THẤY GÌ TỪ VIỆC MỘT DOANH NGHIỆP KIỆN BỘ TRƯỞNG?

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch HĐTV – Công ty Tư vấn VFAM Việt Nam

Việc một doanh nghiệp tư nhân dám cả gan kiện ông Bộ trưởng Bộ Công Thương có lẽ cũng là chuyện hy hữu trong nền hành chính ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, sự kiện đó và những diễn biến của nó cũng cho chúng ta những suy nghĩ bổ ích và lý thú.

Tóm tắt sự việc

Ngày 4-3-2009, Doanh nghiệp tư nhân sản xuất – thương mại Tam Đảo (gọi tắt là Tam Đảo), có địa chỉ tại quận 6, TPHCM nhập khẩu 760 máy phát điện và bị Đội quản lý thị trường 6B (quận 6) bắt giữ với lý do không xuất trình đủ hóa đơn chứng từ trong vòng 24 giờ kể từ khi kết thúc kiểm tra.

Không đồng tình, doanh nghiệp tư nhân Tam Đảo đã khởi kiện UBND quận 6. Đầu tháng 8-2009, Tòa án nhân dân quận 6 đưa vụ việc ra xét xử và đã bác toàn bộ đơn khởi kiện. Tam Đảo kháng nghị lên Tòa án nhân dân TPHCM. Vụ việc đang chờ Tòa án nhân dân thành phố xét xử phúc thẩm. Do bức xúc vì bị các cơ quan quản lý áp dụng Thông tư 12/2007 đã quá lạc hậu vì được ban hành căn cứ vào Nghị định số 100/2004/NĐ-CP ngày 25-2-2004 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế; Nghị định số 138/2004/NĐ-CP ngày 17-6-2004 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan và Nghị định số 175/2004/NĐ-CP ngày 10-10-2004 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại.

Song, vào năm 2009, các nghị định nêu trên đều đã hết hiệu lực thi hành. Ngày 13-8-2010, chủ doanh nghiệp này tiếp tục nộp đơn khởi kiện đích danh người đứng đầu Bộ Công Thương là Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng.

Continue reading

GIỚI THIỆU VỀ CƠ QUAN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

THÔNG TIN PHÁP LUẬT BỘ CÔNG THƯƠNG – Ngày 18/3/1965, Trung tâm Giải quyết Tranh chấp Đầu tư Quốc tế (ICSID) được WB thành lập theo Công ước năm 1965 về Giải quyết Tranh chấp Đầu tư giữa các Quốc gia và Công dân của các Quốc gia khác. Tiếp đó, ngày 14/10/1966, 30 ngày sau khi văn bản phê chuẩn thứ 20 được nộp cho Ngân hàng thế giới, Công ước ICSID đã chính thức có hiệu lực.

Đến nay, Công ước này đã được khoảng 135 quốc gia phê chuẩn. Cùng với hoạt động của Trung tâm ICSID, năm 1976 các quốc gia ký kết đã thông qua Cơ chế phụ trợ của Trung tâm và ban hành bộ quy tắc tạo điều kiện thuận lợi bổ sung, cho phép Ban thư ký ICSID giải quyết các tranh chấp trong đó một bên không phải là thành viên Công ước ICSID.

Mục đích chủ yếu của Công ước là nhằm thiết lập ICSID – một cơ chế hòa giải và trọng tài thường trực bên cạnh WB – có chức năng giải quyết tranh chấp đầu tư giữa cơ quan nhà nước của một bên ký kết và nhà đầu tư của bên ký kết khác.

Thủ tục tố tụng không nhất thiết phải tiến hành ở trụ sở chính củaTrung tâm tại Oa-sing-tơn. Thỏa thuận giữa các chính phủ về việc đưa tranh chấp đầu tư ra trọng tài ICSID có thể tìm thấy trong các hợp đồng đầu tư giữa các chính phủ và nhà đầu tư, cũng như trong các hiệp định đầu tư song phương.

ICSID đặt trụ sở chính tại WB với tổ chức bộ máy gồm: Hội đồng Hành chính, Ban thư ký, Ban Hòa giải và Ban Trọng tài.

Hội đồng hành chính

Hội đồng Hành chính gồm đại diện do các quốc gia thành viên đề cử. Mỗi quốc gia thành viên được quyền đề cử một đại diện tham gia Hội đồng Hành chính.

Continue reading

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN “TRỌNG TÀI” TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

THÔNG TIN PHÁP LUẬT BỘ CÔNG THƯƠNG – “Trọng tài” là một phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án, trong đó, các bên tham gia tranh chấp thống nhất tranh chấp phát sinh nếu có sẽ do một hoặc một số người (“trọng tài viên”, “Ủy ban trọng tài”) giải quyết, và quyết định của một hoặc một số người đó (“phán quyết”) có tính chất bắt buộc thực hiện. Có thể hiểu “trọng tài” một cách đơn giản là một biện pháp giải quyết tranh chấp mang tính pháp lý, giống như việc kiện tụng ở tòa án và hoàn toàn khác biệt với nhóm các biện pháp không mang tính bắt buộc về mặt pháp lý như đàm phán, trung gian, thẩm tra và hòa giải.

Người ta không biết chính xác phương thức trọng tài bắt đầu xuất hiện từ khi nào, nhưng có thể khẳng định đây chính là hình thức tiền thân của việc hình thành các tòa án sau này. Tòa Trọng tài là một trong những phương thức cổ xưa nhất để giải quyết bất hòa giữa người với người, giữa quốc gia với quốc gia. Người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã biết sử dụng phương thức này để giải quyết tranh chấp. Quy định sơ khai về trọng tài trong luật mua bán hàng hóa cho phép các lái buôn được tự phân xử bất hòa của mình không cần có sự can thiệp của Nhà nước. Về sau Luật La Mã cho phép mở rộng phạm vi tranh chấp, không chỉ trong biên giới lãnh thổ, mà còn ở những nước La Mã có trao đổi hàng hóa, có nghĩa là trải rộng trên hầu khắp lục địa Châu Âu.

