhất. Từ lâu, quan niệm này đã ăn sâu vào gốc rễ tâm hồn mỗi người. Ngay cả phương Tây – nơi mà truyền thống, phong tục không quá nặng nề và tư tưởng “thoáng” hơn phương Đông – thì cũng chỉ có vài nước công nhận quyền được chết và lựa chọn cái chết êm ả. Nhưng ở phương Tây thì lý do để đa phần các quốc gia không chấp nhận an tử lại không phải là phong tục, tập quán mà là vì các lý do thuộc về luật pháp, tôn giáo và chính trị… Bên cạnh đó, sự lo sợ Luật An tử khi ban hành sẽ bị lạm dụng cũng góp phần thúc đẩy những quan điểm chống lại an tử phát triển như hiện nay.

Tại Hàn Quốc, năm 1997, bất chấp những đe dọa mạnh mẽ từ phía bác sĩ, một người vợ vẫn quyết định nên để cho người chồng 58 tuổi của mình tự chống đỡ với căn bệnh chảy máu não, do khó khăn tài chính của gia đình khiến bà này không thể làm khác hơn4. Tòa án ở địa phương đã kết án tù người vợ và hai bác sĩ vì đã để bệnh nhân – chồng của bà này, dù đang ở trong một tình trạng nguy kịch – vẫn phải rời khỏi bệnh viện mà không có biện pháp cứu chữa. Bộ luật Hình sự của Hàn Quốc quy định tội giết người cho bất cứ trường hợp nào kết thúc cuộc đời của người khác. Trong trường hợp này, mặc dù đã được sự đồng ý của bệnh nhân và các thành viên trong gia đình, nhưng việc không duy trì sự sống cho nạn nhân bằng cách không cho ăn, uống, không thuốc điều trị và các thiết bị hỗ trợ, sẽ bị coi là một tội ác. Hiện tại, mặc dù y học hiện đại đã có thêm nhiều hỗ trợ, trong đó có nhiều phản hồi tích cực từ tòa án khi một số lớn ý kiến cho rằng sẽ tốt hơn cho gia đình và bệnh nhân khi kết thúc những biện pháp điều trị vô nghĩa, nhất là đối với những bệnh nhân bị hôn mê mà không có một chút khả năng nào sẽ hồi phục, đồng thời sẽ giảm đi gánh nặng cho gia đình. Vụ án này chỉ là một trong những vụ án liên quan đến các tranh luận xung quanh vấn đề quyền được chết và Luật An tử trên thế giới trong nhiều năm qua. Thực sự, đây đã trở thành một chủ đề phức tạp với nhiều luận điểm trái ngược nhau.

Continue reading

TÌM HIỂU VỀ KHÁI NIỆM NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN TẠI PHÁP

ĐỖ KIM THÊM

Nước Pháp là một quốc gia dân chủ, văn minh, tiến bộ, tôn trọng nhân quyền và có tinh thần thượng tôn luật pháp. Từ nhận định này chúng ta dễ suy đoán rằng khái niệm về nhà nước pháp quyền chắc hẳn đã có một truyền thống trong văn hoá cũng như dân trí của nước Pháp. Đây là một cảm nhận sai lầm. Thực tế cho thấy là nước Pháp không hề có thuật ngữ État de droit trong học giới mà chỉ là một sự phiên dịch từ Rechtsstaat của Đức. Ngoài ra, khác với các quốc gia dân chủ phương Tây, chính thể lập hiến (constitutionalism) không làm nền tảng cho mọi sinh hoạt chính trị tại Pháp trong cả một thời gian dài.

Thế thì người Pháp hiểu gì, nghĩ gì và làm gì đối với khái niệm này, đặc biệt hơn kinh nghiệm của Pháp có giúp cho Việt Nam trong việc định hình cho khái niệm này không, đó là chủ đề của bài viết này.

1. Những đặc điểm chính

Có nhiều cách giải thích khác nhau về trường hợp của Pháp, một số học giả chỉ nêu lên những đặc điểm chính mà không đi sâu vào các học thuyết. Họ cho rằng vấn đề thuật ngữ không quan trọng mà chính ưu thế của quốc hội và sự bất ổn chính trị đã dần dần đưa tới việc lập Toà Bảo hiến để nâng cao tầm quan trọng của việc áp dụng những nguyên tắc hiến định. Từ đó mà khái niệm nhà nước pháp quyền mới thành hình.

Thuật ngữ

Lịch sử triết học pháp quyền của Pháp cho thấy Pháp không hề có khái niệm về État de droit. Giáo sư Léon Dugit là người đầu tiên đã du nhập ý niệm Rechtsstaat vào Pháp năm 1907. Sau đó giáo sư Raymond Carré de Malberg đã triển khai nội dung này trong tác phẩmContribution à la théorie générale de l’ État năm 1922. Ông đã đề xuất nhiều ý kiến để áp dụng, nhưng không gây được tiếng vang nào trong học giới hay ngoài công luận.
Dù thuật ngữ này không có trong văn kiện chính thức, tuyên ngôn, sách giáo khoa hay được thảo luận, nhưng chúng ta không kết luận rằng nước Pháp không quan tâm đến vấn đề pháp quyền. Pháp đã đặt trọng tâm vào hai khái niệm khác, đó là Nhà nước (État) và Cộng hoà(République), thay thế cho nhà nước pháp quyền. Ngay trong thuật ngữ Nhà nước, người Pháp đã hàm ý rằng nhà nước phải tuân theo luật pháp, mà không minh thị, vì đó là điều không cần thiết. Thuật ngữ Cộng hoà có lịch sử lâu đời và phức tạp hơn, nhưng đến khi Jean Jacques Rousseau đưa ra thảo luận thì thuật ngữ này trở nên chính xác hơn, nhất là khi xác minh rằng nhà nước phải cai trị bằng luật pháp. Rousseau cũng đề xuất rằng hai khái niệm Nhà nước và Cộng hoà nên hiểu là đồng nghĩa vì mang nhiều sự tương đồng trong lý thuyết. Do đó, giới học giả cho rằng về cơ bản thì Pháp cũng có khái niệm nhà nước pháp quyền dù không minh danh, mà điều XVI của bản Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền là một thí dụ điển hình khi công nhận rằng nguyên tắc phân quyền và tôn trọng nhân quyền làm cơ sở cho mọi hoạt động của nhà nước.

