SUY NGẪM 49

Việt Nam đang ở những “bước nhảy”  quan trọng để hoàn thành chỉ tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp năm 2020. Những dự án đầu tư vào công nghiệp, dịch vụ, cơ sở hạ tầng với số vốn hàng chục ngìn tỷ đồng cho tới hàng trăm nghìn tỷ đồng đã và đang được các chủ đầu tư, các cấp quản lý có thẩm quyền nhiệt tình xây dựng, đề xuất và tranh luận với những quan điểm, luận cứ trái ngược nhau.

Một điều có thể dễ nhận thấy, các dự án đô thị, chung cư cao cấp, khu công nghiệp, dịch vụ … dễ dàng được thông qua, khẩn trương thực hiện và được xem như là thành tựu nổi bật của đổi mới. Trong khi đó, những chính sách phản ánh ưu việt của chế độ xã hội: miễn giảm học phí, miễn giảm viện phí, mở rộng cơ sở hạ tầng và chất lượng giáo dục, y tế với với vốn đầu tư chắc nhỏ hơn rất nhiều so với đường sắt cao tốc, sửa sang cơ sở hạ tầng cho kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội… thì lại nhận được sự “thờ ơ” đáng ngạc nhiên.

Rõ ràng, nghèo mà cho sạch đáng trân trọng hơn nhiều giàu mà tính nhân văn và sự bền vững của phát triển xã hội bị thử thách.

CIVILLAWINFOR

Số khác > > >

LỢI ÍCH CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHẾ ĐỊNH VẬT QUYỀN ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT TÀI SẢN

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Trường ĐạI học Kinh tế – Luật, ĐạI học Quốc gia TPHCM

1. Tổng quan

Khái niệm và đặc điểm. Vật quyền là một khái niệm của luật latinh, được dùng để chỉ quyền có thể được thực hiện trực tiếp và ngay tức khắc trên một vật[1]. Quan hệ vật quyền trên nguyên tắc hình thành từ hai yếu tố: chủ thể của quyền (con người) và đối tượng của quyền (vật). Quan hệ ấy vận hành mà không cần đến vai trò của một chủ thể khác, đặc biệt là không cần sự hợp tác hoặc trợ lực của chủ thể khác. Chính điều này tạo ra sự khác biệt cơ bản giữa vật quyền và trái quyền, cũng là một loại quyền tài sản được ghi nhận trong luật latinh: trái quyền được thiết lập giữa hai chủ thể và chỉ có thể được thực hiện suôn sẻ rên cơ sở họp tác tích cực giữa hai chủ thể đó.

Ngoài ra, vật quyền cũng được nhận biết nhờ hai điểm mà ở đó chủ thể của quyền có lợi thế rõ ràng so với chủ thể của trái quyền.

Thứ nhất, vật quyền cho phép chủ thể thực hiện quyền của mình đối với vật bất kể vật đang nằm trong tay người nào. Luật gọi đó là quyền theo đuổi. Trên nguyên tắc, tất cả những ai đang nắm giữ vật, dù với tư cách nào, đều phải tôn trọng các quyền năng của người có vật quyền, một cách không điều kiện: người có quyền sở hữu tài sản được quyền yêu cầu người nắm giữ tài sản phải giao tài sản cho mình và người sau này phải giao nếu không muốn bị coi là người chiếm giữ tài sản trái phép; chủ sở hữu tài sản thế chấp phải tôn trọng quyền kê biên tài sản của chủ nợ nhận thế chấp; chủ sở hữu bất động sản chịu địa dịch về lối đi qua phải tôn trọng quyền về lối đi qua của người hưởng địa dịch;…

Thứ hai, vật quyền cho phép người có quyền thực hiện quyền của mình đối với vật nhằm thoả mãn lợi ích theo đuổi trước những người khác, đặc biệt là những người theo đuổi cùng lợi ích đó. Luật gọi đó là quyền ưu tiên. Chủ nợ nhận thế chấp có quyền tiền thu được từ việc bán tài sản thế chấp để trừ nợ trước các chủ nợ thường.

Không chỉ được sử dụng cùng với trái quyền như các công cụ phân loại tài sản, vật quyền trước hết là một trong những chế định cơ sở của pháp luật tài sản, là chỗ dựa mà từ đó các chế định khác của pháp luật tài sản có thể được xây dựng và hoàn thiện. Chế định vật quyền cho phép xây dựng một hệ thống pháp luật tài sản có chất lượng; đến lượt mình, hệ thống ấy đặt cơ sở cho sự phát triển giao lưu dân sự lành mạnh và an toàn, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế và bình ổn trật tự xã hội.