Trong hệ thống luật của Anh, văn bản pháp luật đầu tiên về trọng tài phải kể đến Luật Trọng tài 1697, nhưng vào thời điểm luật được thông qua, đây đã là một phương thức rất phổ biến (phán quyết đầu tiên của trọng tài ởAnh được đưa ra vào năm 1610). Tuy nhiên các quy định sơ khai về trọng tài trong hệ thống luật common law thể hiện một hạn chế cơ bản là bất cứ bên tham gia tranh chấp nào cũng có thể khước từ việc thực hiện phán quyết của trọng tài nếu thấy phán quyết đó bất lợi cho mình. Hạn chế này đã được khắc phục trong Luật năm 1697.

Trong Hiệp ước Jay năm 1794, Anh và Mỹ đã thống nhất đưa các vấn đề còn đang tranh chấp liên quan đến các khoản nợ và biên giới ra giải quyết ở trọng tài. Việc giải quyết tranh chấp này kéo dài 7 năm, và được coi là kết thúc thành công.

Continue reading

CẠNH TRANH HÀNG KHÔNG

ANH MINH

Chống độc quyền không còn là vấn đề kiêng kị. Nhưng câu chuyện của ngành hàng không cho thấy việc đi tới một thị trường cạnh tranh đúng nghĩa quả không hề đơn giản. Quá nhiều sóng gió ập đến với các hãng bay mới, khiến yếu tố cạnh tranh trên thị trường hàng không nội địa mới manh nha được vài năm có nguy cơ lại quay về thời kỳ một "đại gia" với "một chợ"?

Người ta nói rằng thị trường hàng không Việt Nam là một bức tranh hai mặt tương phản nhau, trong khi "đại gia" Vietnam Airlines (VNA) đang kiêu hãnh sải rộng cánh trên bầu trời trong nước và quốc tế, thì các hãng khác vẫn cứ trật vật với những pha cất cánh hụt hơi trên đường băng.

Sẽ không có gì để nói nếu gần đây liên tiếp các thông tin không mấy tốt lành từ Indochina Airlines (ICA), Vietjet và cả Jetstar Pacific (JPA)… đến với người tiêu dùng, như báo hiệu bước thụt lùi của ngành hàng không nội địa. Chỉ trong 1 tuần, hành khách của cả JPA và ICA lần lượt chuyển sang các chuyến bay của VNA. VNA sẽ tạm thời hết đối thủ và thị trường hàng không nội địa sẽ quay lại điểm xuất phát, gần như không còn tính cạnh tranh.

Theo lý thuyết thì chỉ cần từ 2 nhà cung cấp và một số điều kiện cơ bản về năng lực là đã có thể tạo nên một thị trường cạnh tranh lành mạnh. Điều này có vẻ không đúng lắm, bởi thị trường hàng không Việt Nam đang có tới 7 hãng hàng không cùng cạnh tranh, nhưng thực tế thì vẫn chưa thể cung cấp được những "món hàng ngon lành". Như vậy, không phải cứ nhiều doanh nghiệp tham gia là thị trường hàng không có khả năng cạnh tranh, bởi ngoại trừ VNA và JPA đang làm chủ thị trường, Vasco thực ra là thành viên trực thuộc VNA, VietAir mới được manh nha, còn lại Indochina Airlines, Vietjet Air và Mekong Air đều như những chú chim non chưa mọc đủ lông cánh.

Các chuyên gia đánh giá, về bản chất, tính độc quyền chưa bao giờ hết chi phối thị trường hàng không, mặc dù liên tục có sự góp mặt của các hãng hàng không mới. Yếu tố cạnh tranh mới manh nha chưa thể đủ mạnh nên dễ dàng bị bóp nghẹn vì các hãng mới thành lập còn bộn bề khó khăn.

Continue reading

QUI CHẾ NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG TRONG PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA EU VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRONG CÁC VỤ KIỆN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA VIỆT NAM

image THS. TRẦN THU HƯỜNG – Bộ Tư pháp

Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới từ năm 2007 và chấp nhận thời hạn 12 năm cho quy chế nền kinh tế phi thị trường kể từ ngày gia nhập và không muộn hơn 31/12/2018. Hệ quả trực tiếp cam kết này đó là việc áp dụng quy chế nền kinh tế phi thị trường trong điều tra chống bán phá giá đối với hàng hóa của Việt Nam trên thị trường thế giới. Tuy nhiên trước đó hàng hóa của Việt Nam đã phải đối mặt với quy chế nền kinh tế phi thị trường trong quá trình điều tra chống bán phá của US và EU.

Bài viết này nghiên cứu các quy định của EU về chống bán phá giá đối với các nước có nền kinh tế thị trường qua việc phân tích các vụ điều tra đã thực hiện đối với hàng hóa của Việt Nam, cụ thể là chốt cải thép không gỉ (2004), xe đạp (2005) và giày mũ da (2006). Từ thực tiễn giải quyết các vụ kiện chống bán phá giá đối với Việt Nam của EU, bài viết được hy vọng là làm rõ các vấn đề pháp lý mà các doanh nghiệp Việt Nam nên lưu tâm khi tham gia các vụ kiện chống bán phá giá cũng như khi đưa ra các phản biện hợp lý và trong một chừng mực nào đó phù hợp với các tiêu chí xem xét của EU.

