TÌM HIỂU THÊM VỀ ÁN LỆ

LS. ĐIỀN ĐỨC THÀNH

Bản tin Đoàn Luật Sư TP.HCM số 118 + 119 phát hành ngày 25-9-2010 và số 120 + 121 phát hành ngày 30-10-2010, LS. Nguyễn Ngọc Bích và LS. Trương Trọng Nghĩa đã giải thích nguồn gốc, những ưu điểm của án lệ; vì sao nên áp dụng án lệ, và nên áp dụng án lệ ở Việt Nam như thế nào?

Cần nghiên cứu và trân trọng về những ý kiến của hai vị luật sư nói trên; mong rằng pháp luật Việt Nam trong tương lai ổn định và nhất quán. Vì pháp luật là tĩnh, còn án lệ là động. Sau này sinh viên trường luật năm thứ ba hay năm thứ tư sẽ được học môn án lệ này.
Tầm quan trọng của án lệ trong việc nghiên cứu luật học, một giáo sư người Pháp tên là H. Capitant đã viết từ hơn thế kỷ là :”Muốn thật hiểu biết môn luật, không chỉ nghiên cứu về phương diện TĨNH  nghĩa là thuần lý thuyết mà phải quan sát những tương quan pháp lý giữa các cá nhân, xem các tương quan ấy được cấu tạo cách nào, biến chuyển ra sao, phát sinh ra những vụ tranh tụng gì, rồi được Tòa án xét xử thế nào, tóm lại phải cứu xét môn học cả về mặt ĐỘNG”.
Do đó, các nhà nghiên cứu án lệ, vì án lệ đem lại một nguồn sinh lực mới cho các luật lệ; luật lệ càng khó hiểu hay khô khan, thì án lệ lại càng cần thiết hơn. Tại sao vậy ? Vì trong công việc áp dụng luật lệ, tòa án phải giải thích các điều khoản, phải tìm những lý do trong văn từ luật lệ hay trong các nguyên tắc tổng thể, các tòa án dần dần sáng tạo nên một cơ cấu pháp lý, để bổ sung vào các văn bản lập pháp ngày càng thêm hoàn chỉnh và phong phú. Nếu không có án lệ mỗi ngày đem lại nguồn sinh lực mới, các luật lệ sẽ dần dần già nua và lạc hậu hoặc bị triệt tiêu.
Việc nghiên cứu tập hợp các án lệ còn đem lại cho người học luật một lợi ích quý báu, vì có được án lệ mới hiểu rõ những tương quan pháp lý được cấu tạo như thế nào và biến chuyển ra sao.
Muốn nhận biết nhiệm vụ và tầm quan trọng của một định chế pháp lý, ta cần phải biết vị trí cũng như sự điều hành của định chế ấy đã được con người nhận thức và sử dụng trong những điều kiện nào, bằng những phương sách nào, để đưa đến những kết quả hay những hậu quả ra sao. Về những điểm này chỉ có án lệ mới có thể vạch cho người ta thấy rõ và người ta chỉ có thể thấu triệt một định chế pháp lý sau khi đã xét kỹ các phán quyết của tòa án đã áp dụng các định chế ấy.

Continue reading

XỬ LÝ HỢP ĐỒNG BẰNG NGOẠI TỆ: CHỎI?

NGUYÊN TẤN

Trước tình trạng biến động của tỷ giá, nhiều doanh nghiệp khi ký kết hợp đồng đều lấy một ngoại tệ mạnh nào đó làm chuẩn để tính giá hàng hóa, dịch vụ. Giao dịch nói trên có bị xem là trái pháp luật? Xung quanh vấn đề này vẫn còn chưa có sự thống nhất, thậm chí ‘chỏi” nhau giữa cơ quan quản lý hành chính và cơ quan xét xử.

Ngân hàng Nhà nước: trái luật!

Thói quen sử dụng ngoại tệ, chủ yếu là đồng đô la Mỹ để tính giá hàng hóa, dịch vụ được các doanh nghiệp khai thác triệt để, nhất là vào lúc đồng nội tệ đang trên đà mất giá như hiện nay. Đây là cách giúp cho bên cung cấp bảo đảm được giá trị hàng hóa, dịch vụ của mình nhưng ngược lại gây thiệt hại không nhỏ cho các đối tượng tiêu dùng.

