NHỮNG BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN

TS. TRẦN VĂN HẢI – Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) có hiệu lực kể từ 01/7/2006, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật về SHTT và xâm phạm quyền SHTT không hề giảm đi mà vẫn có chiều hướng gia tăng, một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là pháp luật về SHTT có nhiều bất cập. Trong phạm vi bài viết chúng tôi phân tích một số bất cập của pháp luật SHTT hiện hành về quyền tác giả, quyền liên quan và đề xuất việc hoàn thiện.

1. Về thuật ngữ “tác giả” và “đồng tác giả”

Mặc dù Luật SHTT năm 2005, sửa đổi năm 2009 (gọi tắt là Luật) không định nghĩa thuật ngữ “tác giả”, nhưng điều 8 Nghị định 100/2006/NĐ-CP đã quy định: “Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học”, đồng thời Nghị định này không quy định tác giả là pháp nhân, do đó có thể nói rằng tác giả chỉ có thể là cá nhân.

Pháp luật Việt Nam về SHTT cũng không định nghĩa thuật ngữ “đồng tác giả” mà mặc nhiên quan niệm trong trường hợp có từ hai tác giả trở lên cùng sáng tạo nên một tác phẩm thì họ là các đồng tác giả của tác phẩm đó. Quan niệm này chỉ điều chỉnh được mối quan hệ về quyền tài sản đối với tác phẩm giữa các đồng tác giả đối với các trường hợp sau:

– Tác phẩm được coi là đồng sở hữu chung duy nhất;

– Tác phẩm được coi là đồng sở hữu chung theo phần, trường hợp này được điều chỉnh bởi Điều 38 của Luật: các đồng tác giả sáng tạo ra tác phẩm, nếu có phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác thì có các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với phần riêng biệt đó.

Quan niệm quá đơn giản như trên là không phổ quát, bởi lẽ nó không thể điều chỉnh được quyền nhân thân đối với tác phẩm mà các ví dụ sau đây là minh chứng:

Continue reading

TỔNG QUAN VỀ LUẬT TÀI SẢN

NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Các học giả ngày nay không thể không thừa nhận rằng, luật tư là một ngành luật cơ bản, trong sự khác biệt với luật công, luôn luôn gắn bó với đời sống thường nhật của con người, và đã được sinh ra từ mối quan hệ cơ bản và bình thường của con người từ thời thượng cổ. Nó ít bị biến đổi theo các trào lưu chính trị và chỉ tự làm cho mình phù hợp với các hoàn cảnh xã hội cụ thể bằng cách bồi đắp hay cập nhật thêm những điểm mới, hoặc gọt giũa đi những điểm đã già cỗi. Nhưng tóm lại cái gốc của nó vẫn còn nguyên vẹn như từ thủa mới sinh. Chỉ những nền tài phán nào không xây dựng trên cái gốc đó, cái nền tảng đó mới luôn luôn bị rung chuyển, bị xáo trộn, bị hoang mang. Phải chăng nền pháp luật của Việt Nam hiện nay cũng như vậy?

Thật thế, luật dân sự – nền tảng căn bản của luật tư mà ở đó Nhà nước chỉ đóng vai trò trọng tài – có liên quan tới con người, tới hành vi của con người và quan hệ của con người đối với nhau và tới tài sản [5, tr. III]. Phân chia một cách thô thiển thì có hai loại quan hệ: Một là quan hệ giữa người với người; và Hai là quan hệ giữa người với người và vật.

Trong các hệ thống pháp luật, thông thường người ta mượn các khái niệm và các giải pháp của Luật La Mã để giải quyết các mối quan hệ đó. Quan hệ giữa trái chủ và người thụ trái xác định là quan hệ nghĩa vụ. Và luật điều tiết các quan hệ đó được gọi là luật nghĩa vụ hay luật về quyền đối nhân. Còn quan hệ giữa mọi người liên quan tới vật được điều tiết bởi một thứ luật gọi là luật tài sản (jus rerum). Vì vậy các vật quyền thường được xem là phạm vi truyền thống của luật tài sản. Tuy nhiên, về kỹ thuật pháp điển hoá hay ứng dụng cụ thể, các hệ thống pháp luật có thể có những cách lựa chọn khác nhau. Nhưng điểm đáng nói nhất đối với các luật gia không phải là vấn đề kỹ thuật mà họ có thể làm chủ một cách dễ dàng, mà là những học thuyết ẩn sâu trong những quan niệm, và tính hệ thống, tính logic của các vấn đề pháp lý.

Muốn nghiên cứu những vấn đề phức tạp đó, trước tiên cần phải khảo sát các quan niệm về tài sản.

1. Khái niệm tài sản

Không lý gì mà khi nói về khái niệm tài sản lại không nhắc tới định nghĩa về tài sản của pháp luật Việt Nam, cho dù nó hay hoặc không hay. Điều 172 của Bộ Luật Dân sự Việt Nam 1996 lý giải:

Continue reading