Quy chế nền kinh tế phi thị trường áp dụng trong điều tra chống bán phá giá được nêu tại Điều 2(7) Quy định của Hội đồng số 384/96 ngày 22/12/1995 về việc bảo vệ chống lại hàng nhập khẩu bán phá giá từ các quốc gia không phải là thành viên của Cộng đồng Châu Âu (sau đây gọi là Quy định số 384/96). Đến Quy định của Hội đồng số 905/98 ngày 27/4/1998 sửa đổi Quy định của Hội đồng số 384/96, các quy chế đối với nền kinh tế thị trường đã được bổ sung thêm với việc mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp được áp dụng quy chế điều tra thông thường trong trường hợp đáp ứng các điều kiện nhất định. Và trong Quy định này, Việt Nam có tên trong danh sách các quốc gia có nền kinh tế phi thị trường đang trong quá trình chuyển đổi. Tiếp theo, ngày 5/11/2002, Quy định của Hội đồng số 1972/2002 sửa đổi Quy định số 384/96 quy định về nguyên tắc thuế chống bán phá giá sẽ được áp dụng theo mức phù hợp cho mọi vụ việc, trên cơ sở không phân biệt đối xử đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nguồn khác nhau bị kết luận là có bán phá giá và gây thiệt hại. Tuy nhiên nếu như doanh nghiệp thuộc các quốc giá có nền kinh tế phi thị trường đáp ứng được các yêu cầu theo quy định thì sẽ được áp mức thuế riêng cho từng doanh nghiệp (gọi là individual treatment – IT).

Continue reading

THỎA THUẬN GIỮA PETROVIETNAM VÀ TỔNG CỤC THUẾ: LỖ HỔNG PHÁP LUẬT

TÔ VĂN TRƯỜNG

Công luận đang xôn xao, bàn luận việc thỏa thuận "hợp tác" giữa Petrovietnam thông qua Tổng cục Thuế sẽ có tác động đến các cơ quan nhà nước để sao cho có lợi cho Petrovietnam.

Trong thuật ngữ quản trị học có nguyên tắc "không được phép song trùng vai trò quản lý và bị quản lý ở 1 người thuộc 2 cấp phụ thuộc trực tiếp" . Nguyên tắc tối cao của luật pháp là có thể thỏa mãn tối đa lợi ích của cá nhân, nhóm lợi ích này nhưng không được làm hại đến cá nhân và nhóm lợi ích khác. Bởi vậy, công luận đang xôn xao, bàn luận việc thỏa thuận "hợp tác" giữa Petrovietnam thông qua Tổng cục Thuế sẽ có tác động đến các cơ quan nhà nước để sao cho có lợi cho Petrovietnam.

Nếu tôi nhớ không nhầm, đây không phải là lần đầu có sự "bắt tay" dạng này. PetroVietnam từng hợp tác với Bộ Tư pháp và một số đơn vị khác về cơ chế quản lý và giáo dục chính trị tư tưởng… Cái khác của lần này là hình như, sự bắt tay này có vẻ lộ liễu như thách thức dư luận xã hội và thể chế nhà nước?

Nước ta còn nghèo, ngân sách hiện nay còn dựa vào nguồn thu lớn là tiền bán dầu khí. Khi biết chuyện, một số người mới có cảm giác: Tổng cục Thuế phải có trách nhiệm đặc biệt quan tâm "chăm sóc" đại gia dầu khí để tận thu cho nguồn ngân sách của nhà nước. Hành động bắt tay khiến dư luận đặt câu hỏi, phải chăng có người đang tính chuyện "chung chi" trên lưng những người dân nghèo.

Một khi hai "nhà" ôm hôn thắm thiết trước khi ngồi vào bàn thảo luận, ai dám chắc họ không thông đồng với nhau để bớt xén nguồn thu lớn của ngân sách nhà nước với các khoản thuế đã được ưu ái xem xét.

Ở các nước, các nhóm lợi ích có quyền thông qua các hiệp hội ngành nghề, tập đoàn, doanh nghiệp để tác động với các chính sách, quyết sách cụ thể nhưng phải trong khuôn khổ của luật pháp, thể chế, có hành lang pháp lý để sự tác động vào chính sách được minh bạch, không bị lạm dụng. Các thành viên Chính phủ, đặc biệt là các vị dân biểu luôn tiếp cận, lắng nghe các kênh thông tin đa chiều, tỉnh táo, phân tích đánh giá quyền lợi chung của đất nước và tiếng nói của người dân trong quá trình xây dựng các văn bản pháp quy cũng như khi ban hành văn bản pháp luật để đạt được sự đồng thuận cao trong xã hội.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN trong tố tụng trọng tài thương mại

THS. PHẠM TUẤN ANH – Chánh Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân TP Hà Nội

Trong nền kinh tế thị trường, các tranh chấp về kinh doanh đang diễn ra với chiều hướng gia tăng, nội dung tranh chấp phức tạp, mức độ tranh chấp gay gắt đòi hỏi phải được giải quyết kịp thời, nhằm bảo vệ quyền lợi cho các đương sự; đồng thời đây cũng là trách nhiệm của cơ quan nhà nước, các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại. Hiện nay ở VN có hai cơ quan tài phán để giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại đó là: hệ thống Tòa án nhân dân và hệ thống Trọng tài thương mại.

Toà án, Trọng tài thương mại là các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bổ sung lẫn nhau. Thực tế hoạt động của các Trung tâm Trọng tài thương mại cần có sự phối hợp của Toà án. Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003 là văn bản pháp luật đầu tiên ghi nhận vai trò của Toà án đối với các hoạt động của các Trung tâm trọng tài thương mại về bốn vấn đề sau:

– Chỉ định Trọng tài viên;

– Thay đổi Trọng tài viên;

– Áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời;

– Huỷ phán quyết trọng tài.

Tuy nhiên, Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 đã có những hạn chế nhất định. Chính vì vậy, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (Luật TTTM) đã ra đời để khắc phục những mặt hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 nhằm đảm bảo cơ sở pháp lý cho sự hoạt động của Toà án trong việc hỗ trợ các Trung tâm Trọng tài thương mại.

Theo Luật TTTM thì vai trò hỗ trợ của Toà án đối với Trọng tài thương mại được xác lập toàn diện và đây đủ hơn, thể hiện ở những vấn đề sau:

Continue reading

VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

THS. PHẠM TUẤN ANH – Chánh Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân TP Hà Nội

Trong nền kinh tế thị trường, các tranh chấp về kinh doanh đang diễn ra với chiều hướng gia tăng, nội dung tranh chấp phức tạp, mức độ tranh chấp gay gắt đòi hỏi phải được giải quyết kịp thời, nhằm bảo vệ quyền lợi cho các đương sự; đồng thời đây cũng là trách nhiệm của cơ quan nhà nước, các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại. Hiện nay ở VN có hai cơ quan tài phán để giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại đó là: hệ thống Tòa án nhân dân và hệ thống Trọng tài thương mại.