Continue reading

NHÀ, XE ĐÃ BÁN NHƯNG NGƯỜI MUA CHƯA SANG TÊN, RỦI RO AI CHỊU?

CAO NGUYÊN

Trong các hợp đồng mua bán, giao dịch về tài sản thì việc xác định thời điểm chuyển giao quyền sở hữuthời điểm chịu rủi ro là những vấn đề vô cùng quan trọng, xác định quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia giao dịch. Vấn đề này được Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định khá cụ thể.

Theo đó, Điều 168 Bộ luật Dân sự (BLDS) quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản: "Việc chuyển quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác"; Điều 439 quy định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản: "Quyền sở hữu đối với tài sản mua bán được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm tài sản được chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Đối với tài sản mua bán mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó. Trong trường hợp tài sản mua bán chưa được chuyển giao mà phát sinh hoa lợi, lợi tức thì hoa lợi, lợi tức thuộc về bên bán". Về thời điểm chịu rủi ro, Điều 440 quy định: "Bên bán chịu rủi ro đối với tài sản mua bán cho đến khi tài sản được giao cho bên mua, còn bên mua chịu rủi ro đối với tài sản mua bán kể từ khi nhận tài sản, nếu không có thoả thuận khác. Đối với hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu thì bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, kể cả khi bên mua chưa nhận tài sản, nếu không có thoả thuận khác.".

Như vậy có thể nói, về nguyên tắc theo quy định của BLDS thì thời điểm chuyển quyền sở hữu và thời điểm chịu rủi ro thông thường là đồng nhất, tức bên bán chịu rủi ro cho đến khi tài sản được giao cho bên mua, bên mua chịu rủi ro kể từ khi nhận tài sản. Nếu đối tượng của hợp đồng là bất động sản, tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, nếu các bên không có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Tuy nhiên trên thực tế khi áp dụng các quy định của BLDS nêu trên để xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu và trách nhiệm chịu rủi ro trong một số trường hợp gặp nhiều vướng mắt do sự thiếu đồng bộ của các quy định pháp luật hiện hành.

Continue reading

BÀN VỀ NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CỦA CÁ NHÂN: TỪ TUỔI ĐÃ THÀNH NIÊN ĐẾN TUỔI KẾT HÔN CỦA NAM GIỚI

TS NGUYỄN THỊ HOÀI PHƯƠNG – PHÓ CHỦ NHIỆM KHOA LUẬT DÂN SỰ, TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM

Với sự phát triển của xã hội, trẻ em hiện nay đã vượt trội hơn trẻ em ngày xưa rất nhiều về thể chất và tâm sinh lý. Chiếc áo tuổi thành niên vì vậy không còn phù hợp để khoác lên mình trẻ nữa. Chính vì không được cho những quyền tương thích với sự phát triển tự nhiên nên đã dẫn đến nhiều trẻ bức bối, xé rào quy định tuổi, dẫn đến những sự việc đau lòng. Nhiều vụ án trẻ em phạm tội thực chất các em đã là người lớn. Những nhận định này liệu có cơ sở và có nên thay đổi quy định tuổi thành niên, một cơ sở để xác lập nhiều quyền công dân khác cho trẻ? Chúng tôi giới thiệu ý kiến của hai chuyên gia dưới đây và mong nhận được những ý kiến luận bàn khác để soi rọi thấu đáo hơn vấn đề này.

Việc đưa ra độ tuổi kết hôn là căn cứ trên sự phát triển về tâm sinh lý, sức khoẻ và sự phát triển của nhận thức người đó. Trước đây, người ta cho rằng, sự phát triển tâm sinh lý và nhận thức của nữ thường sớm hơn so với nam. Tuy bằng tuổi, nhưng con gái thường dậy thì trước và nhận thức cũng già dặn hơn bạn nam cùng tuổi. Vì vậy, tuổi kết hôn của nữ ít hơn nam hai tuổi. Tuy nhiên, cuộc sống ngày nay đã khác trước rất nhiều. Điều này thể hiện ở chất lượng cuộc sống hiện đại ngày càng cao. Trẻ ngày nay được nuôi dưỡng đầy đủ về mặt dinh dưỡng nên sự phát triển cơ thể đang có xu hướng sớm hơn trước đây, nhất là trẻ em ở thành phố. Bên cạnh đó là môi trường giáo dục tri thức, nhận thức cho trẻ. Ngày nay, các bạn trẻ có nhiều điều kiện để hoàn thiện tri thức, học hỏi nâng cao nhận thức từ nhiều kênh khác nhau. Và việc phát triển này tương đối đồng đều giữa nam và nữ, chứ ít có chênh lệch rõ ràng như trước.

Nam giới lập gia đình ở độ tuổi 18, về mặt thể lực và sự phát triển tâm sinh lý, họ có thể gánh vác được trách nhiệm gia đình. Thứ nữa là về mặt nhận thức, trí thức so với mặt bằng xã hội, để người ta có một nhận thức nhất định, để có thể ứng xử trong gia đình, thực hiện nghĩa vụ trong gia đình tốt… họ cũng được thụ hưởng tương đương với nữ giới. Người ta từng đề cập đến vấn đề bình đẳng giới, vậy tại sao việc quy định độ tuổi kết hôn như hiện nay có sự bất bình đẳng như vậy mà lại không được điều chỉnh?

Quy định tuổi thành niên hiện hành

Theo quy định của bộ luật Dân sự, người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên, người từ dưới 18 tuổi là người chưa thành niên. Tuy nhiên theo các quy định của bộ luật Hình sự thì người chưa thành niên từ 14 tuổi trở lên đã có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bộ luật Hình sự cũng không quy định thế nào là thành niên hay chưa thành niên nhưng bộ luật này cho phép xác định người thành niên là người đủ 18 tuổi trở lên. Nhìn từ góc độ tổng quát nhất, Hiến pháp Việt Nam dành đủ một chương về “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, theo đó, một người chỉ có trọn vẹn quyền công dân khi họ đủ 21 tuổi trở lên.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHI QUI ĐỊNH ĐỘ TUỔI NGƯỜI LAO ĐỘNG DƯỚI 18 TUỔI TRONG CÁC LUẬT, BỘ LUẬT

THS. TRẦN THẮNG LỢI – Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội

Trong các văn bản pháp luật hiện hành, người dưới 18 tuổi được quy định ở nhiều văn bản khác nhau như Bộ luật Dân sự – BLDS (Điều 18), Bộ luật Hình sự – BLHS (Điều 68), Bộ luật Lao động – BLLĐ (Điều 119), Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em – Luật BVCSVGDTE (Điều 1)… Nhưng trong mỗi văn bản lại có cách quy định khác nhau về nhóm đối tượng này. Khác với người đã trưởng thành, là người đã phát triển đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh thần, có thể tham gia đầy đủ các quan hệ xã hội do luật định, người dưới 18 tuổi chưa thể tham gia đầy đủ các quan hệ xã hội do họ có những đặc điểm riêng về tâm sinh lý và thể chất. Từ những đặc điểm riêng của nhóm người dưới 18 tuổi và để phù hợp với phạm vi, đối tượng điều chỉnh, các văn bản luật khác nhau lại có cách gọi khác nhau về nhóm người dưới 18 tuổi.