Continue reading

LƯƠNG BỔNG

HOÀNG HỒNG MINH

Nó là giá trị lao động của mỗi con người, trong đó có tất cả các yếu tố xã hội đang nhắm tới

Nếu như chữ "lương" tồn tại đã từ rất lâu đời, thì khái niệm "tiền lương hoàn chỉnh" là câu chuyện chưa trở thành hiện thực ở xứ ta, giản đơn là như vậy. Cả một di sản ngàn năm về câu chuyện này. Không dễ giải quyết, nhưng đó chìa khóa để đi vào xã hội hiện đại.

Chữ "lương" xưa đơn giản là gạo mỳ khoai sắn.

Để sai tướng lính đi làm một công việc, một sứ mệnh nào đó, bề trên cấp cho một khoản đồ ăn để "ăn no đánh thắng". Còn lại thì phần thưởng là chuyện khác, chuyện "bổng lộc" về sau.
Mở rộng ra dân gian, để sai hay thuê làm một công việc nào đó, người sai hay người mướn cấp cho người thực hiện một khoản đồ ăn để "trả lương" công thợ.

Câu chuyện là ở chỗ này.

Trong xã hội cổ truyền, tất cả các hình thức sai bảo, thuê việc này đều chưa có thể chế hợp đồng, chưa có thị trường lao động, cùng một hệ thống pháp lý ở tầm mức toàn xã hội để đảm bảo sự ổn định, công bằng cho việc thuê mướn và trả tiền lương.

Để đảm bảo quyền lực tối cao của nhà nước xưa, một cơ chế khác được bảo hành để duy trì sự lệ thuộc mạnh mẽ của đội ngũ quan lại đối với triều đình. Đó là cơ chế bổng lộc.
Trong cơ chế trả lương, người nhận lương và người trả lương không nợ gì nhau nữa. Tiền trao, cháo múc. Cái này nhà vua, nhà chúa tất nhiên không mê gì. Trong cơ chế bổng lộc, cái ân nợ của người được nhận bổng lộc là hiển nhiên.Cái bổng lộc là do bề trên ban phát trực tiếp.Cái bổng lộc này là bao nhiêu, không có gì ràng buộc cả. Cái bổng lộc này là cho mượn, có thể bị đòi lại bất cứ lúc nào.Cái bổng lộc này, ngay cả đã tiêu hết rồi, vẫn là món nợ, có thể bị kể ra để hạch tội bất cứ lúc nào. Và một khi cái bổng lộc bị tước đi, bị đòi lại, thì cả lợi ích sống còn lẫn danh giá của người được hưởng đều tan bay trong phút chốc. Hơn thế nữa, thường là điềm họa đã đến. Trong bổng lộc, không có sự công bằng, sự bảo đảm, sự tôn trọng, sự vững bền, sự tự do.

Continue reading

BỐN VẤN ĐỀ CẤP BÁCH VỀ NÔNG THÔN

NGUYỄN HỮU NHỊ

Người ta đã tổng kết thế này: Mã số nông thôn bây giờ là: 001683. Nghĩa là không thanh niên, không trí thức, toàn trẻ em (1/6) và phụ nữ (8/3).

Nông nghiệp, nhất là sau Đổi mới đã có bước phát triển vượt bậc. Bằng chứng là Việt Nam trở thành cường quốc xuất khẩu thuỷ sản, gạo, cà phê, cao su, tiêu, điều…Là cường quốc xuất khẩu nông sản, thế mà lạ thay, người làm nông nghiệp chính là những người nghèo khổ nhất, chúng ta đang đối mặt thực trạng người nông dân ngày một chán ruộng vì thu nhập quá thấp, ở đâu cũng thấy thanh niên nông thôn ùn ùn kéo lên thành phố tìm kiếm việc làm thuê.

Người ta đã tổng kết thế này: Mã số nông thôn bây giờ là: 001683. Nghĩa là không thanh niên, không trí thức, toàn trẻ em (1/6) và phụ nữ (8/3). Một nông thôn nghèo nàn như thế làm sao hiện đại hoá nông nghiệp, làm sao công nghiệp hoá nông thôn. Theo tôi, có 4 vấn đề trầm trọng cơ bản trong phát triển nông nghiệp hiện nay cần cấp bách giải quyết.