Toà án, Trọng tài thương mại là các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bổ sung lẫn nhau. Thực tế hoạt động của các Trung tâm Trọng tài thương mại cần có sự phối hợp của Toà án. Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003 là văn bản pháp luật đầu tiên ghi nhận vai trò của Toà án đối với các hoạt động của các Trung tâm trọng tài thương mại về bốn vấn đề sau:

– Chỉ định Trọng tài viên;

– Thay đổi Trọng tài viên;

– Áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời;

– Huỷ phán quyết trọng tài.

Tuy nhiên, Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 đã có những hạn chế nhất định. Chính vì vậy, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (Luật TTTM) đã ra đời để khắc phục những mặt hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 nhằm đảm bảo cơ sở pháp lý cho sự hoạt động của Toà án trong việc hỗ trợ các Trung tâm Trọng tài thương mại.

Theo Luật TTTM thì vai trò hỗ trợ của Toà án đối với Trọng tài thương mại được xác lập toàn diện và đây đủ hơn, thể hiện ở những vấn đề sau:

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 102/2010/NĐ-CP VỀ HƯỚNG DẪN CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP: TỐT VÀ CHƯA TỐT

NGUYÊN TẤN

So với quy định hiện hành, Nghị định 102/2010/NĐ-CP (gọi tắt là “Nghị định 102”) hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp vừa được Chính phủ ban hành có khá nhiều điểm mới. Có điểm mới tốt, tuy nhiên cũng có những điểm mới gây băn khoăn.

Những điểm mới ấn tượng

“Làn gió mới” đầu tiên mà Nghị định 102 mang đến là quy định về việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ. Theo đó, tổ chức, cá nhân được quyền sử dụng các tài sản liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn. Chính phủ cũng quy định luôn là Bộ Tài chính có trách nhiệm ban hành văn bản hướng dẫn về việc này (điều 5).

Lâu nay, thương hiệu – phần nào đó có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (nhãn hiệu, tên thương mại…) có được góp vốn vào doanh nghiệp hay không vẫn là vấn đề chưa rõ ràng về phương diện pháp lý. Có những văn bản, ví dụ như các quy định về xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa thừa nhận giá trị thương hiệu là một trong những loại tài sản được đưa vào giá trị doanh nghiệp.

Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế (cụ thể là tại công văn của Tổng cục Thuế giải thích Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04-Tài sản cố định vô hình ban hành kèm theo Quyết định 149/2001/QĐ-BTC của Bộ Tài chính), thương hiệu không được ghi nhận là tài sản và do đó không được góp vốn bằng thương hiệu.

Vì lý do này, khi xác định giá trị Bệnh viện Bình Dân để cổ phần hóa cách đây ba năm các chuyên gia đã phải loại bỏ giá trị thương hiệu “Bình Dân” để chọn một phương án khác có giá trị thấp hơn. Dù không liên quan lắm đến vấn đề định giá doanh nghiệp cổ phần hóa nhưng dù sao với quy định trên, doanh nghiệp sẽ an tâm hơn khi đưa vốn vào kinh doanh bằng quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có nhãn hiệu, tên thương mại…

Continue reading

LỊCH SỬ RA ĐỜI PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CỦA EC

CỔNG THÔNG TIN PHÁP LUẬT BỘ CÔNG THƯƠNG – Hiệp ước Rôme và các quy định cạnh tranh trong đó Hiệp ước có hiệu lực từ năm 1958. Các quy định này được thực thi cho đến khi có Quy chế số 17 được ban hành 4 năm sau đó, tức là 7 thập kỷ sau khi Hoa Kỳ có luật cạnh tranh. Luật của EC có sự liên hệ với Luật của Hoa Kỳ trong mối so sánh hệ thống giữa hai bờ Đại Tây Dương về các ý tưởng, bài học có thể được rút ra từ kinh nghiệm của Hoa Kỳ.

Ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong lĩnh vực luật cạnh tranh được nhìn nhận khá cụ thể. Ngày 1/1/1958, Hiệp ước Rôme đồng thời với một hệ thống luật cạnh tranh mới của Đức cùng có hiệu lực. Các quan chức Hoa Kỳ chiếm đóng Tây Đức cho rằng việc nền công nghiệp nước Đức trước chiến tranh bị tập trung hóa và cartel hóa nặng nề đã giúp, hậu thuẫn cho Hitler nổi lên nắm quyền lực, gây ra chiến tranh thế giới; luật cạnh tranh theo kiểu Mỹ sẽ giúp nền dân chủ của nước Đức hậu chiến. Tuy Đạo luật chống cartel hóa đã lần đầu tiên được đưa ra vào năm 1947, nhưng do áp lực từ trong nước và của phíaHoa Kỳ yêu cầu phải có một hệ thống luật mới hoàn toàn, Bộ trưởng kinh tế thời Thủ tướng Adenauer, ông Ludwig Erhard, đã gây áp lực mạnh mẽ cho việc ban hành luật mới năm 1958.

Luật Cạnh tranh mới của Đức đã nhanh chóng có được một vai trò quan trọng trong hệ thống pháp lý và kinh tế của nước Đức. Tổ chức chịu trách nhiệm chính trong việc thực thi luật là Cục Cartel liên bang. Kinh nghiệm và ảnh hưởng của Đức có tác động quan trọng đến luật cạnh tranh của EC bắt đầu phát triển từ giữa những năm 1960 trở đi. Do luật chống độc quyền củaHoa Kỳ ảnh hưởng đến hệ thống luật của Đức, hệ thống luật của Đức lại ảnh hưởng đến luật của EC. Nên theo nguyên lý bắc cầu thì luật của EC liên quan chủ yếu đến luật của Hoa Kỳ.