1. BLDS và BLHS quy định nhóm người dưới 18 tuổi là “người chưa thành niên”, nhưng giới hạn về độ tuổi của người chưa thành niên lại khác nhau. Điều 18, BLDS quy định: Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên. Như vậy, BLDS coi tất cả những người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên.

Khác với BLDS, quy định tại Điều 68 BLHS chỉ nêu: “người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự…”. Điều này cho thấy, quy định trong BLHS về người chưa thành niên chỉ giới hạn ở nhóm tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi (tức thấp nhất là từ đủ 14 tuổi trở lên và cao nhất là dưới 18 tuổi), không đề cập tới tất cả những người dưới 18 tuổi như quy định trong BLDS. Tuy nhiên, quy định về người chưa thành niên trong hai Bộ luật này lại không mẫu thuẫn, khi cùng đề cập tới người chưa thành niên, mỗi Bộ luật lại đưa ra giới hạn về chủ thể khác nhau thuộc phạm vi điều chỉnh của mình.

2. BLLĐ quy định một nhóm đối tượng trong nhóm người dưới 18 tuổi là “người lao động chưa thành niên”. Người lao động chưa thành niên được xác định như sau:

Tại Điều 6 BLLĐ quy định: “người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi”. Mặt khác, tại khoản 1 Điều 119 quy định “người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi”. Kết hợp quy định tại Điều này với quy định tại Điều 6 trên, ta thấy độ tuổi của người lao động chưa thành niên là từ đủ 15 tuổi cho tới dưới 18 tuổi. Từ đó, có thể hiểu người lao động chưa thành niên là một nhóm lao động đặc thù, ở độ tuổi từ đủ 15 tuổi cho đến dưới 18 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động.

Continue reading

VÀI SUY NGHĨ VỀ CÔNG BẰNG LẬP PHÁP TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN: ĐA SỐ QUỐC HỘI CÓ PHẢI LÀ ĐA SỐ DÂN CHÚNG?

THS. CAO VIỆT THĂNG – Viện Nhà nước và Pháp luật

Khi nghiên cứu về các hoạt động lập pháp, loài người đã tốn rất nhiều công sức để nghiên cứu những cách thức lập pháp với mong muốn có được những đạo luật có thể mang công bằng đến cho mọi người và làm thoả mãn tất cả các nhu cầu mọi cá nhân trong xã hội. Tuy nhiên, cho dù đã tốn rất nhiều công sức nhưng loài người vẫn phải chấp nhận một điều rằng, chỉ có thể xây dựng được những đạo luật làm thoả mãn được số đông trong xã hội chứ không thể làm thoả mãn được lợi ích của toàn xã hội. Chính vì vậy, xuyên suốt quá trình lịch sử, từ việc xem xét những đạo luật sơ khai của lịch sử loài người cho đến ngày nay, chúng ta thấy nguyên tắc đồng thuận đa số là một trong những nguyên tắc có tính quyết định trong quá trình lập pháp. Và nguyên tắc này ngày càng được đề cao và tôn trọng hơn trong các nhà nước dân chủ.

Nhìn về lịch sử lập pháp, ngày nay loài người đã có thể tự hào khi thấy được thành quả của kỹ thuật lập pháp của nhân loại đã ngày càng phát triển hơn và ngày càng làm thoả mãn tốt hơn các nhu cầu cho bản thân mỗi cá nhân. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại một vấn đề mới về lập pháp lại xuất hiện và lại một lần nữa thách thức khả năng và kỹ thuật lập pháp của loài người, đó là vấn đề công bằng trong đồng thuận. Điều này nghĩa là gì? Nghĩa là, một đạo luật có phạm vi hiệu lực trên toàn bộ lãnh thổ một quốc gia, được đa số dân cư trong quốc gia đồng thuận nhưng lợi ích của quá trình lập pháp đem lại là những lợi ích gián tiếp đối với số đông này nhưng lại gây thiệt hại trực cho số ít. Đây là một vấn đề tuy chẳng lấy gì làm mới mẻ ở các nước phát triển nhưng cũng đã ít nhiều gây tranh cãi trong hoạt động lập pháp ở nước ta hiện nay. Cụ thể, các vấn đề về khai thác, sử dụng tài nguyên, hay quy hoạch các khu ô nhiễm (các bãi rác)… Rõ ràng đạo luật được thông qua bởi số đông nhưng gây thiệt hại và tác động trực tiếp lên số ít những người xung quanh các khu vực này. Vậy, đâu là cơ sở chính đáng để họ có thể phản đối ý chí của số đông?

Điều này đặt ra câu hỏi là: lập pháp tuân thủ nguyên tắc đa số liệu đã đảm bảo công bằng hay chưa? Và đây có phải là nguyên tắc quan trọng nhất trong quá trình lập pháp hay không? Một vấn đề nữa là, nếu thừa nhận hay chối bỏ nguyên tắc lập pháp theo ý chí số đông thì đâu là những căn cứ chính đáng trong một nhà nước pháp quyền?

Continue reading

CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN “BÌNH MỚI, RƯỢU CŨ”

TS. BÙI XUÂN HẢI – Trưởng khoa Luật Thương Mại, ĐH Luật TP.HCM

Theo qui định tại Điều 166 Luật Doanh nghiệp 2005 thì chậm nhất trong thời hạn bốn năm kể từ ngày Luật DN 2005 có hiệu lực (01/7/2006), các công ty nhà nước thành lập theo quy định của Luật DNNN năm 2003 phải chuyển đổi thành công ty TNHH hoặc CTCP theo quy định của Luật DN 2005. Theo ước tính của Ban chỉ đạo đổi mới DN Trung ương, có khoảng 1.500 công ty nhà nước thuộc diện chuyển đổi sang mô hình công ty TNHH một thành viên vì chưa hoàn thành cổ phần hóa trước ngày 1/7/2010. Song, đến ngày 1-7 vẫn còn khoảng 50 doanh nghiệp chưa hoàn thành việc chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên hoạt động theo Luật DN 2005.

