MỘT SỐ QUI ĐỊNH VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ NHỮNG VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG

LG. NGUYỄN THỊ HẰNG NGA – Chi hội luật gia Công ty luật số 5 Quốc gia

Việc xác định đúng thời hiệu khởi kiện có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động giải quyết tranh chấp của cơ quan Tòa án cũng như trong hoạt động tư vấn pháp luật của các Luật sư. Nhiều vụ việc trên thực tiễn là những bài học “đau đớn” cho các đương sự vì không nhận thức đầy đủ về ý nghĩa của thời hiệu khởi kiện. Tuy nhiên, quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự còn nhiều điểm bất cập, tạo nên nhiều cách hiểu khác nhau, gây khó khăn cho thực tiễn áp dụng, ảnh hưởng không ít đến quyền lợi của đương sự.

Bài viết này chúng tôi trao đổi một số vấn đề về các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện, cách tính thời hiệu, những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng (chủ yếu tiếp cận đối với việc giải quyết tranh chấp kinh doanh- thương mại)[1].

Điều 159 BLTTDS quy định thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện yêu cầu tòa giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà đương sự được quyền yêu cầu cơ quan tòa án giải quyết vụ việc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Quy định về thời hiệu khởi kiện buộc các đương sự phải ý thức được việc bảo vệ quyền lợi của mình và sớm có yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết, tránh tình trạng khởi kiện tuỳ hứng.

Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi kiện, thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm. Như vậy, để xác định đúng thời hiệu khởi kiện, phải xác định được quan hệ tranh chấp đó có được văn bản pháp luật nào khác quy định về thời hiệu khởi kiện hay không. Điều quan trọng thứ hai là phải xác định đúng ngày nào được coi là ngày có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm để bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện.

Continue reading

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HỢP ĐỒNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI CỦA DOANH NGHIỆP VÀ MỘT SỐ LIÊN HỆ VỚI HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG

TS. LÊ VĂN LUYỆN – Học viện Ngân hàngTHS. & THS. ĐÀO NGỌC CHUYỀN – Văn phòng Luật sư Đào và Đồng nghiệp

Nói đến hợp đồng kinh doanh thương mại, không thể không nói đến điều khoản cơ bản về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Đây là sự thỏa thuận của các bên trong giao dịch dân sự, kinh doanh thương mại, đồng thời, cũng là các chế định của pháp luật; nó tồn tại đã lâu nhưng cũng còn nhiều bất cập mà doanh nghiệp và những người làm công tác pháp lý nói chung và luật sư nói riêng còn một số điểm phải trao đổi làm rõ.

Vấn đề này không chỉ dừng tại đó, mà còn có ảnh hưởng đến các bên có liên quan, trực tiếp là các ngân hàng thương mại (NHTM) và tổ chức tín dụng (TCTD) khác tài trợ vốn cho doanh nghiệp. Nếu như khách hàng bị thiệt hại do đối tác gây ra, không được bồi thường kịp thời và giải quyết vi phạm đó kéo dài, mà giá trị hợp đồng đó có sự tài trợ vốn, cho vay của NHTM,… thì doanh nghiệp rất dễ rơi vào tình trạng nợ quá hạn, nợ khó đòi,… vì dòng tiền quay vòng không đúng dự kiến, nợ NHTM không được trả đúng hạn. Do đó NHTM, trực tiếp là cán bộ tín dụng cần có nhận thức đầy đủ hơn để giải quyết mối quan hệ với khách hàng cũng như xử lý nợ khi phát sinh liên quan đến hợp đồng có tranh chấp bồi thường. Bên cạnh đó, các TCTD cần nắm rõ vấn đề này khi giải quyết tranh chấp, bồi thường, vi phạm với đối tác trong hoạt động của mình.

Về lý luận và khoa học pháp lý: Pháp luật quy định về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại như sau:

Theo các quy định của pháp luật hiện hành: (i) Điều 422 Bộ luật Dân sự năm 2005 cho phép các bên trong giao dịch dân sự được thoả thuận về mức phạt vi phạm; có thể thoả thuận vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm. (ii) Luật Thương mại quy định: Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm (Điều 301)… Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm (Điều 302). (iii) Luật Xây dựng quy định: Đối với công trình xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước, mức thưởng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng làm lợi, mức phạt không vượt quá 12% giá trị hợp đồng bị vi phạm (Điều 110).