Trước hết, là ruộng đất

Đất nông nghiệp đang quá manh mún. Theo nhiều nguồn tài liệu thì Việt Nam có đến 70 triệu thửa đất nông nghiệp trên chưa đến 4 triệu ha đất trồng lúa, điều đó nói lên sự manh mún ghê gớm cũng như minh chứng rất rõ một nền kinh tế tiểu nông. Đất ít, manh mún và càng manh mún hơn bởi đất canh tác ngày một bị loang lổ bởi sự xâm lấn của sân golf, khu công nghiệp… (mỗi năm bị mất khoảng trên 70.000ha).

Sự manh mún điển hình ở đồng bằng Bắc bộ, mỗi hộ có 4-5 sào đất, lại chia làm 5-7 mảnh, thậm chí mười, mười lăm mảnh phân khắp đồng xa đồng gần. Một nền nông nghiệp như thế sẽ rất nhọc sức nông dân, không hiệu quả, họ chán ruộng cũng dễ hiểu. Một ông chủ nhiệm HTX ở Chương Mỹ, Hà Nội tâm sự thế này: Nông dân xã tôi bây giờ đi làm qua loa chỉ để giữ lấy đất thôi.

HTX tổ chức làm mô hình sạ hàng, nhà nước cho giống, thuốc diệt cỏ, thuê cả công sạ, chủ ruộng chỉ việc gặt thôi mà chẳng mấy hộ hào hứng. Nông nghiệp bây giờ chỉ quanh quẩn 2 vụ lúa, cái mới không đưa vào được, nghĩ thật buồn tẻ. Thanh niên nông thôn chỉ thích đi làm cửu vạn, bốc vác ngày dăm bảy chục tiền ngay, chẳng anh nào chí thú mùa màng. Tôi nghĩ đó cũng là điều buồn tẻ chung của một nền nông nghiệp già nua vùng Bắc bộ cấp thiết phải có một thay đổi trong kiến thiết tổng thể.

Continue reading

“ÁN ĐỤNG TRẦN”: SỬA SAI BẰNG TÒA ÁN ĐẶ̣C BIỆT

ĐINH VĂN QUẾ

Hội đồng Thẩm phán hiện nay chưa đủ biên chế, về chất lượng thì chưa phải là “cơ quan thông tuệ pháp luật nhất đất nước”. Có lẽ đây mới là nguyên nhân chính dẫn đến một số quyết định của Hội đồng Thẩm phán chưa được xã hội “tâm phục, khẩu phục”!

Trước hết, cần phải nhìn nhận một cách biện chứng rằng quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao (HĐTP) có thể có sai lầm, thậm chí có sai lầm nghiêm trọng. Tuy nhiên, trong 50 năm qua (tính từ năm 1960 đến nay) chỉ có một vài quyết định giám đốc thẩm của HĐTP bị Ủy ban Thường vụ Quốc hội kết luận là có sai lầm nghiêm trọng. Tuy chỉ có một vài vụ nhưng đã để lại dư luận không tốt đối với HĐTP.

Nhiều lần Quốc hội đã đưa ra thảo luận vấn đề này để tìm giải pháp khắc phục nhưng vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau nên chưa thể gút. Lần này, nhân việc Quốc hội thảo luận về Luật Tố tụng hành chính, các luật gia lại có dịp góp ý. Về phần mình, tôi có một số ý kiến.

Tăng chất, tăng lượng cho HĐTP

Có ý kiến đề nghị lập lại Ủy ban Thẩm phán TAND Tối cao như trước đây. Tôi thấy nếu có lập lại ủy ban này cũng không giải quyết được gì. Chúng ta đã cố gắng lắm mới bỏ được một cấp giám đốc thẩm ở TAND Tối cao cũng là nhằm tránh tình trạng có nhiều cấp giám đốc thẩm. Cho đến nay, trong hệ thống TAND vẫn còn tới ba cấp giám đốc thẩm là ủy ban thẩm phán tòa án cấp tỉnh, các tòa chuyên trách TAND Tối cao và HĐTP.

Tuy nhiên, tôi cho rằng HĐTP hiện nay về số lượng thì chưa đủ biên chế mà Quốc hội đã phê chuẩn (17 thành viên). Về chất lượng, chưa phải là “cơ quan thông tuệ pháp luật nhất đất nước” như ý kiến của Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh Trần Đình Nhã. Có lẽ đây mới là nguyên nhân chính dẫn đến một số quyết định của HĐTP chưa được xã hội “tâm phục, khẩu phục”!