Chuyển đổi để cạnh tranh bình đẳng

Sự chuyển đổi này là đòi hỏi mang tính tất yếu của việc xây dựng một nền kinh tế đa thành phần theo cơ chế thị trường, tạo điều kiện cho sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và đáp ứng yêu cầu của việc hội nhập kinh tế quốc tế. Không thể có những ‘sân chơi pháp lý’ khác nhau cho những loại hình doanh nghiệp khác nhau chỉ về sở hữu; không nên có những qui định quá khác nhau về địa vị pháp lý thể hiện sự phân biệt đối xử giữa một công ty thuộc sở hữu tư nhân với một công ty do nhà nước làm chủ sở hữu.

Khác với tất cả các nhà đầu tư khác, nhà nước có quyền ban hành luật, điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật theo ý chí của mình và tổ chức thực thi pháp luật. Vì vậy, việc tách rời hẳn chức năng quản lý nhà nước và chức năng kinh doanh thực sự là việc cần phải làm, không thể né tránh. Nhìn ở góc độ cụ thể, nhiều quan chức cao cấp trong bộ máy nhà nước, thậm chí đang là thứ trưởng, lại đang đồng thời giữ vị trí thành viên hay Chủ tịch HĐTV của một tập đoàn kinh tế nhà nước, vậy thì, thật khó khăn cho các vị quan chức này hoàn thành tốt vị trí, vai trò, nhiệm vụ của một quan chức – một chính khách và một nhà quản trị doanh nghiệp cao cấp – người quản lý công ty theo qui định của Luật DN 2005; sẽ không dễ dàng để hành xử một cách khách quan giữa hai vị trí rất khác nhau và đôi khi có sự xung đột về lợi ích.

Continue reading

CÂU CHUYỆN ĐỊNH GIÁ THƯƠNG HIỆU

PHI TUẤN

Những câu chuyện mua bán, khiếu kiện liên quan đến thương hiệu của các doanh nghiệp trong nước thường chỉ được nhắc đến trong những lúc trà dư tửu hậu, chưa trở thành những bài học kinh nghiệm. Việc định giá thương hiệu, để thương hiệu trở thành tài sản của doanh nghiệp, vẫn đang chờ một cơ sở pháp lý.

Những câu chuyện cũ

Cách đây nhiều năm, việc hãng Unilever mua lại thương hiệu kem đánh răng P/S với giá 5 triệu đô la Mỹ và Colgate mua Dạ Lan với giá 3 triệu đô la đã gây xôn xao dư luận. Năm 1999, chủ nhãn hiệu kẹo dừa Bến Tre, bà Hai Tỏ, đã phải lặn lội sang Trung Quốc khiếu kiện một doanh nghiệp xứ này lấy thương hiệu của mình để đăng ký bảo hộ cho sản phẩm kẹo dừa xuất khẩu. Năm 2001, Công ty Cà phê Trung Nguyên đã phải chi một khoản tiền không nhỏ để lấy lại thương hiệu do một Việt kiều ở Mỹ đã đăng ký nhãn hiệu này trước đó.

Những câu chuyện trên vẫn chưa thể gợi ra những mối quan tâm về thương hiệu từ phía cơ quan quản lý trong thời gian gần đây. Một số doanh nghiệp xin góp vốn bằng thương hiệu, nhưng đã bị Bộ Tài chính từ chối, bởi chuẩn mực kế toán 04 của bộ ban hành không cho phép việc này. Ngay cả khi làn sóng cổ phần hóa doanh nghiệp làm xuất hiện sự lúng túng về việc xác định giá trị thương hiệu cấu thành tài sản doanh nghiệp, thì vẫn chưa có một cơ quan nào đứng ra lo liệu.

Câu chuyện về giá trị thương hiệu chỉ thực sự gây sự chú ý khi tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam Vinashin làm bùng lên làn sóng góp vốn bằng thương hiệu. Và cũng chính từ đề xuất của Vinashin, Bộ Tài chính mới đưa ra dự thảo thông tư hướng dẫn việc góp vốn và nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu để lấy ý kiến.

Continue reading

LAO ĐỘNG CHO THUÊ LẠI Ở VIỆT NAM

TS. NGUYỄN XUÂN THU – Đại học Luật Hà Nội

Mở đầu

1. Lao động cho thuê lại (còn gọi là lao động phái cử) có thể hiểu là những người lao động đã được tuyển dụng bởi một doanh nghiệp (bằng hợp đồng lao động giữa người lao động và doanh nghiệp đó), được doanh nghiệp khác thuê lại trong một thời gian nhất định thông qua hợp đồng cho thuê lại lao động giữa doanh nghiệp cho thuê (người sử dụng lao động của những lao động phái cử) và doanh nghiệp thuê lại lao động.

Trong thời gian làm việc tại doanh nghiệp thuê lại lao động, người lao động chịu sự quản lý, điều hành của doanh nghiệp thuê lại lao động, nhưng quan hệ lao động (hợp đồng lao động) vẫn được duy trì với doanh nghiệp cho thuê lao động. Điều này có nghĩa những quyền lợi cơ bản của người lao động (tiền lương, bảo hiểm…) được doanh nghiệp cho thuê lao động bảo đảm theo hợp đồng lao động đã giao kết giữa hai bên và theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, người lao động vẫn có thể được hưởng các phúc lợi như những người lao động chính thức của doanh nghiệp thuê lại lao động do doanh nghiệp này thực hiện.

2. Bài viết này sẽ giới thiệu các quy định hiện hành của Việt Nam về nội dung hoạt động dịch vụ việc làm, quan điểm cũng như thực tế về lao động cho thuê lại tại Việt Nam, thái độ của các nhà lập pháp Việt Nam về vấn đề này trong thời gian tới. Cũng trong bài viết này, tác giả sẽ bày tỏ quan điểm cá nhân và trình bày những đề xuất ban đầu về lao động cho thuê lại ở Việt Nam.

Thực trạng về lao động cho thuê lại ở Việt Nam

3. Nội dung các hoạt động dịch vụ việc làm được quy định tại Điều 18 Bộ luật Lao động Việt Nam (đã sửa đổi, bổ sung năm 2002) bao gồm: tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động; cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động; thu thập, cung ứng thông tin về thị trường lao động [1].