Trên thực tế, Luật cạnh tranh EC đã được xây dựng bởi người châu Âu, trong đó chủ yếu là người Đức, với những ý tưởng của người Mỹ. Tuy nhiên, đã thành xu hướng là người ta thường thảo luận luật của EC thông qua lăng kính những phát triển của luật Mỹ. Trong một quyển sách xuất bản năm 1998, Daniel Gerber, một luật sư về luật so sánh, luận lập rằng Châu Âu có một truyền thống giàu có về những tư tưởng mà hiện nay được gọi là luật cạnh tranh. Chính điều này đã tạo cho pháp luật cạnh tranh trong nước của các nước Châu Âu cũng như luật cạnh tranh của EC một đặc trưng của riêng nó.

Continue reading

VẤN ĐỀ ỦY QUYỀN DỰ HỌP ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG TRONG PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP

TRANG THÔNG TIN PHÁP LUẬT BỘ CÔNG THƯƠNG – Khi Đại hội đồng cổ đông họp thông thường, không phải mọi cổ đông đều có thể tham gia. Tuy nhiên pháp luật công ty nước nào cũng quy định về việc để phiên họp Đại hội đồng cổ đông có giá trị thì phải có đủ một tỉ lệ cổ đông nắm giữ một lượng cổ phần nhất định tham gia biểu quyết. Vậy làm sao để có đủ số lượng cổ đông cũng như cổ phần nhất định trong cuộc họp khi mà các cổ đông có thể đang ở khắp nơi trên thế giới? Và chính vì điều này mà vấn đề ủy quyền trong các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được bàn đến khá nhiều trong pháp luật về công ty.

1. Ủy quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông theo pháp luật Việt Nam:

Trong pháp luật Việt Nam, vấn đề pháp lý này được quy định trong Luật doanh nghiệp và Nghị định 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điêu Luật doanh nghiệp hiện đang được sửa đổi. Theo đó, Luật doanh nghiệp tại Điều 79, khoản 1 điểm a quy định Cổ đông có quyền "Thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện được ủy quyền". Dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 139/2007/NĐ-CP tại Điều 27 khoản 1 điểm c quy định cổ đông có thể tham dự Đại hội đồng cổ đông bằng cách ủy quyền cho người khác dự họp Đại hội đồng cổ đông và "nếu điều lệ công ty không quy định khác hoặc cổ đông có liên quan không có ý kiến khác bằng văn bản, các thành viên độc lập của Hội đồng quản trị đương nhiên là người đại diện theo ủy quyền của tất cả các cổ đông không tham dự họp Đại hội đồng cổ đông"

Quy định nói trên nhằm giải quyết một vấn đề thực tiễn liên quan chủ yếu đến các công ty cổ phần niêm yết. Theo Luật doanh nghiệp tại Điều 102, khoản 1 thì cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 65% số cổ phần có quyền biểu quyết. Tuy vậy, trong thực tế cho thấy một bộ phận không nhỏ cổ đông, nhất là cổ đông là cá nhân của các công ty niêm yết thường ít quan tâm và không tham dự họp Đại hội đồng cổ đông, vì vậy, việc triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông lần đầu thường không đủ số cổ đông tham dự theo quy định và vì vậy không thế họp được.

Continue reading

TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI: ĐÒI BỒI THƯỜNG BA CÂY LÊ KI MA

KIỀU NGÂN

Bên thì nói ba cây lêkima do mình trồng trên hẻm chung, bên lại bảo cây có nguồn gốc tự nhiên, tự ý chặt cũng chẳng sao… Qua nhiều buổi tòa tổ chức hòa giải, hai bên vẫn không thỏa thuận được mức giá bồi thường cụ thể.

TAND quận Thủ Đức (TP.HCM) vừa thụ lý một vụ kiện khá lạ: Bà U. kiện đòi bà L. phải bồi thường 15 triệu đồng vì đã tự ý chặt ba cây lêkima (còn gọi cây trứng gà), gây thiệt hại về thu nhập của bà…

Xây nhà, chặt cây

Theo bà U., trước năm 1975, bà đã tự tay trồng ba cây lêkima trên con hẻm chung trong xóm. Bà thường xuyên chăm sóc, tưới nước cho cây, tạo bóng mát cho mọi người ra vào hẻm. Bù lại, từ xưa đến giờ bà cũng là người duy nhất hái trái cây lêkima đem bán để có thêm thu nhập.

Đầu tháng 3-2010, bà L. ở phía đối diện xây nhà. Không hiểu tại sao bà L. đã chặt ba cây lêkima trên mà không hỏi ý kiến của bà. Việc làm này của bà L. đã làm bà bị thiệt hại về thu nhập. Cụ thể theo bà U., gia đình bà thu hoạch trái lêkima một năm bốn lần, bán được từ 500.000 đến 600.000 đồng. Tính ra, giá trị cây bị chặt và thiệt hại về việc bán trái cây là gần 15 triệu đồng.

Trước yêu cầu đòi bồi thường toàn bộ số tiền trên của bà U., bà L. phản bác: Ba cây lêkima trên mọc tự nhiên chứ không phải do bà U. trồng. Rễ của một cây ăn sâu vào trong phần móng của nhà bà. Bà đã thỉnh thị ý kiến của UBND phường và được nơi đây chấp nhận cho bứng cây để hạn chế khả năng gây nguy hiểm trong mùa mưa bão. Nghe vậy, bà mới đi chặt cây. Bà L. chỉ chấp nhận bồi hoàn 1 triệu đồng vì lẽ ra chỉ chặt cái cây có rễ đâm vào móng nhà mình thì lại đi chặt hết cả ba cây.

Tòa nhờ cơ quan chuyên môn

Không đồng ý, ngày 16-4, bà U. đã viết đơn kiện bà L. ra TAND quận Thủ Đức và được tòa thụ lý.

