CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN “BÌNH MỚI, RƯỢU CŨ”

TS. BÙI XUÂN HẢI – Trưởng khoa Luật Thương Mại, ĐH Luật TP.HCM

Theo qui định tại Điều 166 Luật Doanh nghiệp 2005 thì chậm nhất trong thời hạn bốn năm kể từ ngày Luật DN 2005 có hiệu lực (01/7/2006), các công ty nhà nước thành lập theo quy định của Luật DNNN năm 2003 phải chuyển đổi thành công ty TNHH hoặc CTCP theo quy định của Luật DN 2005. Theo ước tính của Ban chỉ đạo đổi mới DN Trung ương, có khoảng 1.500 công ty nhà nước thuộc diện chuyển đổi sang mô hình công ty TNHH một thành viên vì chưa hoàn thành cổ phần hóa trước ngày 1/7/2010. Song, đến ngày 1-7 vẫn còn khoảng 50 doanh nghiệp chưa hoàn thành việc chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên hoạt động theo Luật DN 2005.

Chuyển đổi để cạnh tranh bình đẳng

Sự chuyển đổi này là đòi hỏi mang tính tất yếu của việc xây dựng một nền kinh tế đa thành phần theo cơ chế thị trường, tạo điều kiện cho sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và đáp ứng yêu cầu của việc hội nhập kinh tế quốc tế. Không thể có những ‘sân chơi pháp lý’ khác nhau cho những loại hình doanh nghiệp khác nhau chỉ về sở hữu; không nên có những qui định quá khác nhau về địa vị pháp lý thể hiện sự phân biệt đối xử giữa một công ty thuộc sở hữu tư nhân với một công ty do nhà nước làm chủ sở hữu.

Khác với tất cả các nhà đầu tư khác, nhà nước có quyền ban hành luật, điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật theo ý chí của mình và tổ chức thực thi pháp luật. Vì vậy, việc tách rời hẳn chức năng quản lý nhà nước và chức năng kinh doanh thực sự là việc cần phải làm, không thể né tránh. Nhìn ở góc độ cụ thể, nhiều quan chức cao cấp trong bộ máy nhà nước, thậm chí đang là thứ trưởng, lại đang đồng thời giữ vị trí thành viên hay Chủ tịch HĐTV của một tập đoàn kinh tế nhà nước, vậy thì, thật khó khăn cho các vị quan chức này hoàn thành tốt vị trí, vai trò, nhiệm vụ của một quan chức – một chính khách và một nhà quản trị doanh nghiệp cao cấp – người quản lý công ty theo qui định của Luật DN 2005; sẽ không dễ dàng để hành xử một cách khách quan giữa hai vị trí rất khác nhau và đôi khi có sự xung đột về lợi ích.

Continue reading

CÂU CHUYỆN ĐỊNH GIÁ THƯƠNG HIỆU

PHI TUẤN

Những câu chuyện mua bán, khiếu kiện liên quan đến thương hiệu của các doanh nghiệp trong nước thường chỉ được nhắc đến trong những lúc trà dư tửu hậu, chưa trở thành những bài học kinh nghiệm. Việc định giá thương hiệu, để thương hiệu trở thành tài sản của doanh nghiệp, vẫn đang chờ một cơ sở pháp lý.

Những câu chuyện cũ

Cách đây nhiều năm, việc hãng Unilever mua lại thương hiệu kem đánh răng P/S với giá 5 triệu đô la Mỹ và Colgate mua Dạ Lan với giá 3 triệu đô la đã gây xôn xao dư luận. Năm 1999, chủ nhãn hiệu kẹo dừa Bến Tre, bà Hai Tỏ, đã phải lặn lội sang Trung Quốc khiếu kiện một doanh nghiệp xứ này lấy thương hiệu của mình để đăng ký bảo hộ cho sản phẩm kẹo dừa xuất khẩu. Năm 2001, Công ty Cà phê Trung Nguyên đã phải chi một khoản tiền không nhỏ để lấy lại thương hiệu do một Việt kiều ở Mỹ đã đăng ký nhãn hiệu này trước đó.

Những câu chuyện trên vẫn chưa thể gợi ra những mối quan tâm về thương hiệu từ phía cơ quan quản lý trong thời gian gần đây. Một số doanh nghiệp xin góp vốn bằng thương hiệu, nhưng đã bị Bộ Tài chính từ chối, bởi chuẩn mực kế toán 04 của bộ ban hành không cho phép việc này. Ngay cả khi làn sóng cổ phần hóa doanh nghiệp làm xuất hiện sự lúng túng về việc xác định giá trị thương hiệu cấu thành tài sản doanh nghiệp, thì vẫn chưa có một cơ quan nào đứng ra lo liệu.

Câu chuyện về giá trị thương hiệu chỉ thực sự gây sự chú ý khi tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam Vinashin làm bùng lên làn sóng góp vốn bằng thương hiệu. Và cũng chính từ đề xuất của Vinashin, Bộ Tài chính mới đưa ra dự thảo thông tư hướng dẫn việc góp vốn và nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu để lấy ý kiến.

Continue reading

LAO ĐỘNG CHO THUÊ LẠI Ở VIỆT NAM

TS. NGUYỄN XUÂN THU – Đại học Luật Hà Nội

Mở đầu

1. Lao động cho thuê lại (còn gọi là lao động phái cử) có thể hiểu là những người lao động đã được tuyển dụng bởi một doanh nghiệp (bằng hợp đồng lao động giữa người lao động và doanh nghiệp đó), được doanh nghiệp khác thuê lại trong một thời gian nhất định thông qua hợp đồng cho thuê lại lao động giữa doanh nghiệp cho thuê (người sử dụng lao động của những lao động phái cử) và doanh nghiệp thuê lại lao động.

Trong thời gian làm việc tại doanh nghiệp thuê lại lao động, người lao động chịu sự quản lý, điều hành của doanh nghiệp thuê lại lao động, nhưng quan hệ lao động (hợp đồng lao động) vẫn được duy trì với doanh nghiệp cho thuê lao động. Điều này có nghĩa những quyền lợi cơ bản của người lao động (tiền lương, bảo hiểm…) được doanh nghiệp cho thuê lao động bảo đảm theo hợp đồng lao động đã giao kết giữa hai bên và theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, người lao động vẫn có thể được hưởng các phúc lợi như những người lao động chính thức của doanh nghiệp thuê lại lao động do doanh nghiệp này thực hiện.

2. Bài viết này sẽ giới thiệu các quy định hiện hành của Việt Nam về nội dung hoạt động dịch vụ việc làm, quan điểm cũng như thực tế về lao động cho thuê lại tại Việt Nam, thái độ của các nhà lập pháp Việt Nam về vấn đề này trong thời gian tới. Cũng trong bài viết này, tác giả sẽ bày tỏ quan điểm cá nhân và trình bày những đề xuất ban đầu về lao động cho thuê lại ở Việt Nam.

Thực trạng về lao động cho thuê lại ở Việt Nam

3. Nội dung các hoạt động dịch vụ việc làm được quy định tại Điều 18 Bộ luật Lao động Việt Nam (đã sửa đổi, bổ sung năm 2002) bao gồm: tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động; cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động; thu thập, cung ứng thông tin về thị trường lao động [1].

Vấn đề đặt ra là những nội dung về hoạt động dịch vụ việc làm theo quy định trên có bao gồm hoạt động cho thuê lại lao động hay không?

Continue reading