Vấn đề đặt ra là những nội dung về hoạt động dịch vụ việc làm theo quy định trên có bao gồm hoạt động cho thuê lại lao động hay không?

Continue reading

CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN VÀ VẤN ĐỀ SỞ HỮU ĐẤT ĐAI

LS. NGUYỄN TIẾN LẬP

Trong suốt thời gian qua, bất chấp mọi cố gắng của các nhà làm luật, các vấn đề cơ bản liên quan đến sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước vẫn chưa được giải quyết. Vấn đề sở hữu vốn thuộc một trong những phạm trù “cổ điển” của khoa học pháp lý và phạm trù “sơ đẳng” của một hệ thống pháp luật. Do đó, hầu như không có khó khăn gì để minh định nó. Nguyên nhân có thể có nhiều, nhưng theo chúng tôi, phần quan trọng nằm ở các “rào cản” mà các nhà làm luật chưa thể vượt qua cả về tâm lý chính trị và nhận thức chính trị.

Ở khía cạnh pháp lý, “sở hữu” luôn luôn là vấn đề nền tảng của cả pháp luật kinh tế lẫn pháp luật dân sự. Hơn một nửa thế kỷ qua, việc xây dựng pháp luật ở nước ta đều đã xoay quanh khái niệm này, và trên thực tế đã đạt được nhiều thành tựu cơ bản và nổi bật. Đó là thông qua các Hiến pháp từ 1946, 1959, 1980 và 1992 và các đạo luật đơn lẻ khác, đặc biệt là Bộ luật Dân sự năm 1995 như một đỉnh cao, sau đó sửa đổi năm 2005,  Nhà nước ta đã khẳng định và sáng tạo ra các chế định liên quan đến chế độ và hình thức sở hữu, địa vị pháp lý của chủ sở hữu, các chế định kề cận v.v..
Tuy nhiên, có một thực tế là cho tới hiện nay, vẫn tồn tại hai cách tiếp cận với vấn đề sở hữu  khác nhau, thậm chí chồng chéo và lẫn lộn. Đó là tiếp cận chính trị và tiếp cận pháp lý.
Nhấn mạnh cách “tiếp cận chính trị”, chúng ta luôn luôn tìm cách phân định và phân biệt giữa chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa (với nền tảng là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) và chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa (mà nòng cốt là sở hữu tư nhân).  Trong khi đó, cách tiếp cận pháp lý đòi hỏi phải xác định rõ các quyền và nghĩa vụ của các chủ sở hữu và các đối tượng liên quan trong các giao dịch liên quan đến sở hữu theo  “hình thức sở hữu”, vốn đa dạng, phong phú và đậm màu sắc thực tiễn hơn “chế độ sở hữu”.
Cụ thể, Hiến pháp 1992 quy định ba chế độ sở hữu là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng. Đồng thời, Hiến pháp cũng xác định các đối tượng quan trọng thuộc sở hữu toàn dân, trong đó bao gồm đất đai và “phần vốn và tài sản Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp …”. Đến năm 2003, trong hai đạo luật quan trọng được Quốc hội thông qua là Luật Đất đai và Luật Doanh nghiệp nhà nước lại có hai quy định khác nhau liên quan đến hai đối tượng thuộc sở hữu toàn dân. Trong khi Luật Đất đai vẫn khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân còn Nhà nước là “đại diện chủ sử hữu toàn dân”, thì Luật Doanh nghiệp nhà nước lại định nghĩa rằng “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ…”.

Continue reading

BÀN THÊM VỀ QUYỀN ƯU TIÊN MUA CỔ PHẦN

TỪ THẢO – Cố vân Công ty Nam An Law

Cổ đông phổ thông được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần của từng cổ đông trong công ty. Cụ thể như sau:

+ Một là, quyền ưu tiên mua cổ phần mới chào bán của công ty chỉ đặt ra khi một CTCP kinh doanh có lợi nhuận và phát hành thêm cổ phần mới để gọi thêm vốn cổ phần, khi đó, cổ đông của công ty sẽ được ưu tiên mua số cổ phần công ty mới chào bán này.

+ Hai là, chỉ có những cổ đông hiện hữu tại thời điểm công ty cổ phần (CTCP) gọi thêm vốn cổ phần mới được hưởng quyền này.

+ Ba là, quyền ưu tiên mua cổ phần mới được đặt ra để bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện hữu, họ là những người đã gắn bó vơi công ty, và khi công ty kinh doanh có hiệu quả họ cũng phải là những người đầu tiên được hưởng lợi từ kết quả hoạt động kinh doanh này. Sự ưu tiên này thể hiện ở hai khía cạnh sau đây:

Ưu tiên về giá: Theo quy định tại Điều 87.1 Luật doanh nghiệp 2005, giá chào bán cổ phần không được thấp hơn giá thị trường tại thời điểm chào bán… ngoại trừ một số trường hợp, trong đó có trường hợp cổ phần chào bán cho tất cả các cổ đông hiện hữu theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong công ty.

Như vậy, giá chào bán cổ phần cho các cổ đông hiện hữu có thể thấp hơn giá thị trường (dành cho mọi đối tượng khác trong xã hội). Nghĩa là để sở hữu một lượng cổ phần như nhau thì các cổ đông hiện hữu sẽ bỏ ra một số tiền nhỏ hơn so với những người khác phải mua theo giá thị trường, vì giá mua cổ phần chào bán của các cổ đông hiện hữu thấp hơn giá mua cổ phần (giá thị trường) của các chủ thể khác. Sự ưu tiên về giá mua cổ phần mới chào bán của cổ đông hiện hữu chính là ở điều này.

Ưu tiên về thứ tự mua cổ phần: theo đó số cổ phần mới chào bán sẽ phải bán cho những cổ đông hiện hữu trước, nghia là họ được ưu tiên mua trước, sau đó phần còn lại công ty mới có thể chào bán rộng rãi cho các nhà đầu tư khác.

Continue reading

GIẢI QUYẾT KHỦNG HOẢNG TRONG QUAN HỆ CHUNG CƯ: CẦN CẢI CÁCH PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Các vụ tranh chấp giữa chủ căn hộ chung cư và chủ đầu tư nổ ra ngày càng nhiều, càng phức tạp, dai dẳng. Đáng chú ý là trong tất cả những cuộc đôi co ấy, chủ đầu tư luôn được cho là bên “gây chuyện” bằng cách cố ý đặt bên kia, các chủ căn hộ, vào tình thế phải chấp nhận giao kèo với những điều kiện không bình đẳng khiến người ta bức xúc, rồi phản ứng.