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: KHÓ LẤY Ý KIẾN CON TRẺ KHI LY HÔN

HOÀNG YẾN

Theo quy định, khi giải quyết án ly hôn, tòa phải hỏi ý kiến của con trẻ từ chín tuổi trở lên xem các em muốn sống với cha hay mẹ. Thủ tục bắt buộc này trên thực tế đã gặp vướng mắc khi các bậc cha mẹ không hợp tác.

Tại khoản 2 Điều 92 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Lấy ý kiến là cần thiết      

Nhiều chuyên gia pháp lý cho rằng việc lấy ý kiến của con cái là cần thiết. Khi cha mẹ ly hôn, các em đã mất đi một điểm tựa quan trọng nhất là mái ấm gia đình nên rất cần hỏi ý kiến để các em nói lên tâm tư, nguyện vọng của mình. Điều này cũng phù hợp với tinh thần của Điều 12 Công ước Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em mà Việt Nam là quốc gia thành viên. Theo đó: Các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho trẻ em có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình, được quyền tự do phát biểu những quan điểm đó về tất cả vấn đề có tác động đến trẻ em, những quan điểm của các em được coi trọng một cách thích ứng với tuổi và độ trưởng thành của các em.

Cha mẹ không hợp tác

Thủ tục lấy ý kiến của con trẻ là bắt buộc trong giải quyết án ly hôn. Nếu thiếu thủ tục này án sẽ bị tòa cấp trên tuyên hủy. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử của ngành tòa án đã gặp nhiều vướng mắc.

Không ít tòa đau đầu vì các bậc cha mẹ không hợp tác, không đưa con cái tới để tòa lấy ý kiến của các em. Lý do chính là rất nhiều người không muốn cho con cái biết họ ly hôn, sợ các em bị tổn thương về tâm lý. Ra tòa, họ cương quyết ly hôn nhưng một, hai mong tòa xem xét không cho con cái biết.

Continue reading

NÊN THAY ĐỔI CÁCH NHÌN VỀ HIỆN TƯỢNG PHÁ SẢN

Drowning In Debt ConceptLS. LÊ TRỌNG DŨNG – Công ty Luật TNHH InvestPro & HoàngGiao

Khi hiệu quả kinh tế của tập đoàn Vinashin được đưa ra mổ xẻ, nhiều người cho rằng thực chất doanh nghiệp này đã phá sản nhưng chủ sở hữu không tuyên bố phá sản. Có thể do chủ sở hữu e ngại từ “tuyên bố phá sản” nên không tiến hành các thủ tục phá sản mà ngầm hiểu đã “phá sản” để tiến hành các biện pháp tái cơ cấu.

Dù có tuyên bố hay không tuyên bố, một khi đã lâm vào tình trạng kinh doanh thua lỗ, công nợ dày đặc mà không thanh toán được, thì doanh nghiệp đó vẫn phá sản.

Vì sao e ngại phá sản trong doanh nghiệp nhà nước?

Khi một doanh nghiệp nhà nước lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, chủ sở hữu có quyền tiến hành các thủ tục tuyên bố phá sản để mọi khoản nợ được ngừng trả, tạo cơ hội ổn định tình hình tài chính, giúp tổ chức, sắp xếp lại doanh nghiệp.

Thậm chí, điều 15, điều 16 Luật Phá sản 2004 quy định rất rõ là, khi nhận thấy doanh nghiệp của mình lâm vào tình trạng phá sản thì chủ sở hữu có nghĩa vụ tiến hành thủ tục phá sản. Tuy nhiên, nghĩa vụ này thường không được chủ sở hữu thực hiện một cách nghiêm chỉnh.

Lý do mà cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương e ngại tuyên bố phá sản doanh nghiệp của mình thường vì lo ngại sự sụp đổ dây chuyền và thất nghiệp hàng loạt, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người lao động và ảnh hưởng tới sự ổn định xã hội. Bên cạnh đó, do bệnh thành tích, các chủ sở hữu lo ngại nếu doanh nghiệp của mình bị coi là phá sản thì danh dự, uy tín bị ảnh hưởng, việc quản lý, điều hành yếu kém bị phơi bày.

Cách thức mà họ lựa chọn là không tuyên bố phá sản, tự mình tái cơ cấu bằng cách cấp vốn bổ sung, hoãn nợ hoặc xóa nợ, phân tách, sáp nhập, cho thuê, khoán… Hàng loạt hành động đó thực chất chính là sự can thiệp hành chính vào việc giải quyết tình trạng “phá sản” của doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ.

Continue reading