Continue reading

MẠN ĐÀM: VĂN HÓA ĐÌNH LÀNG VIỆT NAM – BIÊN GIỚI GIỮA LỆ LÀNG VÀ PHÁP LUẬT QUA LŨY TRE LÀNG

THS. CAO VIỆT THĂNG – Viện Nhà nước và Pháp luật

Từ lâu trong truyền thống văn hóa người Việt, ngôi đình và ngôi chùa đã luôn gắn liền với nếp sinh hoạt văn hóa của họ. Khác hẳn không khí sinh hoạt an nhàn nơi cửa chùa (trẻ vui nhà, già vui chùa) – nơi con người cầu mong sự che chở sự từ bi nơi cửa phật. Ngược lại, ngôi đình làng vừa thể hiện được sự uy nghiêm của chốn tâm linh nhưng cũng là nơi diễn ra rất nhiều hoạt động của đời sống thường nhật của cộng đồng thôn, làng. Cụ thể, đây vừa là nơi hay diễn ra các lễ hội truyền thống, vừa là nơi tổ chức các sinh hoạt văn hóa cộng đồng… Nhưng có lẽ điều đặc biệt nhất chính là các hoạt động vừa mang tính tâm linh, vừa mang màu sắc chính trị được diễn ra trên chiếc chiếu đình.

1. Yếu tố tâm linh, cách bài trí và vai trò của đình làng

Khi tìm hiểu về ngôi đình làng, một số vấn đề nhất thiết phải quan tâm như: sự hiện diện của các yếu tố tâm linh của các ngôi đình làng, vị trí đặt ngôi đình làng, kiến trúc và bày biện nội thất của các ngôi đình làng, tiếp đến là cách thức tổ chức sinh hoạt của ngôi đình làng và thành phần tham gia cũng như mục đích tham gia sinh hoạt của những thành viên tại đây…

Trước tiên, nói về những yếu tố tâm linh trong ngôi đình làng, bất cứ ngôi đình nào cũng đều thờ thành hoàng của làng. Đây là yếu tố bắt buộc, thành hoàng của mỗi làng có thể là khác nhau nhưng tựu chung đều là những người được cho là có công lao to lớn đối với làng và được sự ghi nhận của dân làng và qua nhiều đời được tôn là thành hoàng của làng. Thành hoàng là người gánh vác trách nhiệm tâm linh bảo vệ dân làng. Ngoài thành hoàng làng, tùy theo mỗi ngôi đình làng còn có thể thờ thêm các vị thần, thánh khác do mỗi làng tôn thờ nhằm mục đích: tri ân các vị thánh, hoặc việc thờ cúng các vị thần này theo sắc phong của Nhà vua. Nhà vua sắc phong công lao cho vị thánh và giao nhiệm vụ cho vị thánh đó giám hộ, bảo vệ thôn, làng ngược lại thôn, làng có bổn phận thờ cúng vị thánh của làng mình, qua đó cũng thể hiện tri ân công đức vị thánh và cũng là tri ân nhà vua.[1]

Continue reading

HÌNH THỨC VĂN BẢN, VĂN BẢN CÓ CHỨNG THỰC LÀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG

TS. DƯƠNG ANH SƠN – Khoa Luật, Đại học Kinh tế – Luật, ĐH Quốc gia TPHCM

THS. LÊ MINH HÙNG – Đại học Luật TPHCM

Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005), sau hơn 4 năm có hiệu lực đã bộc lộ khá nhiều bất cập, đặc biệt là các quy định liên quan đến chế định quyền sở hữu và hợp đồng. Đối với chế định hợp đồng, một trong những vấn đề được giới nghiên cứu cũng như giới thực tiễn quan tâm là hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.

1. Vai trò, ý nghĩa của hình thức hợp đồng

Về vai trò, ý nghĩa của hình thức hợp đồng, cụ thể ở đây là hình thức văn bản, văn bản có chứng thực, có nhiều ý kiến khác nhau. Có quan điểm cho rằng, hình thức hợp đồng có hai chức năng: (i) là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và (ii) là bằng chứng giao kết hợp đồng1. Ý kiến khác lại cho rằng, “lý do hạn chế về hình thức hợp đồng rất khác nhau, tùy quan điểm của mỗi quốc gia. Nhưng tựu trung lại có ba lý do chủ yếu sau đây: để bảo toàn chứng cứ; để khẳng định “tính nghiêm túc, tính chắc chắn” của sự thể hiện ý chí các bên, và để bảo vệ trật tự pháp luật, trật tự công cộng”2. Theo Vũ Văn Mẫu, vai trò của hình thức hợp đồng có thể tóm tắt trong bốn điểm: (i) các hình thức trọng thể được ấn định cho một số hành vi quan trọng, cốt để các đương sự chú trọng đặc biệt việc mình sắp làm; (ii) các hình thức chứng cứ để dẫn chứng trước pháp luật (luật tố tụng trong trường hợp này chỉ chấp nhận hai cách dẫn chứng: “chứng thư hợp đồng” và “sự thú nhận của đương sự”); (iii) các hình thức cấp-tư-năng nhằm đảm bảo quyền định đoạt của những người chưa hoàn toàn có tư cách chủ thể độc lập để tự mình xác lập các giao dịch dân sự (ví dụ người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi khi xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của mình); (iv) các hình thức công bố trong trường hợp có liên quan đến người thứ ba3. Một số tác giả khác, ngoài các vai trò và ý nghĩa nói trên còn đề cập đến một số vai trò khác nữa của hình thức hợp đồng4.

Từ những quan điểm nói trên, chúng tôi cho rằng, hình thức của hợp đồng, cụ thể là hình thức văn bản và văn bản có chứng thực của hợp đồng đảm nhận ba vai trò cơ bản sau đây: i) là bằng chứng tồn tại của hợp đồng; ii) là điều kiện để hợp đồng có hiệu lực và; iii) có giá trị đối kháng với người thứ ba. Tuy nhiên, việc coi trọng chức năng nào trong ba chức năng trên nên tuỳ thuộc vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.