Nhà chức trách, về phần mình, cứ loay hoay không biết làm thế nào để giải quyết cho ổn thoả xung đột giữa các bên, dù ai cũng thấy tình trạng bị chèn ép rành rành của chủ căn hộ trong mối quan hệ với chủ đầu tư.

Khó khăn ở chỗ không thể tước “vũ khí” của chủ đầu tư; nói rõ hơn là không thể lấy đi những tài sản mà họ dùng làm vật khống chế đối với chủ căn hộ, chẳng hạn, nhà để xe, các thiết bị phục vụ sinh hoạt hàng ngày như hệ thống dẫn điện, nước, mạng internet,… Những thứ đó vốn là của họ, một cách hợp pháp, từ khi toà nhà chung cư được xây dựng.

Ở các nước tiên tiến cũng có chung cư, thậm chí nhiều hơn mình nhiều lần; nhưng xã hội không phải chứng kiến tình cảnh khủng hoảng trong quan hệ giữa các bên theo kịch bản đó. Từ rất sớm, người làm luật đã nhận thức rõ tính chất phức tạp của loại hình sở hữu chung này và đã chủ động mổ xẻ, phân tích, nhận dạng những điểm nóng tiềm tàng trong quan hệ sở hữu để có cách ngăn ngừa sự bộc phát các trận chiến pháp lý.

Đặc biệt, người ta nói rằng một bất động sản chỉ được gọi là chung cư một khi nó được “hộ hoá” toàn bộ, nghĩa là được phân chia toàn bộ thành các căn hộ. Mỗi căn hộ gồm có những phần tài sản thuộc sở hữu riêng biệt của chủ căn hộ và những phần tài sản mà chủ căn hộ có quyền sở hữu chung với các chủ căn hộ khác. Tất cả các yếu tố tạo thành bất động sản đều phải được xác định tính chất, chỉ có thể hoặc riêng của chủ căn hộ, hoặc chung của tất cả các chủ căn hộ.

Continue reading

TRANH CHẤP TÀI SẢN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG: CẦN XEM XÉT LẠI BẢN ÁN PHÚC THẨM DÂN SỰ SỐ 197 NGÀY 11/9/2010 CỦA TÒA PHÚC THẨM TANDTC TẠI TPHCM VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP NHÀ SỐ 526 AN DƯƠNG VƯƠNG, PHƯỜNG 9, QUẬN 5 TPHCM

HUY ANH

Từ những căn cứ xác thực, có tình, có lý, Toà án nhân dân TP Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm xác định căn nhà số 526 An Dương Vương, Phường 9, Quận 5, TP Hồ Chí Minh thuộc sở hữu chung của vợ chồng ông Nguyễn Đức Anh – bà Lã Thị Bích Liên. Toà án xử phân chia cho mỗi người 1/2 căn nhà.
Thế nhưng Toà Phúc thẩm TANDTC lại lập luận vòng vo, thiếu tính thuyết phục để xét xử ngược lại hoàn toàn 180º theo đề nghị phi lý của bà Liên, cụ thể là: Xác định căn nhà nêu trên là tài sản riêng của bà Liên và “ghi nhận sự tự nguyện của bà Liên” trả lại tiền xây dựng nhà cho ông Trần Ngọc Trường- người được ông Nguyễn Đức Anh (chứ không phải bà Liên) nhờ đứng ra giám sát xây dựng và ứng tiền xây dựng nhà vào năm 1994 (?).

Ông Nguyễn Đức Anh và bà Lã Thị Bích Liên kết hôn với nhau từ năm 1976. Vợ chồng mua căn nhà 526 An Dương Vương, Phường 9, Quận 5, TP Hồ Chí Minh vào năm 1979 của ông Tiêu Mộc. Do lúc đó ông  Nguyễn Đức Anh không có hộ khẩu tại TP Hồ Chí Minh nên đã để bà Liên đứng tên trên giấy tờ với hình thức cùng với ông Tiêu Mộc lập giấy tờ “Tặng cho”. Căn nhà lúc đó là nhà trệt, nền xi-măng, mái nửa tôn, nửa ngói, tường mượn. Năm 1984, ông Nguyễn Đức Anh cùng 2 con sang Canada định cư và năm 1992 ông bảo lãnh cho bà Liên và các con còn lại sang Canada. Trước khi đi, bà Liên có làm tờ ủy quyền giao căn nhà cho bà Cao Thị Thanh Hồng quản lý, trên giấy này có ghi tên bà và chồng là ông Nguyễn Đức Anh đồng sở hữu căn nhà. Năm 1994, vợ chồng ông Nguyễn Đức Anh hợp đồng với Công ty Novina xây dựng lại nhà và nhờ ông Trần Ngọc Trường đứng ra giám sát việc xây dựng và ứng trước số tiền xây dựng nhà là 250.000.000đ. Bà Hồng đã xác nhận sự việc này và giao lại nhà cho ông Trường từ năm 1994. Xây xong nhà thì vợ chồng ông Anh bà Liên giao cho bà Lã Thị Bích Thơm (em gái bà Liên) trong coi căn nhà. Trong quá trình trông coi, bà Thơm có sửa chữa mặt tiền căn nhà, lắp đặt đồng hồ điện nước, điện thoại.

Đến nay, (sau khi ông Anh và bà Liên đã ly hôn), ông Nguyễn Đức Anh có đơn yêu cầu chia đôi căn nhà cho mỗi người 1/2. Nếu bà Liên lấy nhà thì hoàn tiền cho ông hoặc ngược lại, sau khi đã trừ các khoản tiền xây dựng, sửa chữa nhà trả ông Trường, bà Thơm và tiền trông coi nhà cho bà Hồng.

Continue reading

VƯỚNG MẮC TỪ THỰC TIỄN: CHA MẸ VỊ THÀNH NIÊN ĐĂNG KÝ KHAI SINH CHO CON NHƯ THẾ NÀO?

THANH XUÂN

Nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định khá chi tiết các thủ tục cần thiết trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có những trường hợp phát sinh nhưng chưa được hướng dẫn giải quyết, khiến cơ quan đăng ký hộ tịch lúng túng.