Ngay cả các hãng luật cũng phải “kêu trời” do tiền thuê văn phòng liên tục bị điều chỉnh, tăng lên theo tỷ giá đồng đô la. Luật sư Trần Anh Đức, Giám đốc Công ty luật Vilaf-Hồng Đức cho biết tiền thuê văn phòng của công ty này khoảng 25.000 đô la Mỹ/tháng. Tuy nhiên, trong vòng một năm qua, với mức tăng của tỷ giá từ 18.500 đồng/đô la lên 19.500 đồng/đô la, mỗi tháng công ty phải trả thêm 25 triệu đồng theo yêu cầu của bên cho thuê.

Bức xúc vì bị “bắt bí”, một hãng luật vừa mới có công văn hỏi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về trường hợp thuê mặt bằng của mình. Nguyên công ty có ký hợp đồng thuê văn phòng của một tập đoàn kinh doanh bất động sản lớn tại Hà Nội. Giá thuê mặt bằng, phí dịch vụ, tiền đặt cọc và tiền trông giữ xe đều được tính bằng đô la Mỹ nhưng được trả bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá bán ra của ngân hàng công bố vào thời điểm thanh toán. Mặc dù, trong quá trình thương lượng bên thuê đề nghị các khoản tiền này được quy đổi ra tiền đồng Việt Nam, tuy nhiên bên cho thuê vẫn không chấp nhận. Do vậy, công ty đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn các bên phải làm gì để tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Continue reading

BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC: KINH NGHIỆM GÌ CHO VIỆT NAM?

TS. NGUYỄN QUỐC VINH

Không hiểu sao bài viết được đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn điện tử ngày 12/12/2010 nhưng nội dung tác giả vẫn góp ý vào Dự thảo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước vốn đã được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 – Civillawinfor

Việc một người dân TPHCM khởi kiện cơ quan phụ trách giao thông và công chính thành phố vì thiệt hại kinh tế do lô cốt gây ra thu hút sự chú ý của đông đảo các giới. Công chúng chờ đợi kết cục về trách nhiệm đối với những bất ổn an sinh họ đang gánh chịu. Còn với các luật gia, vụ án này sẽ đánh dấu sự tiến bộ (hay không) của pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại Việt Nam.

Cho đến nay, số vụ kiện bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại Việt Nam xảy ra ít, thông thường chỉ xảy ra trong một số lĩnh vực như tai nạn giao thông, xây dựng công trình dân dụng… chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong các tranh chấp dân sự.

Điều này trái ngược với tỷ lệ thực tế tại các nước phát triển. Lấy ví dụ tại Nhật Bản, số vụ tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chiếm hơn 60% tổng số tranh chấp dân sự. Hơn 30% còn lại chia cho các tranh chấp hợp đồng, hưởng lợi không có căn cứ chính đáng và thực hiện công việc không có ủy quyền.

Vài kinh nghiệm từ Nhật Bản

Một trong những bị đơn thường xuyên trong các vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại các nước phát triển là nhà nước hoặc cơ quan nhà nước như chính quyền địa phương. Họ trở thành bị đơn vì đã được xã hội giao cho các quyền (nghĩa vụ) thực hiện công việc nhất định như cấp phép, bảo đảm chất lượng cuộc sống, xây dựng công trình công cộng… nhưng đã không hoàn thành những công việc này mà còn gây thiệt hại cho người khác.

