MẠN ĐÀM: VĂN HÓA ĐÌNH LÀNG VIỆT NAM – BIÊN GIỚI GIỮA LỆ LÀNG VÀ PHÁP LUẬT QUA LŨY TRE LÀNG

THS. CAO VIỆT THĂNG – Viện Nhà nước và Pháp luật

Từ lâu trong truyền thống văn hóa người Việt, ngôi đình và ngôi chùa đã luôn gắn liền với nếp sinh hoạt văn hóa của họ. Khác hẳn không khí sinh hoạt an nhàn nơi cửa chùa (trẻ vui nhà, già vui chùa) – nơi con người cầu mong sự che chở sự từ bi nơi cửa phật. Ngược lại, ngôi đình làng vừa thể hiện được sự uy nghiêm của chốn tâm linh nhưng cũng là nơi diễn ra rất nhiều hoạt động của đời sống thường nhật của cộng đồng thôn, làng. Cụ thể, đây vừa là nơi hay diễn ra các lễ hội truyền thống, vừa là nơi tổ chức các sinh hoạt văn hóa cộng đồng… Nhưng có lẽ điều đặc biệt nhất chính là các hoạt động vừa mang tính tâm linh, vừa mang màu sắc chính trị được diễn ra trên chiếc chiếu đình.

1. Yếu tố tâm linh, cách bài trí và vai trò của đình làng

Khi tìm hiểu về ngôi đình làng, một số vấn đề nhất thiết phải quan tâm như: sự hiện diện của các yếu tố tâm linh của các ngôi đình làng, vị trí đặt ngôi đình làng, kiến trúc và bày biện nội thất của các ngôi đình làng, tiếp đến là cách thức tổ chức sinh hoạt của ngôi đình làng và thành phần tham gia cũng như mục đích tham gia sinh hoạt của những thành viên tại đây…

Trước tiên, nói về những yếu tố tâm linh trong ngôi đình làng, bất cứ ngôi đình nào cũng đều thờ thành hoàng của làng. Đây là yếu tố bắt buộc, thành hoàng của mỗi làng có thể là khác nhau nhưng tựu chung đều là những người được cho là có công lao to lớn đối với làng và được sự ghi nhận của dân làng và qua nhiều đời được tôn là thành hoàng của làng. Thành hoàng là người gánh vác trách nhiệm tâm linh bảo vệ dân làng. Ngoài thành hoàng làng, tùy theo mỗi ngôi đình làng còn có thể thờ thêm các vị thần, thánh khác do mỗi làng tôn thờ nhằm mục đích: tri ân các vị thánh, hoặc việc thờ cúng các vị thần này theo sắc phong của Nhà vua. Nhà vua sắc phong công lao cho vị thánh và giao nhiệm vụ cho vị thánh đó giám hộ, bảo vệ thôn, làng ngược lại thôn, làng có bổn phận thờ cúng vị thánh của làng mình, qua đó cũng thể hiện tri ân công đức vị thánh và cũng là tri ân nhà vua.[1]

Continue reading

HÌNH THỨC VĂN BẢN, VĂN BẢN CÓ CHỨNG THỰC LÀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG

TS. DƯƠNG ANH SƠN – Khoa Luật, Đại học Kinh tế – Luật, ĐH Quốc gia TPHCM

THS. LÊ MINH HÙNG – Đại học Luật TPHCM

Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005), sau hơn 4 năm có hiệu lực đã bộc lộ khá nhiều bất cập, đặc biệt là các quy định liên quan đến chế định quyền sở hữu và hợp đồng. Đối với chế định hợp đồng, một trong những vấn đề được giới nghiên cứu cũng như giới thực tiễn quan tâm là hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.

1. Vai trò, ý nghĩa của hình thức hợp đồng

Về vai trò, ý nghĩa của hình thức hợp đồng, cụ thể ở đây là hình thức văn bản, văn bản có chứng thực, có nhiều ý kiến khác nhau. Có quan điểm cho rằng, hình thức hợp đồng có hai chức năng: (i) là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và (ii) là bằng chứng giao kết hợp đồng1. Ý kiến khác lại cho rằng, “lý do hạn chế về hình thức hợp đồng rất khác nhau, tùy quan điểm của mỗi quốc gia. Nhưng tựu trung lại có ba lý do chủ yếu sau đây: để bảo toàn chứng cứ; để khẳng định “tính nghiêm túc, tính chắc chắn” của sự thể hiện ý chí các bên, và để bảo vệ trật tự pháp luật, trật tự công cộng”2. Theo Vũ Văn Mẫu, vai trò của hình thức hợp đồng có thể tóm tắt trong bốn điểm: (i) các hình thức trọng thể được ấn định cho một số hành vi quan trọng, cốt để các đương sự chú trọng đặc biệt việc mình sắp làm; (ii) các hình thức chứng cứ để dẫn chứng trước pháp luật (luật tố tụng trong trường hợp này chỉ chấp nhận hai cách dẫn chứng: “chứng thư hợp đồng” và “sự thú nhận của đương sự”); (iii) các hình thức cấp-tư-năng nhằm đảm bảo quyền định đoạt của những người chưa hoàn toàn có tư cách chủ thể độc lập để tự mình xác lập các giao dịch dân sự (ví dụ người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi khi xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của mình); (iv) các hình thức công bố trong trường hợp có liên quan đến người thứ ba3. Một số tác giả khác, ngoài các vai trò và ý nghĩa nói trên còn đề cập đến một số vai trò khác nữa của hình thức hợp đồng4.

Từ những quan điểm nói trên, chúng tôi cho rằng, hình thức của hợp đồng, cụ thể là hình thức văn bản và văn bản có chứng thực của hợp đồng đảm nhận ba vai trò cơ bản sau đây: i) là bằng chứng tồn tại của hợp đồng; ii) là điều kiện để hợp đồng có hiệu lực và; iii) có giá trị đối kháng với người thứ ba. Tuy nhiên, việc coi trọng chức năng nào trong ba chức năng trên nên tuỳ thuộc vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.

Continue reading