Mất giấy chứng sinh, đăng ký khai sinh bằng giấy tờ nào?

Điều 15, Nghị định 158 về thủ tục đăng ký khai sinh quy định, người đi đăng ký khai sinh phải nộp Giấy chứng sinh (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ (nếu cha, mẹ của trẻ có đăng ký kết hôn). Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực. Như vậy Nghị định 158 chỉ quy định, trường hợp trẻ sinh trong cơ sở y tế thì khi đăng ký khai sinh thủ tục bắt buộc phải có giấy chứng sinh, không quy định các giấy tờ khác thay thế giấy chứng sinh. Tuy nhiên thực tế đã nảy sinh trường hợp không nằm trong quy định.

Ngày 9.6.2010, chị Đinh Thị Phúc đến UBND xã Tân Dương, huyện Lai Vung, Đồng Tháp đăng ký khai sinh cho con là Nguyễn Đinh Phú Quý sinh ngày 6.12.2009 tại Bệnh viện đa khoa thị xã Sa Đéc. Theo chị Phúc, khi sinh con tại Bệnh viện đa khoa thị xã Sa Đéc có giấy chứng sinh do bệnh viện cấp, nhưng trên đường về nhà chị đã làm mất giấy chứng sinh của con nên không thể làm khai sinh. Về phía Bệnh viện thì không thể cấp lại giấy chứng sinh cho con chị được. Nghị định 158 chỉ quy định trường hợp nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực. Trường hợp con chị Phúc sinh trong bệnh viện nhưng mất giấy chứng sinh, cơ quan hộ tịch không biết có thể cho đăng ký khai sinh hay không? Nếu đăng ký khai sinh thì giấy tờ nào sẽ thay thế giấy chứng sinh? Cuối cùng, cán bộ Tư pháp – Hộ tịch xã phải cho chị Phúc làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực để giải quyết việc đăng ký khai sinh cho con chị.

Continue reading

THÔNG QUA CHẾ ĐỊNH “CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG” LÀ NHU CẦU BỨC THIẾT

LS. NGUYỄN DUY HÙNG – Giám đốc Công ty Luật IPIC

“Cho thuê lại lao động” (labour outsourcing) là khái niệm khá mới mẻ trong hệ thống pháp luật Việt Nam dù thực tế đã và đang tồn tại phổ biến trong các Doanh nghiệp.

Lần đầu tiên trong dự thảo sửa đổi Bộ Luật Lao động đã có quy định về vấn đề này. Từ thực tiễn tư vấn và trong phạm vi bài viết này, tác giả xin đưa ra một số góp ý của mình về vấn đề khá mới mẻ về mặt quy phạm nhưng quá quen thuộc về thực tiễn.

Đứng trên góc độ là một tổ chức tư vấn chúng tôi hoàn toàn ủng hộ việc Quốc hội thông qua Bộ Luật Lao động sửa đổi với các quy định liên quan đến “Cho thuê lao động” bởi các lý do sau:

Thứ nhất, ban hành các chế định pháp lý quy định cụ thể về vấn đề “cho thuê lại lao động” là yêu cầu bức thiết từ thực tiễn.

Luật chính là các quan hệ xã hội được hình thành trong cuộc sống và được các quy phạm pháp luật điều chỉnh. Phải thừa nhận một thực tế rằng từ năm 2001 nhu cầu “cho thuê lại lao động” đã xuất hiện tại nước ta và thực tế này càng phát triển cùng làn sóng đầu tư Nước ngoài vào Việt Nam theo Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996; Luật sửa đổi bổ sung Luật Đầu tư 2000 và Luật Đầu tư năm 2005. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về lao động liên quan đến “cho thuê lại lao động” chưa bắt kịp với thực tế. Lục tìm trong tất cả hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về lao động nói riêng chúng ta không thể tìm thấy một khái niệm về “cho thuê lao động” hoặc các quy định tương tự.

Thứ hai, khái niệm “cho thuê lại lao động” đã được gián tiếp thừa nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Điều này được thể hiện qua việc cấp phép một số ngành nghề như giúp việc, vệ sỷ. Thực tế các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này đã cung cấp cho khách hàng một hình thức dịch vụ mà người cần cung cấp dịch vụ được đơn vị cung cấp dịch vụ thực hiện thông qua cử đến những lao động làm việc trực tiếp tại đơn vị được cung cấp dịch vụ. Người vệ sỷ, lao công…là lao đông ăn lương trực tiếp từ đơn vị cung cấp dịch vụ trong khi làm việc và chịu sự điều hành của người cần cung cấp dịch vụ. Qua hoạt động này ta thấy bóng dang của quan hệ “cho thuê lại lao động”.

Continue reading

TRANH CHẤP GIỮA LỢI ÍCH CỦA CÔNG TY VÀ CỔ ĐÔNG: TRANH CHẤP QUYỀN MUA CỔ PHẦN

NGUYỄN TRUNG NAM

Trong rất nhiều trường hợp chúng ta thấy nguyên nhân của tranh chấp chính là sự lạm quyền của giám đốc, sự thiếu giám sát, tắc trách, tiền hậu bất nhất của HĐQT. Các thành viên HĐQT chưa thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình cẩn trọng vì lợi ích của Cty và cổ đông.

Phiên toà đầu tiên tại Thái Bình xử vụ tranh chấp cổ phần với nguyên đơn là các cổ đông bị mất quyền mua cổ phần phát hành mới, trong khi lãnh đạo công ty gốm sứ lý giải việc “tước” quyền vì số đông người lao động.

Cty CP gốm sứ Thái Bình tiền thân là Xí nghiệp sứ Thái Bình (cổ phần hoá năm 2005) với vốn điều lệ là 2,5 tỷ đồng, chia thành 250.000 cổ phần cho 272 cổ đông. Mặc dù hoạt động chưa được 5 năm nhưng nội bộ công ty đã nhiều lần xảy ra mâu thuẫn.

Tháng 4/2008, Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) công ty nhất trí thông qua kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 2,5 tỷ lên 5 tỷ đồng (chia thành 500.000 cổ phần) theo phương thức phát hành cổ phiếu phổ thông để huy động vốn.

Tuy nhiên, danh sách cổ đông được lập đưa quá nửa số người lao động chưa từng có cổ phần tại Cty vào trong khi lại cố ý bỏ qua nhiều người đang nắm giữ tỷ lệ gần nửa số cổ phần vào thời điểm đó.