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT: BỖNG DƯNG BỊ THU HỒI SỔ ĐỎ

CHI MAI

Mua đất có giấy tờ hợp pháp, đã được sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), nhưng người mua bỗng rơi vào rắc rối do sai sót của chủ đất cũ và của chính quyền.

Tháng 4-2010, vợ chồng bà Nguyễn Thị Dung và ông Nguyễn Kiên Thịnh (ngụ phường 13, quận Tân Bình, TP.HCM) mua một lô đất 62m2 tại phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân giá 585 triệu đồng. Vợ chồng bà Dung đã đăng bộ và được cấp sổ đỏ mang tên mình vào tháng 6-2010. Bỗng nhiên đến tháng 9-2010, gia đình bà nhận được thư mời của UBND phường Bình Hưng Hòa mời đến làm việc vì khu đất mà bà mua có tranh chấp.

Cấp nhầm đất

Người tranh chấp với bà Dung là ông Mai Văn Lâm. Theo ông Lâm, năm 2005 ông và ông Nguyễn Đắc Linh cùng thỏa thuận mua hai lô đất sát cạnh nhau tại phường Bình Hưng Hòa. Lô đất của ông Lâm có diện tích 70m2 (4,5 x 15,5m), còn lô đất của ông Linh chỉ có 60m2 (4 x 15m). Do mua bán bằng giấy tay nên lúc mua cả hai được chủ đất dẫn đến hiện trạng đất bàn giao và chỉ ranh đất với nhau. Sau khi mua đất, ông Linh bán lại cho bà Nguyễn Thị Miên cũng bằng giấy tay.
Năm 2009, bà Miên hoàn thành thủ tục xin cấp giấy chứng nhận trước và bán lại cho vợ chồng bà Dung. Khi ông Lâm đi làm thủ tục cấp giấy mới hay lô đất của mình đã được cấp nhầm cho bà Miên.Khi UBND phường Bình Hưng Hòa mời các bên đến làm việc và hòa giải thì không bên nào chịu nhường bên nào. Ông Lâm và bà Miên đều cho rằng lô đất của mình là lô 33 (theo bản đồ hiện trạng đất của phường). Bà Miên nói lúc mua đất của ông Linh, bà được hướng dẫn ranh đất thế nào thì lúc làm giấy tờ hướng dẫn đo vẽ như thế.
UBND phường đã lập biên bản hòa giải không thành vụ tranh chấp giữa các bên.Có thể nói việc tranh chấp về ranh đất là giữa ông Lâm với bà Miên liên quan quá trình hợp thức hóa, cấp sổ đỏ của những lô đất mua giấy tay trước đó. Còn việc mua đất của bà Dung là diễn ra sau này, khi bà Miên đã có được giấy chứng nhận hợp pháp để chuyển nhượng cho bà Dung. Tuy nhiên, trong cuộc làm việc ngày 16-10, bà Dung lại được phường thông báo (ghi trong biên bản làm việc) là: phải nộp lại giấy đỏ cho phường, để phường lập hồ sơ đề nghị quận thu hồi vì giấy đó đã cấp sai, trùng ranh đất của ông Lâm.

Continue reading

XÁC LẬP VÀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUYỀN SỞ HỮU CHỨNG KHOÁN NIÊM YẾT

TS. NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tổ chức hay cá nhân có thể sở hữu chứng khoán dưới hình thức chứng chỉ (cổ phiếu, trái phiếu) hoặc dữ liệu điện tử. Trên thị trường chứng khoán tập trung, các công ty chứng khoán (CTCK) chính là đầu mối giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán chứng khoán. CTCK nhận lệnh đặt mua, lệnh chào bán và “thể hiện ý chí” mua bán bằng hành vi chuyển lệnh vào hệ thống giao dịch để khớp lệnh, thông báo lệnh đã được khớp, kết nối hệ thống giao dịch của Sở Giao dịch chứng khoán và hệ thống lưu ký của Trung tâm Lưu ký chứng khoán, hay nói cách khác, việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán, xác lập quyền sở hữu chứng khoán niêm yết thông qua một trình tự, thủ tục đặc biệt.