Continue reading

LỆCH CHUẨN NHẬN THỨC HAY BỊ LẦM LẠC BỞI NHỮNG TẤM GƯƠNG MỜ?

PHẠM VIẾT ĐÀO

NLĐ -  Ngày 10-8, Công ty NhanViet Management Group công bố kết quả khảo sát sinh viên với nghề nghiệp. Chương trình khảo sát được thực hiện từ tháng 4 đến nay với sự tham gia của 941 sinh viên hiện đang theo học tại hơn 20 trường đại học, cao đẳng ở TPHCM. Kết quả khảo sát cho thấy có khoảng 97,9% sinh viên mong muốn trở thành lãnh đạo trong tương lai. Cụ thể, hơn 50% cho biết sẽ cố gắng phấn đấu tới vị trí quản lý cấp trung trong 3 năm tới trong khi chỉ có khoảng 8,4% nghĩ tới vị trí giám đốc. Để thực hiện ước mơ, 71,2% sinh viên đã tự hoạch định lộ trình cũng như kế hoạch hành động ngay khi còn trên ghế giảng đường, trong khi 15,3% thì dự định sẽ thực hiện ngay sau khi tốt nghiệp. Đáng chú ý là có tới gần 70% sinh viên tham gia khảo sát cho biết mong muốn được làm việc tại các tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp nước ngoài. 5,7% sinh viên mong muốn làm việc cho doanh nghiệp Nhà nước. H.Nga

Con số “ 97,9 % sinh viên mong muốn trở thành lãnh đạo trong tương lai” cho thấy các kết quả tốt đẹp của công tác tuyền truyền, giáo dục, các thao tác quản lý đối với tầng lớp được coi là trí thức nhất là sinh viên hình như chỉ đạt chưa tới 3 %. – Kết quả điều tra xã hội học ngày 10-8 của Công ty NhanViet Management Group công bố kết quả khảo sát sinh viên với nghề nghiệp có gợi ý gì cho hệ thống giáo dục-đào tạo nước ta?

Hiện nay, tại nhiều quốc gia việc điều tra xã hội học là một trong những thao tác bắt buộc, cần thiết và hữu ích đối với công tác quản lý, các cơ quan quản lý và các nhà quản lý…Rất nhiều quốc gia đã tổ chức thành lập ra nhiều Viện điều tra xã hội học độc lập, tức là không nhận kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước. Sở dĩ phải có thiết chế này để giúp cho các cơ quan hoạch đinh chính sách nhà nước thật sự có được những thông tin độc lập, khách quan tránh ngụy tạo loại thông tin “ đẽo chân cho vừa dày”…

Tất nhiên các kết quả điều tra xã hội học này có được từ các nguồn kinh phí tài trợ, bảo trợ này, nếu cơ quan nào sử dụng tới nó phải thanh toán bản quyền và thường là rất cao; người ta coi đó là một thứ sản phẩm như các loại sản phẩm của kinh tế tri thức.

Continue reading

BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI TÀI NGUYÊN, KHOÁNG SẢN

NHÓM THỰC HIỆN: PGS. TS. PHẠM DUY NGHĨA, PGS.TS. ĐẶNG VĂN THANH, LS. TRẦN HỮU HUỲNH, LS. NGUYỄN TIẾN LẬP

Chúng ta vẫn tiếp tục khẳng định nguyên lý rất chung rằng “khoáng sản thuộc sở hữu toàn dân” trong khi quá trình tư nhân hoá đối với các mỏ khoáng sản đang diễn ra trên thực tế mà không có bất cứ cơ chế pháp lý thích hợp nào được tạo ra để điều chỉnh, đã xác nhận rằng hệ thống pháp luật về sở hữu của chúng ta chưa có bước tiến nào trong lĩnh vực này kể từ sau Nghị quyết 48 năm 2005.

Có ba vấn đề cơ bản “nổi cộm” đáng lưu ý đã được công luận nêu ra nhưng đều được hợp thức bằng các quy định của pháp luật hiện hành. Đó là: (i) cơ chế “xin – cho” trong việc cấp phép thăm dò và khai thác khoảng sản, (ii) việc phân cấp quá rộng rãi trong việc kiểm soát thăm dò, khai thác khoảng sản cho chính quyền địa phương, và (iii) áp dụng sự can thiệp và kiểm soát của Nhà nước một cách quá chi tiết và phi kinh tế vào các quyền khai thác khoáng sản của các chủ đầu tư.

Từng vấn đề được bình luận và đưa ra giải pháp nhằm bảo vệ quyền sở hữu “toàn dân” đối với loại của cải đặc biệt này (trong khi quyền sở hữu nó chưa đổi thành sở hữu quốc gia hay sở hữu địa phương như đề xuất).

Cần có sự phân định rất rành mạch giữa hai loại quyền lực của Nhà nước là quyền lực hành chính và quyền lực của chủ sở hữu đối với khoáng sản. Trong ảnh: Mặt bằng của nhà máy alumin Nhân Cơ, tháng 9.2010. Ảnh minh hoạ. Ảnh: TL SGTT

Theo đó, về mặt lý thuyết, cần có sự phân định rất rành mạch giữa hai loại quyền lực của Nhà nước là (i) quyền lực hành chính (trong đó, các cơ quan chức năng của nhà nước quản lý các khía cạnh khác nhau liên quan đến việc thăm dò, khai thác khoáng sản, bao gồm cả các tác động về xã hội và môi trường), và (ii) quyền lực của chủ sở hữu đối với khoáng sản (trong đó, các cơ quan chính quyền là một đối tác để thương thảo một cách bình đẳng trong việc mua, bán các mỏ với các chủ đầu tư).

