VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN trong tố tụng trọng tài thương mại

THS. PHẠM TUẤN ANH – Chánh Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân TP Hà Nội

Trong nền kinh tế thị trường, các tranh chấp về kinh doanh đang diễn ra với chiều hướng gia tăng, nội dung tranh chấp phức tạp, mức độ tranh chấp gay gắt đòi hỏi phải được giải quyết kịp thời, nhằm bảo vệ quyền lợi cho các đương sự; đồng thời đây cũng là trách nhiệm của cơ quan nhà nước, các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại. Hiện nay ở VN có hai cơ quan tài phán để giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại đó là: hệ thống Tòa án nhân dân và hệ thống Trọng tài thương mại.

Toà án, Trọng tài thương mại là các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bổ sung lẫn nhau. Thực tế hoạt động của các Trung tâm Trọng tài thương mại cần có sự phối hợp của Toà án. Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003 là văn bản pháp luật đầu tiên ghi nhận vai trò của Toà án đối với các hoạt động của các Trung tâm trọng tài thương mại về bốn vấn đề sau:

– Chỉ định Trọng tài viên;

– Thay đổi Trọng tài viên;

– Áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời;

– Huỷ phán quyết trọng tài.

Tuy nhiên, Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 đã có những hạn chế nhất định. Chính vì vậy, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (Luật TTTM) đã ra đời để khắc phục những mặt hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 nhằm đảm bảo cơ sở pháp lý cho sự hoạt động của Toà án trong việc hỗ trợ các Trung tâm Trọng tài thương mại.

Theo Luật TTTM thì vai trò hỗ trợ của Toà án đối với Trọng tài thương mại được xác lập toàn diện và đây đủ hơn, thể hiện ở những vấn đề sau:

Continue reading

VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

THS. PHẠM TUẤN ANH – Chánh Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân TP Hà Nội

Trong nền kinh tế thị trường, các tranh chấp về kinh doanh đang diễn ra với chiều hướng gia tăng, nội dung tranh chấp phức tạp, mức độ tranh chấp gay gắt đòi hỏi phải được giải quyết kịp thời, nhằm bảo vệ quyền lợi cho các đương sự; đồng thời đây cũng là trách nhiệm của cơ quan nhà nước, các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại. Hiện nay ở VN có hai cơ quan tài phán để giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại đó là: hệ thống Tòa án nhân dân và hệ thống Trọng tài thương mại.

Toà án, Trọng tài thương mại là các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bổ sung lẫn nhau. Thực tế hoạt động của các Trung tâm Trọng tài thương mại cần có sự phối hợp của Toà án. Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003 là văn bản pháp luật đầu tiên ghi nhận vai trò của Toà án đối với các hoạt động của các Trung tâm trọng tài thương mại về bốn vấn đề sau:

– Chỉ định Trọng tài viên;

– Thay đổi Trọng tài viên;

– Áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời;

– Huỷ phán quyết trọng tài.

Tuy nhiên, Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 đã có những hạn chế nhất định. Chính vì vậy, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (Luật TTTM) đã ra đời để khắc phục những mặt hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 nhằm đảm bảo cơ sở pháp lý cho sự hoạt động của Toà án trong việc hỗ trợ các Trung tâm Trọng tài thương mại.

Theo Luật TTTM thì vai trò hỗ trợ của Toà án đối với Trọng tài thương mại được xác lập toàn diện và đây đủ hơn, thể hiện ở những vấn đề sau:

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 102/2010/NĐ-CP VỀ HƯỚNG DẪN CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP: TỐT VÀ CHƯA TỐT

NGUYÊN TẤN

So với quy định hiện hành, Nghị định 102/2010/NĐ-CP (gọi tắt là “Nghị định 102”) hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp vừa được Chính phủ ban hành có khá nhiều điểm mới. Có điểm mới tốt, tuy nhiên cũng có những điểm mới gây băn khoăn.

Những điểm mới ấn tượng

“Làn gió mới” đầu tiên mà Nghị định 102 mang đến là quy định về việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ. Theo đó, tổ chức, cá nhân được quyền sử dụng các tài sản liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn. Chính phủ cũng quy định luôn là Bộ Tài chính có trách nhiệm ban hành văn bản hướng dẫn về việc này (điều 5).

Lâu nay, thương hiệu – phần nào đó có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (nhãn hiệu, tên thương mại…) có được góp vốn vào doanh nghiệp hay không vẫn là vấn đề chưa rõ ràng về phương diện pháp lý. Có những văn bản, ví dụ như các quy định về xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa thừa nhận giá trị thương hiệu là một trong những loại tài sản được đưa vào giá trị doanh nghiệp.

Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế (cụ thể là tại công văn của Tổng cục Thuế giải thích Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04-Tài sản cố định vô hình ban hành kèm theo Quyết định 149/2001/QĐ-BTC của Bộ Tài chính), thương hiệu không được ghi nhận là tài sản và do đó không được góp vốn bằng thương hiệu.

Vì lý do này, khi xác định giá trị Bệnh viện Bình Dân để cổ phần hóa cách đây ba năm các chuyên gia đã phải loại bỏ giá trị thương hiệu “Bình Dân” để chọn một phương án khác có giá trị thấp hơn. Dù không liên quan lắm đến vấn đề định giá doanh nghiệp cổ phần hóa nhưng dù sao với quy định trên, doanh nghiệp sẽ an tâm hơn khi đưa vốn vào kinh doanh bằng quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có nhãn hiệu, tên thương mại…

Continue reading

LỊCH SỬ RA ĐỜI PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CỦA EC

CỔNG THÔNG TIN PHÁP LUẬT BỘ CÔNG THƯƠNG – Hiệp ước Rôme và các quy định cạnh tranh trong đó Hiệp ước có hiệu lực từ năm 1958. Các quy định này được thực thi cho đến khi có Quy chế số 17 được ban hành 4 năm sau đó, tức là 7 thập kỷ sau khi Hoa Kỳ có luật cạnh tranh. Luật của EC có sự liên hệ với Luật của Hoa Kỳ trong mối so sánh hệ thống giữa hai bờ Đại Tây Dương về các ý tưởng, bài học có thể được rút ra từ kinh nghiệm của Hoa Kỳ.

Ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong lĩnh vực luật cạnh tranh được nhìn nhận khá cụ thể. Ngày 1/1/1958, Hiệp ước Rôme đồng thời với một hệ thống luật cạnh tranh mới của Đức cùng có hiệu lực. Các quan chức Hoa Kỳ chiếm đóng Tây Đức cho rằng việc nền công nghiệp nước Đức trước chiến tranh bị tập trung hóa và cartel hóa nặng nề đã giúp, hậu thuẫn cho Hitler nổi lên nắm quyền lực, gây ra chiến tranh thế giới; luật cạnh tranh theo kiểu Mỹ sẽ giúp nền dân chủ của nước Đức hậu chiến. Tuy Đạo luật chống cartel hóa đã lần đầu tiên được đưa ra vào năm 1947, nhưng do áp lực từ trong nước và của phíaHoa Kỳ yêu cầu phải có một hệ thống luật mới hoàn toàn, Bộ trưởng kinh tế thời Thủ tướng Adenauer, ông Ludwig Erhard, đã gây áp lực mạnh mẽ cho việc ban hành luật mới năm 1958.

Luật Cạnh tranh mới của Đức đã nhanh chóng có được một vai trò quan trọng trong hệ thống pháp lý và kinh tế của nước Đức. Tổ chức chịu trách nhiệm chính trong việc thực thi luật là Cục Cartel liên bang. Kinh nghiệm và ảnh hưởng của Đức có tác động quan trọng đến luật cạnh tranh của EC bắt đầu phát triển từ giữa những năm 1960 trở đi. Do luật chống độc quyền củaHoa Kỳ ảnh hưởng đến hệ thống luật của Đức, hệ thống luật của Đức lại ảnh hưởng đến luật của EC. Nên theo nguyên lý bắc cầu thì luật của EC liên quan chủ yếu đến luật của Hoa Kỳ.

Trên thực tế, Luật cạnh tranh EC đã được xây dựng bởi người châu Âu, trong đó chủ yếu là người Đức, với những ý tưởng của người Mỹ. Tuy nhiên, đã thành xu hướng là người ta thường thảo luận luật của EC thông qua lăng kính những phát triển của luật Mỹ. Trong một quyển sách xuất bản năm 1998, Daniel Gerber, một luật sư về luật so sánh, luận lập rằng Châu Âu có một truyền thống giàu có về những tư tưởng mà hiện nay được gọi là luật cạnh tranh. Chính điều này đã tạo cho pháp luật cạnh tranh trong nước của các nước Châu Âu cũng như luật cạnh tranh của EC một đặc trưng của riêng nó.

Continue reading

VẤN ĐỀ ỦY QUYỀN DỰ HỌP ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG TRONG PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP

TRANG THÔNG TIN PHÁP LUẬT BỘ CÔNG THƯƠNG – Khi Đại hội đồng cổ đông họp thông thường, không phải mọi cổ đông đều có thể tham gia. Tuy nhiên pháp luật công ty nước nào cũng quy định về việc để phiên họp Đại hội đồng cổ đông có giá trị thì phải có đủ một tỉ lệ cổ đông nắm giữ một lượng cổ phần nhất định tham gia biểu quyết. Vậy làm sao để có đủ số lượng cổ đông cũng như cổ phần nhất định trong cuộc họp khi mà các cổ đông có thể đang ở khắp nơi trên thế giới? Và chính vì điều này mà vấn đề ủy quyền trong các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được bàn đến khá nhiều trong pháp luật về công ty.