Để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhà đầu tư chứng khoán niêm yết trong quá trình xác lập và thực hiện quyền sở hữu, cần thiết phải làm rõ những vấn đề pháp lý có liên quan trong giao kết và thực hiện hợp đồng mang tính đặc thù gắn với hệ thống giao dịch điện tử hiện nay.

1. Đặt lệnh mua bán chứng khoán – phương thức thể hiện ý chí

Nhà đầu tư có thể mua bán chứng khoán thông qua phương thức giao dịch thỏa thuận hoặc giao dịch khớp lệnh. Đối với trường hợp giao dịch khớp lệnh, nhà đầu tư đặt lệnh mua hoặc bán chứng khoán tại các bộ phận môi giới của CTCK, CTCK với tư cách là thành viên giao dịch chuyển lệnh khớp tại Sở Giao dịch. Nhà đầu tư thể hiện ý chí mua hoặc bán chỉ có thể biết có được sự thống nhất ý chí hay không khi được thông báo kết quả khớp lệnh.

Vấn đề bất cập thường phát sinh ở giai đoạn này là thể hiện ý chí của nhà đầu tư có được chuyển tải đúng hay không. Trên thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp đưa lệnh mua hoặc lệnh bán vào hệ thống không đúng với yêu cầu của nhà đầu tư nên dẫn đến tình trạng lệnh mua, lệnh bán không được khớp tại phiên giao dịch – hợp đồng chưa hình thành, có nghĩa là nhà đầu tư có thể bị thiệt hại nếu giá chứng khoán tăng. Ở đây, cần phân biệt lỗi trong vận hành của hệ thống giao dịch và lỗi của nhân viên môi giới. Trong tất cả các trường hợp cần thiết phải xem xét mức độ thiệt hại phát sinh để có biện pháp xử lý đối với tổ chức và cá nhân có liên quan cũng như xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nhà đầu tư. Một dạng lỗi phổ biến là làm sai lệch lệnh yêu cầu, đây thường là lỗi của nhân viên môi giới, tùy từng trường hợp có thể xác định được trách nhiệm bồi thường thiệt hại của CTCK do hành vi thiếu trách nhiệm trong tác nghiệp của nhân viên môi giới gây ra1. Việc xác định rõ ràng trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các bên có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm quan hệ giao dịch hình thành và được thực hiện có hiệu quả, đề cao trách nhiệm của các bên liên quan trong tác nghiệp chính xác, khách quan và vô tư trong chuyển lệnh, khớp lệnh và thông báo kết quả.

Continue reading

HOÀN THIỆN CÁC QUI ĐỊNH VỀ CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI, QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI

CWC LogoĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Nguyên tắc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài là những quy định có tính chất nền tảng, làm cơ sở cho việc các nước công nhận và thi hành lẫn nhau các bản án, quyết định dân sự của Tòa án, Trọng tài. Tuy nhiên, để các quy định này được thực hiện có hiệu lực, hiệu quả, cần cân nhắc và xem xét chúng dưới mọi khía cạnh, đảm bảo cả tính khoa học và thực tiễn, tránh gây những bất cập như đã xảy ra trong thời gian vừa qua.

1. Nguyên tắc “có đi có lại” trong việc công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài và quyết định của Trọng tài nước ngoài

Khoản 3 Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2005 (BLTTDS) có quy định mở rộng hơn phạm vi các bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài (TANN), quyết định của Trọng tài nước ngoài (TTNN) bằng cách khẳng định việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong việc xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Đây là một nguyên tắc quan trọng, thường được áp dụng phổ biến trong công pháp và tư pháp quốc tế. Tuy nhiên, nguyên tắc này bản thân nó cũng còn nhiều vấn đề hạn chế. Việc áp dụng điều khoản này, trên thực tế ngày càng giảm đi đáng kể. Đã có nhiều ý kiến chỉ trích việc áp dụng điều khoản “có đi có lại” và đề nghị quy định này cần được xem xét lại. Trong nhiều trường hợp, nếu áp dụng một cách cứng nhắc, nó sẽ hạn chế và ảnh hưởng ngay chính đến quyền lợi chính đáng của công dân nước áp dụng nguyên tắc này.