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1862/QLLĐNN-QLLĐ NGÀY 04 THÁNG 10 NĂM 2010 CỦA CỤC QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NGOÀI NƯỚC, BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ CHẾ ĐỘ BỒI THƯỜNG TAI NẠN LAO ĐỘNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC TẠI MALAYSIA

Kính gửi:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Liên quan đến chế độ bảo hiểm tai nạn lao động đối với lao động Việt Nam đi làm việc tại Malaysia, thời gian qua Cục Quản lý lao động ngoài nước và Ban Quản lý lao động và chuyên gia Việt Nam tại Malaysia nhận được đơn thư của một số công dân và doanh nghiệp XKLĐ hỏi về chế độ bồi thường bảo hiểm cho người lao động bị tai nạn tại Malaysia. Căn cứ theo quy định của phía Malaysia, Cục và Ban đã trả lời và hướng dẫn cụ thể với mỗi trường hợp.

Theo báo cáo số 73/BQLLĐ ngày 23/7/2010 của Ban Quản lý lao động và chuyên gia Việt Nam tại Malaysia thì chính sách, chế độ, thủ tục, hồ sơ đối với việc bồi thường bảo hiểm cho người lao động nước ngoài bị tai nạn lao động tại Malaysia vẫn như trước đây, được điều chỉnh bởi Luật bồi thường tai nạn cho người lao động năm 1952 (tới nay, Luật đã qua một số lần sửa đổi, điều chỉnh, bổ sung, nhưng về cơ bản nội dung vẫn theo Luật năm 1952). Cục Quản lý lao động ngoài nước trích những nội dung chính trong Luật để quý Sở biết như sau:

1. Đối tượng, phạm vi Luật áp dụng:

Luật áp dụng đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Malaysia có tiền lương không thấp hơn 500 RM/tháng hoặc lao động giản đơn (bất kể với mức tiền lương nào). Luật này không áp dụng đối với lao động giúp việc gia đình nước ngoài tại Malaysia.

2. Bồi thường bảo hiểm trong các trường hợp tai nạn sau đây:

2.1. Tai nạn xảy ra trong thời gian làm việc:

* Trong thời gian làm việc tại Công ty, người lao động gặp tai nạn:

– Khi người lao động đang làm việc tại nơi làm việc theo quy định của Công ty;

– Khi người lao động đang tiến hành một vụ cấp cứu thực sự hoặc giả định tại nơi làm việc để giải nguy, bảo vệ những người được cho là có thể bị thương hoặc gặp nguy hiểm hoặc để làm giảm thiểu tổn thất tài sản;

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 104/2010/NĐ-CP NGÀY 11 THÁNG 10 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ TỔ CHỨC, QUẢN LÝ VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN DO NHÀ NƯỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU TRỰC TIẾP PHỤC VỤ QUỐC PHÒNG, AN NINH

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về việc thành lập mới, tổ chức, quản lý và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh theo quy định tại Điều 3 Nghị định này; các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thành lập mới, tổ chức, quản lý, hoạt động và kiểm tra, giám sát đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh.

Điều 3. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh

1. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh (sau đây gọi là doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh) là công ty do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, được đầu tư thành lập hoặc tổ chức lại dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoạt động theo Luật Doanh nghiệp để trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ mang tính ổn định, thường xuyên trong những lĩnh vực, địa bàn trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh liên quan đến bảo đảm bí mật quốc gia, nâng cao năng lực quốc phòng, an ninh.

2. Tiêu chí xác định doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh:

a) Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thành lập hoặc tổ chức lại theo quy định của pháp luật, do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, hoạt động dưới loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;

Continue reading

CÓ HAY KHÔNG SỰ ĐỘC LẬP XÉT XỬ TRONG WTO?

image THÔNG TIN PHÁP LUẬT BỘ CÔNG THƯƠNG –  Câu trả lời đơn giản cho câu hỏi này là hệ thống xét xử của WTO thiếu sự độc lập vì cơ quan chính của nó, DSB (Dispute Settlement Body – Cơ quan Giải quyết Tranh chấp của WTO), là một thiết chế chính trị gồm đại diện tất cả các Thành viên, và như thế là khó có sự độc lập với các chính phủ. Song câu trả lời này không thỏa đáng. Thứ nhất cần đánh giá liệu các Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm có độc lập hay không. Nói cách khác, các Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm có thể hoạt động độc lập tới mức nào với: (1) Đại hội đồng WTO, (2) các thành viên WTO, và (3) Tổng Giám đốc và Ban Thư ký WTO?

Việc rà soát các quy tắc DSU thể hiện rằng những người soạn thảo đã cố gắng bảo đảm quá trình xét xử của các Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm không bị ảnh hưởng bởi sự can thiệp của các chính phủ. DSU chỉ rõ “sự độc lập của các thành viên” như một tiêu chuẩn cho việc lựa chọn thành viên Ban hội thẩm. Trong khi đó, một số hiệp định WTO yêu cầu các chính phủ đảm bảo việc độc lập rà soát xét xử trong các vụ kiện hành chính. Vì vậy, tầm quan trọng có tính chất quy phạm của sự độc lập xét xử đã được công nhận bởi các thành viên soạn thảo hiệp định WTO.

Như các quy tắc DSU đã quy định, Ban hội thẩm được chọn từ một bảng phân công được các chính phủ Thành viên đồng ý. Trong mỗi vụ kiện, các thành viên Ban hội thẩm được Ban Thư ký đề cử tùy thuộc vào thỏa thuận của các bên tranh chấp. Tuy nhiên, nếu không thể đạt được một thỏa thuận, Tổng Giám đốc sẽ chỉ định Ban hội thẩm và có thể thêm những cái tên khác. Không một thành viên nào của Ban hội thẩm có thể là công dân của các bên tranh chấp, trừ khi các bên đều đồng ý.

DSB chọn Cơ quan Phúc thẩm bảy người. Các thành viên của nó có nhiệm kỳ 4 năm và có khả năng tái bổ nhiệm. Họ không được làm việc trong bất kỳ chính phủ nào. Đến nay, chưa có phụ nữ nào được bổ nhiệm vào cơ quan này. Trong bất kỳ vụ kiện cụ thể nào, một trong ba thành viên được chọn qua một hệ thống luân phiên. Các chính phủ trong một tranh chấp không có vai trò chọn người xét xử kháng cáo.

Continue reading