CÔNG VĂN SỐ 1862/QLLĐNN-QLLĐ NGÀY 04 THÁNG 10 NĂM 2010 CỦA CỤC QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NGOÀI NƯỚC, BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ CHẾ ĐỘ BỒI THƯỜNG TAI NẠN LAO ĐỘNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC TẠI MALAYSIA

Kính gửi:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Liên quan đến chế độ bảo hiểm tai nạn lao động đối với lao động Việt Nam đi làm việc tại Malaysia, thời gian qua Cục Quản lý lao động ngoài nước và Ban Quản lý lao động và chuyên gia Việt Nam tại Malaysia nhận được đơn thư của một số công dân và doanh nghiệp XKLĐ hỏi về chế độ bồi thường bảo hiểm cho người lao động bị tai nạn tại Malaysia. Căn cứ theo quy định của phía Malaysia, Cục và Ban đã trả lời và hướng dẫn cụ thể với mỗi trường hợp.

Theo báo cáo số 73/BQLLĐ ngày 23/7/2010 của Ban Quản lý lao động và chuyên gia Việt Nam tại Malaysia thì chính sách, chế độ, thủ tục, hồ sơ đối với việc bồi thường bảo hiểm cho người lao động nước ngoài bị tai nạn lao động tại Malaysia vẫn như trước đây, được điều chỉnh bởi Luật bồi thường tai nạn cho người lao động năm 1952 (tới nay, Luật đã qua một số lần sửa đổi, điều chỉnh, bổ sung, nhưng về cơ bản nội dung vẫn theo Luật năm 1952). Cục Quản lý lao động ngoài nước trích những nội dung chính trong Luật để quý Sở biết như sau:

1. Đối tượng, phạm vi Luật áp dụng:

Luật áp dụng đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Malaysia có tiền lương không thấp hơn 500 RM/tháng hoặc lao động giản đơn (bất kể với mức tiền lương nào). Luật này không áp dụng đối với lao động giúp việc gia đình nước ngoài tại Malaysia.

2. Bồi thường bảo hiểm trong các trường hợp tai nạn sau đây:

2.1. Tai nạn xảy ra trong thời gian làm việc:

* Trong thời gian làm việc tại Công ty, người lao động gặp tai nạn:

– Khi người lao động đang làm việc tại nơi làm việc theo quy định của Công ty;

– Khi người lao động đang tiến hành một vụ cấp cứu thực sự hoặc giả định tại nơi làm việc để giải nguy, bảo vệ những người được cho là có thể bị thương hoặc gặp nguy hiểm hoặc để làm giảm thiểu tổn thất tài sản;

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 104/2010/NĐ-CP NGÀY 11 THÁNG 10 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ TỔ CHỨC, QUẢN LÝ VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN DO NHÀ NƯỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU TRỰC TIẾP PHỤC VỤ QUỐC PHÒNG, AN NINH

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về việc thành lập mới, tổ chức, quản lý và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh theo quy định tại Điều 3 Nghị định này; các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thành lập mới, tổ chức, quản lý, hoạt động và kiểm tra, giám sát đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh.

Điều 3. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh

1. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh (sau đây gọi là doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh) là công ty do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, được đầu tư thành lập hoặc tổ chức lại dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoạt động theo Luật Doanh nghiệp để trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ mang tính ổn định, thường xuyên trong những lĩnh vực, địa bàn trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh liên quan đến bảo đảm bí mật quốc gia, nâng cao năng lực quốc phòng, an ninh.

2. Tiêu chí xác định doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh:

a) Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thành lập hoặc tổ chức lại theo quy định của pháp luật, do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, hoạt động dưới loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;

Continue reading