GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO KINH DOANH TRÊN SÀN VÀNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

TS. TRẦM THỊ XUÂN HƯƠNG

1. Mở đầu

Vàng là tài sản quý giá, rất quen thuộc đối với mọi người. Thời xa xưa vàng được sử dụng như tiền tệ trung gian trao đổi và cất trữ. Ngày nay với sự tiến bộ của công nghệ thông tin vàng đã trở thành phương tiện đầu tư hấp dẫn, mang lại lợi nhuận dáng kể cho nhà đầu tư. Trong xu thế cạnh tranh hiện nay, dưới tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu thị trường chứng khoán sút giảm, thị trường bất động sản đóng băng… các nhà đầu tư nhanh chóng lựa chọn cho mình một kênh đầu tư hấp dẫn đó là kinh doanh trên sàn vàng. Giá vàng biến động càng mạnh thì sức hút của thị trường vàng càng mãnh liệt hơn bất kỳ kênh đầu tư nào khác.

Với phương pháp khảo sát thực tế, so sánh đối chiếu được sử dụng trong bài báo này nhằm mục đích cảnh báo cho các nhà đầu tư rằng, kinh doanh trên sản vàng là một kênh đầu tư hấp dẫn nhưng đồng hành với lợi nhuận là rủi ro cao, nên việc dưa ra các giải pháp phòng chống rủi ro khi giá vàng biến động cho nhà dầu tư là điều cần thiết.

2. Lợi ích kinh doanh trên sàn vàng

§ Đối với ngân hàng thương mại

– Giúp ngân hàng đa dạng hóa các nghiệp vụ kinh doanh. Hiện nay các NH tham gia trên thị trường vàng gồm kinh doanh vàng vật chất, kinh doanh trên tài khoản vàng, kinh doanh trên sàn vàng… với những sản phẩm chủ yếu như giao ngay (spot), kỳ hạn (Forward), hoán đổi (swap), quyền chọn (option)… kể cả kinh doanh trong và ngoài nước nhằm cân bằng trạng thái vàng theo quy định của NHNN là trạng thái vàng không được vượt quá cộng trừ 20% so với vốn tự có của NHTM.

– Góp phần gia tăng nguồn vốn và thu nhập cho NH nhờ các khoản phí và lãi vay thu được.

§ Đối với nhà đầu tư :

– Nhà đầu tư kinh doanh vượt khả năng vốn tự có, có thể đạt được mức sinh lời hấp dẫn. Nhà đầu tư tự quyết định giá để đặt lệnh mua bán vàng và sử dụng các công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro.

Continue reading

VẤN ĐỀ ĐẠI DIỆN VỐN NHÀ NƯỚC

LÊ VĂN TỨ

Chừng nào cơ chế quản lý này còn chưa minh bạch, tình trạng lộng quyền của đại diện vốn nhà nước còn có đất để tồn tại, tạo điều kiện khách quan cho tệ tham nhũng nảy nở và lây lan.

Những tin bài trên báo chí gần đây về “đại diện vốn nhà nước” cho thấy đây còn là một điểm lúng túng trong cơ chế Nhà nước quản lý kinh tế với tư cách chủ sở hữu.

Thời kinh tế tập trung bao cấp, kinh tế tư doanh bị xóa sổ, kinh tế quốc doanh chiếm vị trí độc tôn. Vì Nhà nước vừa là cơ quan quyền lực, vừa là chủ sở hữu kinh tế quốc doanh, nên quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh gắn chặt với nhau. Khi chuyển sang kinh tế thị trường, xuất hiện chủ trương tách quản lý nhà nước với quản lý kinh doanh các doanh nghiệp nhà nước.

Nếu các cơ quan quản lý ngành tiếp tục thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, thì cơ quan nào quản lý các doanh nghiệp nhà nước với tư cách chủ sở hữu? Thực tế cho thấy các tổng công ty, và sau này là cả các tập đoàn kinh tế, đều không đảm đương nổi chức năng này.

Tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, kỳ vọng được đặt vào Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC). Song, SCIC thực chất cũng chỉ là công ty nhà nước kinh doanh tài chính, cũng không thể đóng nổi vai trò chủ sở hữu khu vực doanh nghiệp nhà nước. Cho đến nay vấn đề cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước với tư cách chủ sở hữu vẫn chưa định hình, chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa minh định.

