NGHIỆP VỤ REPO TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM – ĐÔI ĐIỀU BÀN LUẬN

TS. NGUYỄN THỊ MỸ DUNG – Trường Đại học Ngân hàng TP.Hồ Chí Minh

Hoạt động mua bán chứng khoán có kỳ hạn (REPO – Repurchase Order) tại các công ty chứng khoán Việt Nam đã được thực hiện trong những năm gần đây nhưng chưa được các nhà đầu tư biết đến và sử dụng rộng rãi. Để tạo tính thanh khoản cho các cổ phiếu chưa niêm yết, các công ty chứng khoán đưa ra nghiệp vụ REPO để mua có kỳ hạn các loại cổ phiếu này nhằm mục đích tạo cho khách hàng có thêm nguồn vốn để mở rộng danh mục đầu tư của mình.

Đây là loại hình giao dịch mà người sở hữu cổ phiếu bán và mua lại cổ phiếu của chính mình trong một khoảng thời gian nhất định. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển cả về quy mô và chất lượng, thì nghiệp vụ Repo hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, sản phẩm chưa thật sự hoàn chỉnh để phục vụ tốt nhất cho khách hàng.

Tính ưu việt của nghiệp vụ REPO

Việc thực hiện nghiệp vụ REPO góp phần làm tăng tính thanh khoản cho thị trường, tăng hiệu quả đồng vốn kinh doanh. REPO chứng khoán sử dụng một hợp đồng mua bán lại, trong đó, quy định các điều khoản mà các bên tham gia phải tôn trọng. Các hợp đồng REPO được phân vào loại công cụ thị trường tiền tệ và chúng được sử dụng để huy động vốn trong ngắn hạn.Về bản chất, nghiệp vụ REPO giống như một khoản cho vay có đảm bảo bằng chứng khoán và các tài khoản đảm bảo khác nhưng nó có những đặc điểm riêng và linh hoạt hơn. Chẳng hạn, người mua trong giao dịch REPO có quyền kinh doanh chứng khoán đã mua trong suốt thời hạn của hợp đồng, điều này khác ở các hợp đồng cho vay có tài sản cầm cố là chứng khoán. Hoặc là, nhà đầu tư vẫn có quyền mua lại số cổ phiếu đã bán sau một thời gian nhất định, trong thời gian chuyển nhượng vẫn được hưởng cổ tức và các quyền lợi phát sinh khác từ cổ phiếu đã chuyển nhượng. Có thể so sánh tính ưu việt của nghiệp vụ REPO (bảng 1):

Continue reading

HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM – MỘT GÓC NHÌN TỪ VỐN ĐIỀU LỆ

TS. PHAN VĂN TÍNH – Viện nghiên cứu quốc tế về hệ thống và biện chứng

Vừa qua, có nhiều ý kiến băn khoăn về việc thực hiện Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ về mức vốn pháp định của ngân hàng thương mại (NHTM) thành lập và hoạt động theo luật pháp Việt Nam, cũng như một số vấn đề về năng lực của hệ thống.

Trên Báo Thanh niên số 161 ngày 10/6/2010, Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa cho rằng, hiện nay, có ba vấn đề liên quan đến tăng vốn điều lệ là: không có tiền, tăng vốn dẫn đến tăng dư nợ cho vay vô tội vạ, khả năng quản trị của các ngân hàng không đảm bảo; bên cạnh đó, Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa tỏ ra lo lắng về rủi ro của hệ thống ngân hàng ở Việt Nam “Điều đáng lo lắng nhất hiện nay của ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) là họ gần như bỏ đi hoàn toàn chức năng quản lý rủi ro. Tất cả các quyết định hàng ngày của Chủ tịch Hội đồng quản trị (HĐQT) và Tổng giám đốc đều không có tiếng nói của quản trị rủi ro”. Chúng tôi xin chia sẻ điều quan tâm nói trên, tuy nhiên, cũng cần phải làm rõ một số vấn đề, nếu không dư luận xã hội và các nhà quản lý chuyên ngành không thể không lo lắng. Vì vậy, trên diễn đàn này, chúng tôi xin được trao đổi với tác giả và cung cấp thêm thông tin để độc giả tham khảo. Nội dung bài viết của chúng tôi xoay quanh 3 ý kiến nêu trên.

1. Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam – quá trình phát triển

Cùng với quá trình cải tổ và phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường, hệ thống các tổ chức ở Việt Nam hình thành đa dạng về chủng loại và phát triển nhanh về chiều rộng lẫn chiều sâu. So với những năm đầu của thập kỷ 80, hiện nay, hệ thống NHTMCP(1) Việt Nam đã mạnh hơn nhiều.

Thời gian đầu, hệ thống NHTM ở Việt Nam còn manh mún. Hệ thống ngân hàng chia thành hai loại: NHTMCP đô thị với vốn pháp định là 50 tỷ đồng; NHTMCP nông thôn với vốn pháp định là 2 tỷ đồng. Vốn pháp định đã ba lần điều chỉnh: (i) lần 1, từ 2 tỷ lên 5 tỷ đồng đối với NHTMCP nông thôn; từ 50 tỷ đồng lên 70 tỷ đồng đối với NHTMCP đô thị; (ii) lần 2, điều chỉnh đồng loạt lên 1.000 tỷ đồng đối với NHTMCP đô thị; (iii) đến cuối năm 2010, các NHTMCP phải đáp ứng vốn pháp định đồng loạt là 3.000 tỷ đồng.

Continue reading

THẤY GÌ TỪ VIỆC MỘT DOANH NGHIỆP KIỆN BỘ TRƯỞNG?

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch HĐTV – Công ty Tư vấn VFAM Việt Nam

Việc một doanh nghiệp tư nhân dám cả gan kiện ông Bộ trưởng Bộ Công Thương có lẽ cũng là chuyện hy hữu trong nền hành chính ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, sự kiện đó và những diễn biến của nó cũng cho chúng ta những suy nghĩ bổ ích và lý thú.

Tóm tắt sự việc

Ngày 4-3-2009, Doanh nghiệp tư nhân sản xuất – thương mại Tam Đảo (gọi tắt là Tam Đảo), có địa chỉ tại quận 6, TPHCM nhập khẩu 760 máy phát điện và bị Đội quản lý thị trường 6B (quận 6) bắt giữ với lý do không xuất trình đủ hóa đơn chứng từ trong vòng 24 giờ kể từ khi kết thúc kiểm tra.

Không đồng tình, doanh nghiệp tư nhân Tam Đảo đã khởi kiện UBND quận 6. Đầu tháng 8-2009, Tòa án nhân dân quận 6 đưa vụ việc ra xét xử và đã bác toàn bộ đơn khởi kiện. Tam Đảo kháng nghị lên Tòa án nhân dân TPHCM. Vụ việc đang chờ Tòa án nhân dân thành phố xét xử phúc thẩm. Do bức xúc vì bị các cơ quan quản lý áp dụng Thông tư 12/2007 đã quá lạc hậu vì được ban hành căn cứ vào Nghị định số 100/2004/NĐ-CP ngày 25-2-2004 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế; Nghị định số 138/2004/NĐ-CP ngày 17-6-2004 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan và Nghị định số 175/2004/NĐ-CP ngày 10-10-2004 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại.

Song, vào năm 2009, các nghị định nêu trên đều đã hết hiệu lực thi hành. Ngày 13-8-2010, chủ doanh nghiệp này tiếp tục nộp đơn khởi kiện đích danh người đứng đầu Bộ Công Thương là Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng.

Continue reading