1. Ủy quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông theo pháp luật Việt Nam:

Trong pháp luật Việt Nam, vấn đề pháp lý này được quy định trong Luật doanh nghiệp và Nghị định 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điêu Luật doanh nghiệp hiện đang được sửa đổi. Theo đó, Luật doanh nghiệp tại Điều 79, khoản 1 điểm a quy định Cổ đông có quyền "Thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện được ủy quyền". Dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 139/2007/NĐ-CP tại Điều 27 khoản 1 điểm c quy định cổ đông có thể tham dự Đại hội đồng cổ đông bằng cách ủy quyền cho người khác dự họp Đại hội đồng cổ đông và "nếu điều lệ công ty không quy định khác hoặc cổ đông có liên quan không có ý kiến khác bằng văn bản, các thành viên độc lập của Hội đồng quản trị đương nhiên là người đại diện theo ủy quyền của tất cả các cổ đông không tham dự họp Đại hội đồng cổ đông"

Quy định nói trên nhằm giải quyết một vấn đề thực tiễn liên quan chủ yếu đến các công ty cổ phần niêm yết. Theo Luật doanh nghiệp tại Điều 102, khoản 1 thì cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 65% số cổ phần có quyền biểu quyết. Tuy vậy, trong thực tế cho thấy một bộ phận không nhỏ cổ đông, nhất là cổ đông là cá nhân của các công ty niêm yết thường ít quan tâm và không tham dự họp Đại hội đồng cổ đông, vì vậy, việc triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông lần đầu thường không đủ số cổ đông tham dự theo quy định và vì vậy không thế họp được.

Continue reading

TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI: ĐÒI BỒI THƯỜNG BA CÂY LÊ KI MA

KIỀU NGÂN

Bên thì nói ba cây lêkima do mình trồng trên hẻm chung, bên lại bảo cây có nguồn gốc tự nhiên, tự ý chặt cũng chẳng sao… Qua nhiều buổi tòa tổ chức hòa giải, hai bên vẫn không thỏa thuận được mức giá bồi thường cụ thể.

TAND quận Thủ Đức (TP.HCM) vừa thụ lý một vụ kiện khá lạ: Bà U. kiện đòi bà L. phải bồi thường 15 triệu đồng vì đã tự ý chặt ba cây lêkima (còn gọi cây trứng gà), gây thiệt hại về thu nhập của bà…

Xây nhà, chặt cây

Theo bà U., trước năm 1975, bà đã tự tay trồng ba cây lêkima trên con hẻm chung trong xóm. Bà thường xuyên chăm sóc, tưới nước cho cây, tạo bóng mát cho mọi người ra vào hẻm. Bù lại, từ xưa đến giờ bà cũng là người duy nhất hái trái cây lêkima đem bán để có thêm thu nhập.

Đầu tháng 3-2010, bà L. ở phía đối diện xây nhà. Không hiểu tại sao bà L. đã chặt ba cây lêkima trên mà không hỏi ý kiến của bà. Việc làm này của bà L. đã làm bà bị thiệt hại về thu nhập. Cụ thể theo bà U., gia đình bà thu hoạch trái lêkima một năm bốn lần, bán được từ 500.000 đến 600.000 đồng. Tính ra, giá trị cây bị chặt và thiệt hại về việc bán trái cây là gần 15 triệu đồng.

Trước yêu cầu đòi bồi thường toàn bộ số tiền trên của bà U., bà L. phản bác: Ba cây lêkima trên mọc tự nhiên chứ không phải do bà U. trồng. Rễ của một cây ăn sâu vào trong phần móng của nhà bà. Bà đã thỉnh thị ý kiến của UBND phường và được nơi đây chấp nhận cho bứng cây để hạn chế khả năng gây nguy hiểm trong mùa mưa bão. Nghe vậy, bà mới đi chặt cây. Bà L. chỉ chấp nhận bồi hoàn 1 triệu đồng vì lẽ ra chỉ chặt cái cây có rễ đâm vào móng nhà mình thì lại đi chặt hết cả ba cây.

Tòa nhờ cơ quan chuyên môn

Không đồng ý, ngày 16-4, bà U. đã viết đơn kiện bà L. ra TAND quận Thủ Đức và được tòa thụ lý.

Continue reading