Ngày 15/2/2009, ông Nguyễn Viết Xuân – Chủ tịch HĐQT Cty ký Nghị quyết chào bán 12.280 đồng/cổ phần. Theo đó, thành viên HĐQT mỗi người được mua 10.000 cổ phần.

Riêng Chủ tịch HĐQT và GĐ được ưu ái thêm 10.000 cổ phần, phó GĐ tăng thêm 5.000 cổ phần, Trưởng, phó các phòng, quản đốc… mỗi người được tăng 10.000 cổ phần, kế toán trưởng được thêm 5.000 cổ phần, nhân viên quản lý là 2.000 cổ phần/người, người lao động làm việc thường xuyên mỗi người được 300 cổ phần… Xác minh trước toà, chỉ 40% số người được mua cổ phần theo sự phân chia này là cổ đông của công ty. Còn các cổ đông không phải là lao động của Cty hoàn toàn không được đả động trong khi nếu được mua đúng quyền, số này sẽ nắm quyền kiểm soát Cty.

Continue reading

NGHIỆP VỤ REPO TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM – ĐÔI ĐIỀU BÀN LUẬN

TS. NGUYỄN THỊ MỸ DUNG – Trường Đại học Ngân hàng TP.Hồ Chí Minh

Hoạt động mua bán chứng khoán có kỳ hạn (REPO – Repurchase Order) tại các công ty chứng khoán Việt Nam đã được thực hiện trong những năm gần đây nhưng chưa được các nhà đầu tư biết đến và sử dụng rộng rãi. Để tạo tính thanh khoản cho các cổ phiếu chưa niêm yết, các công ty chứng khoán đưa ra nghiệp vụ REPO để mua có kỳ hạn các loại cổ phiếu này nhằm mục đích tạo cho khách hàng có thêm nguồn vốn để mở rộng danh mục đầu tư của mình.

Đây là loại hình giao dịch mà người sở hữu cổ phiếu bán và mua lại cổ phiếu của chính mình trong một khoảng thời gian nhất định. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển cả về quy mô và chất lượng, thì nghiệp vụ Repo hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, sản phẩm chưa thật sự hoàn chỉnh để phục vụ tốt nhất cho khách hàng.

Tính ưu việt của nghiệp vụ REPO

Việc thực hiện nghiệp vụ REPO góp phần làm tăng tính thanh khoản cho thị trường, tăng hiệu quả đồng vốn kinh doanh. REPO chứng khoán sử dụng một hợp đồng mua bán lại, trong đó, quy định các điều khoản mà các bên tham gia phải tôn trọng. Các hợp đồng REPO được phân vào loại công cụ thị trường tiền tệ và chúng được sử dụng để huy động vốn trong ngắn hạn.Về bản chất, nghiệp vụ REPO giống như một khoản cho vay có đảm bảo bằng chứng khoán và các tài khoản đảm bảo khác nhưng nó có những đặc điểm riêng và linh hoạt hơn. Chẳng hạn, người mua trong giao dịch REPO có quyền kinh doanh chứng khoán đã mua trong suốt thời hạn của hợp đồng, điều này khác ở các hợp đồng cho vay có tài sản cầm cố là chứng khoán. Hoặc là, nhà đầu tư vẫn có quyền mua lại số cổ phiếu đã bán sau một thời gian nhất định, trong thời gian chuyển nhượng vẫn được hưởng cổ tức và các quyền lợi phát sinh khác từ cổ phiếu đã chuyển nhượng. Có thể so sánh tính ưu việt của nghiệp vụ REPO (bảng 1):

Continue reading

HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM – MỘT GÓC NHÌN TỪ VỐN ĐIỀU LỆ

TS. PHAN VĂN TÍNH – Viện nghiên cứu quốc tế về hệ thống và biện chứng

Vừa qua, có nhiều ý kiến băn khoăn về việc thực hiện Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ về mức vốn pháp định của ngân hàng thương mại (NHTM) thành lập và hoạt động theo luật pháp Việt Nam, cũng như một số vấn đề về năng lực của hệ thống.

Trên Báo Thanh niên số 161 ngày 10/6/2010, Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa cho rằng, hiện nay, có ba vấn đề liên quan đến tăng vốn điều lệ là: không có tiền, tăng vốn dẫn đến tăng dư nợ cho vay vô tội vạ, khả năng quản trị của các ngân hàng không đảm bảo; bên cạnh đó, Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa tỏ ra lo lắng về rủi ro của hệ thống ngân hàng ở Việt Nam “Điều đáng lo lắng nhất hiện nay của ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) là họ gần như bỏ đi hoàn toàn chức năng quản lý rủi ro. Tất cả các quyết định hàng ngày của Chủ tịch Hội đồng quản trị (HĐQT) và Tổng giám đốc đều không có tiếng nói của quản trị rủi ro”. Chúng tôi xin chia sẻ điều quan tâm nói trên, tuy nhiên, cũng cần phải làm rõ một số vấn đề, nếu không dư luận xã hội và các nhà quản lý chuyên ngành không thể không lo lắng. Vì vậy, trên diễn đàn này, chúng tôi xin được trao đổi với tác giả và cung cấp thêm thông tin để độc giả tham khảo. Nội dung bài viết của chúng tôi xoay quanh 3 ý kiến nêu trên.

1. Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam – quá trình phát triển

Cùng với quá trình cải tổ và phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường, hệ thống các tổ chức ở Việt Nam hình thành đa dạng về chủng loại và phát triển nhanh về chiều rộng lẫn chiều sâu. So với những năm đầu của thập kỷ 80, hiện nay, hệ thống NHTMCP(1) Việt Nam đã mạnh hơn nhiều.

Thời gian đầu, hệ thống NHTM ở Việt Nam còn manh mún. Hệ thống ngân hàng chia thành hai loại: NHTMCP đô thị với vốn pháp định là 50 tỷ đồng; NHTMCP nông thôn với vốn pháp định là 2 tỷ đồng. Vốn pháp định đã ba lần điều chỉnh: (i) lần 1, từ 2 tỷ lên 5 tỷ đồng đối với NHTMCP nông thôn; từ 50 tỷ đồng lên 70 tỷ đồng đối với NHTMCP đô thị; (ii) lần 2, điều chỉnh đồng loạt lên 1.000 tỷ đồng đối với NHTMCP đô thị; (iii) đến cuối năm 2010, các NHTMCP phải đáp ứng vốn pháp định đồng loạt là 3.000 tỷ đồng.

Continue reading