Ở Đức, phán quyết của TTNN được thi hành theo thể thức chung về thi hành tài quyết của Đức mà không cần tính đến yếu tố có đi có lại[1]. Điều 1044 Điều lệ Tố tụng dân sự Đức quy định rằng, tài quyết của nước ngoài không được công nhận và thi hành nếu như nó vi phạm một số nguyên tắc cơ bản như vi phạm trật tự công cộng, một trong các bên không được đại diện đúng quy cách, không thể tham dự việc xét xử, nếu tài quyết không có giá trị theo pháp luật của nước mà nó phải tuân theo. Nguyên tắc có đi có lại không được quy định như một điều kiện cần thiết để công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN tại Cộng hòa Liên bang Đức. Pháp luật của Anh hay Italia cũng có những quy định tương tự[2].

Continue reading

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO KINH DOANH TRÊN SÀN VÀNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

TS. TRẦM THỊ XUÂN HƯƠNG

1. Mở đầu

Vàng là tài sản quý giá, rất quen thuộc đối với mọi người. Thời xa xưa vàng được sử dụng như tiền tệ trung gian trao đổi và cất trữ. Ngày nay với sự tiến bộ của công nghệ thông tin vàng đã trở thành phương tiện đầu tư hấp dẫn, mang lại lợi nhuận dáng kể cho nhà đầu tư. Trong xu thế cạnh tranh hiện nay, dưới tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu thị trường chứng khoán sút giảm, thị trường bất động sản đóng băng… các nhà đầu tư nhanh chóng lựa chọn cho mình một kênh đầu tư hấp dẫn đó là kinh doanh trên sàn vàng. Giá vàng biến động càng mạnh thì sức hút của thị trường vàng càng mãnh liệt hơn bất kỳ kênh đầu tư nào khác.

Với phương pháp khảo sát thực tế, so sánh đối chiếu được sử dụng trong bài báo này nhằm mục đích cảnh báo cho các nhà đầu tư rằng, kinh doanh trên sản vàng là một kênh đầu tư hấp dẫn nhưng đồng hành với lợi nhuận là rủi ro cao, nên việc dưa ra các giải pháp phòng chống rủi ro khi giá vàng biến động cho nhà dầu tư là điều cần thiết.

2. Lợi ích kinh doanh trên sàn vàng

§ Đối với ngân hàng thương mại

– Giúp ngân hàng đa dạng hóa các nghiệp vụ kinh doanh. Hiện nay các NH tham gia trên thị trường vàng gồm kinh doanh vàng vật chất, kinh doanh trên tài khoản vàng, kinh doanh trên sàn vàng… với những sản phẩm chủ yếu như giao ngay (spot), kỳ hạn (Forward), hoán đổi (swap), quyền chọn (option)… kể cả kinh doanh trong và ngoài nước nhằm cân bằng trạng thái vàng theo quy định của NHNN là trạng thái vàng không được vượt quá cộng trừ 20% so với vốn tự có của NHTM.

– Góp phần gia tăng nguồn vốn và thu nhập cho NH nhờ các khoản phí và lãi vay thu được.

§ Đối với nhà đầu tư :

– Nhà đầu tư kinh doanh vượt khả năng vốn tự có, có thể đạt được mức sinh lời hấp dẫn. Nhà đầu tư tự quyết định giá để đặt lệnh mua bán vàng và sử dụng các công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro.

Continue reading

VẤN ĐỀ ĐẠI DIỆN VỐN NHÀ NƯỚC

LÊ VĂN TỨ

Chừng nào cơ chế quản lý này còn chưa minh bạch, tình trạng lộng quyền của đại diện vốn nhà nước còn có đất để tồn tại, tạo điều kiện khách quan cho tệ tham nhũng nảy nở và lây lan.

Những tin bài trên báo chí gần đây về “đại diện vốn nhà nước” cho thấy đây còn là một điểm lúng túng trong cơ chế Nhà nước quản lý kinh tế với tư cách chủ sở hữu.

Thời kinh tế tập trung bao cấp, kinh tế tư doanh bị xóa sổ, kinh tế quốc doanh chiếm vị trí độc tôn. Vì Nhà nước vừa là cơ quan quyền lực, vừa là chủ sở hữu kinh tế quốc doanh, nên quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh gắn chặt với nhau. Khi chuyển sang kinh tế thị trường, xuất hiện chủ trương tách quản lý nhà nước với quản lý kinh doanh các doanh nghiệp nhà nước.

Nếu các cơ quan quản lý ngành tiếp tục thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, thì cơ quan nào quản lý các doanh nghiệp nhà nước với tư cách chủ sở hữu? Thực tế cho thấy các tổng công ty, và sau này là cả các tập đoàn kinh tế, đều không đảm đương nổi chức năng này.

Tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, kỳ vọng được đặt vào Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC). Song, SCIC thực chất cũng chỉ là công ty nhà nước kinh doanh tài chính, cũng không thể đóng nổi vai trò chủ sở hữu khu vực doanh nghiệp nhà nước. Cho đến nay vấn đề cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước với tư cách chủ sở hữu vẫn chưa định hình, chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa minh định.

Thực ra, Nghị định 25/2009/NĐ-CP về chuyển các doanh nghiệp nhà nước thành công ty TNHH một thành viên đã đề cập tới vấn đề này khi quy định cá nhân (Thủ tướng Chính phủ, chủ tịch UBND cấp tỉnh) hoặc tổ chức (cơ quan quản lý ngành ở Trung ương và địa phương) làm chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên. Song quyền hạn, trách nhiệm chủ sở hữu lại chưa quy định. Vậy mà đã có nghịch lý: quản lý kinh doanh, việc của doanh nhân, nhưng lại giao cho chính khách cấp quốc gia và cấp tỉnh hoặc lại đưa trở về cơ quan quản lý nhà nước.

Continue reading

BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG GIAO KẾT HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ QUAN INTERNET

THS. TRẦN VĂN BIÊN – Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Hầu như tất cả (98%) các website chưa cung cấp đầy đủ các thông tin cơ bản về thương nhân như tên, địa chỉ, số điện thoại, email, giấy phép đăng ký kinh doanh.

46% các website không công bố bất cứ thông tin gì về các điều khoản giao dịch, chỉ có 8% công bố đầy đủ các điều khoản giao dịch.

Đa phần website vẫn chưa chú ý thích đáng tới việc xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp. Chỉ có 4% trong số những website được khảo sát công bố thông tin về quy trình giải quyết khi xảy ra tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng.

Tại kỳ họp thứ 7 vừa qua, Dự thảo 5 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã được đưa ra Quốc hội để thảo luận. Trong quá trình thảo luận, một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các đại biểu Quốc hội là vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao kết hợp đồng điện tử.

Có ý kiến cho rằng, Dự thảo Luật dường như chỉ quy định đối với các giao dịch truyền thống mà chưa tính đến các phương thức kinh doanh mới đang phát triển như giao dịch trên Internet hiện nay1. Sau khi kỳ họp thứ 7, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đã phối hợp với Ban soạn thảo và các cơ quan hữu quan tiến hành nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo Luật theo ý kiến góp ý của đại biểu. Tuy nhiên, theo dõi bản Dự thảo 5.4 đưa ra tại cuộc họp ngày 14/8/2010 do Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường chủ trì, có thể nhận thấy, vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao kết hợp đồng điện tử qua Internet vẫn chưa được quan tâm đúng mức.

1. Nhu cầu điều chỉnh pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao kết hợp đồng điện tử

Hợp đồng điện tử đặc trưng cho các giao dịch được thiết lập từ xa. Trong mối quan hệ này, người tiêu dùng luôn ở thế yếu so với nhà cung cấp dịch vụ, hàng hóa. Thế yếu này bắt nguồn từ chính phương thức giao kết hợp đồng: phải sử dụng biện pháp liên lạc từ xa (qua website, e-mail hay chat room…). Người tiêu dùng có thể thiếu thông tin về tình hình thực tế hay pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng. Đặc điểm này là nguyên nhân gây ra bất bình đẳng giữa các bên. Dễ nhận thấy rằng, khi mua một mặt hàng bất kỳ (ví dụ như quần áo) thông qua một website, người tiêu dùng không có dịp kiểm tra màu sắc, kích cỡ hay chất liệu quần áo như khi mua ở một cửa hàng thời trang. Vì vậy, có thể sẽ có rủi ro khi giao kết hợp đồng, sự đồng ý của người tiêu dùng sẽ không rõ ràng như khi ký kết hợp đồng với sự hiện diện của các bên. Ở cấp độ thấp hơn, việc mua hàng thiếu cân nhắc cũng rất đáng ngại, khi đó người tiêu dùng sẽ không suy nghĩ chín chắn trước khi ký kết hợp đồng như trong giao dịch truyền thống. Khi các hợp đồng điện tử đa phần dưới dạng là hợp đồng mẫu, thì vị thế của người tiêu dùng từ xa lại càng yếu thế vì họ không có quyền thỏa thuận, thương lượng.

Continue reading