Thực ra, Nghị định 25/2009/NĐ-CP về chuyển các doanh nghiệp nhà nước thành công ty TNHH một thành viên đã đề cập tới vấn đề này khi quy định cá nhân (Thủ tướng Chính phủ, chủ tịch UBND cấp tỉnh) hoặc tổ chức (cơ quan quản lý ngành ở Trung ương và địa phương) làm chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên. Song quyền hạn, trách nhiệm chủ sở hữu lại chưa quy định. Vậy mà đã có nghịch lý: quản lý kinh doanh, việc của doanh nhân, nhưng lại giao cho chính khách cấp quốc gia và cấp tỉnh hoặc lại đưa trở về cơ quan quản lý nhà nước.

Continue reading

BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG GIAO KẾT HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ QUAN INTERNET

THS. TRẦN VĂN BIÊN – Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Hầu như tất cả (98%) các website chưa cung cấp đầy đủ các thông tin cơ bản về thương nhân như tên, địa chỉ, số điện thoại, email, giấy phép đăng ký kinh doanh.

46% các website không công bố bất cứ thông tin gì về các điều khoản giao dịch, chỉ có 8% công bố đầy đủ các điều khoản giao dịch.

Đa phần website vẫn chưa chú ý thích đáng tới việc xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp. Chỉ có 4% trong số những website được khảo sát công bố thông tin về quy trình giải quyết khi xảy ra tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng.

Tại kỳ họp thứ 7 vừa qua, Dự thảo 5 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã được đưa ra Quốc hội để thảo luận. Trong quá trình thảo luận, một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các đại biểu Quốc hội là vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao kết hợp đồng điện tử.

Có ý kiến cho rằng, Dự thảo Luật dường như chỉ quy định đối với các giao dịch truyền thống mà chưa tính đến các phương thức kinh doanh mới đang phát triển như giao dịch trên Internet hiện nay1. Sau khi kỳ họp thứ 7, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đã phối hợp với Ban soạn thảo và các cơ quan hữu quan tiến hành nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo Luật theo ý kiến góp ý của đại biểu. Tuy nhiên, theo dõi bản Dự thảo 5.4 đưa ra tại cuộc họp ngày 14/8/2010 do Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường chủ trì, có thể nhận thấy, vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao kết hợp đồng điện tử qua Internet vẫn chưa được quan tâm đúng mức.

1. Nhu cầu điều chỉnh pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao kết hợp đồng điện tử

Hợp đồng điện tử đặc trưng cho các giao dịch được thiết lập từ xa. Trong mối quan hệ này, người tiêu dùng luôn ở thế yếu so với nhà cung cấp dịch vụ, hàng hóa. Thế yếu này bắt nguồn từ chính phương thức giao kết hợp đồng: phải sử dụng biện pháp liên lạc từ xa (qua website, e-mail hay chat room…). Người tiêu dùng có thể thiếu thông tin về tình hình thực tế hay pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng. Đặc điểm này là nguyên nhân gây ra bất bình đẳng giữa các bên. Dễ nhận thấy rằng, khi mua một mặt hàng bất kỳ (ví dụ như quần áo) thông qua một website, người tiêu dùng không có dịp kiểm tra màu sắc, kích cỡ hay chất liệu quần áo như khi mua ở một cửa hàng thời trang. Vì vậy, có thể sẽ có rủi ro khi giao kết hợp đồng, sự đồng ý của người tiêu dùng sẽ không rõ ràng như khi ký kết hợp đồng với sự hiện diện của các bên. Ở cấp độ thấp hơn, việc mua hàng thiếu cân nhắc cũng rất đáng ngại, khi đó người tiêu dùng sẽ không suy nghĩ chín chắn trước khi ký kết hợp đồng như trong giao dịch truyền thống. Khi các hợp đồng điện tử đa phần dưới dạng là hợp đồng mẫu, thì vị thế của người tiêu dùng từ xa lại càng yếu thế vì họ không có quyền thỏa thuận, thương lượng.

Continue reading