Lấy ví dụ tại Nhật Bản, từ năm 1947 nước này đã ban hành Luật về bồi thường nhà nước (Kokka baisho ho) quy định về những trường hợp nhà nước phải bồi thường. Cụ thể điều 1.1 luật này quy định: “Khi thực thi công vụ, nếu một quan chức chính quyền có hành vi vi phạm, dù cố ý hoặc vô ý, mà gây thiệt hại cho người khác thì nhà nước hoặc cơ quan có liên quan phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại”. Điều 2.1 luật này quy định: “Trong trường hợp có khiếm khuyết khi xây dựng hoặc quản lý đường sá, sông ngòi và các cơ sở công cộng khác mà gây thiệt hại cho người khác thì nhà nước hoặc cơ quan có liên quan phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 23/2010/TT-BTP NGÀY 06 THÁNG 12 NĂM 2010 QUI ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN NGHỊ ĐỊNH SỐ 17/2010/NĐ-CP NGÀY 04 THÁNG 03 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN

Căn cứ Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản;

Căn cứ Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;

Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản (sau đây gọi tắt là Nghị định số 17/2010/NĐ-CP) như sau:

Chương I

ĐÀO TẠO NGHỀ ĐẤU GIÁ

Điều 1. Khóa đào tạo nghề đấu giá

1. Khóa đào tạo nghề đấu giá được tổ chức theo hình thức đào tạo tập trung nhằm trang bị cho học viên kiến thức pháp luật cơ bản về bán đấu giá tài sản, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng hành nghề bán đấu giá, qua đó tiêu chuẩn hóa về chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ đấu giá viên.

Cơ sở đào tạo nghề đấu giá tổ chức các khóa đào tạo nghề theo định kỳ hoặc căn cứ theo nhu cầu đào tạo thực tế.  

2. Học viên đăng ký tham dự khóa đào tạo nghề theo thông báo chiêu sinh của cơ sở đào tạo nghề đấu giá.                                                                                                          

3. Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt chương trình khung của khóa đào tạo nghề đấu giá. Thời gian đào tạo nghề là ba tháng, bao gồm thời gian đào tạo tại cơ sở đào tạo nghề và thời gian thực tập tại tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp. Thời gian đào tạo tại cơ sở đào tạo gồm có phần học lý thuyết và phần thực hành, trong đó phần thực hành chiếm 1/2 tổng số tiết học.

Continue reading

ÁP DỤNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT ĐỂ XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI NHÀ Ở VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỀU CÓ GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU

CHÂU VŨ – Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Hiện nay các văn bản pháp luật như Luật Đất đai ngày 26/11/2003, Bộ luật dân sự ngày 14/6/2005 và Luật Nhà ở ngày 29/11/2005, quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất khác nhau, nên trong quá trình tổ chức thi hành án phát sinh những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật để xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản là quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất, cụ thể:

1. Thực trạng xung đột pháp luật thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất:

* Điều 168 (Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản) – Bộ Luật Dân sự ngày 14/6/2005 quy định:

1. Việc chuyển quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

* Điều 692 (Hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất) – Bộ Luật dân sự ngày 14/6/2005 quy định:

Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

* Điều 46 (Đăng ký quyền sử dụng đất ) – Luật Đất đai ngày 26/11/2003 quy định:

Việc đăng ký quyền sử dụng đất được thực hiện tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:

1. Người đang sử dụng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ NUÔI CON NUÔI: XÁC LẬP NUÔI CON NUÔI CÓ NHIỂU RẮC RỐI

NGUYỄN THANH XUÂN

Pháp luật về đăng ký nuôi con nuôi có những quy định cụ thể về việc xác lập quan hệ cha mẹ và con; giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội. Luật hiện hành cũng không cấm người độc thân không được quyền nhận con nuôi. Tuy nhiên, khi xác lập quan hệ nuôi con nuôi trong thời điểm độc thân và sau đó lại kết hôn, thì người còn lại có được quyền trở thành cha, mẹ nuôi hay không, điều này pháp luật còn bỏ ngỏ.

Tháng 3.2009, ông Lâm Thành đến UBND xã T.D, huyện L.V, tỉnh Đồng Tháp yêu cầu đăng ký làm cha nuôi cháu bé chưa tròn một tuổi. Tại thời điểm đăng ký và xác lập quan hệ nuôi con nuôi thì ông Thành trong tình trạng độc thân, do đó khi đăng ký khai sinh cho con nuôi, bản chính giấy khai sinh chỉ có tên cha, không ghi tên mẹ. Sự việc tưởng chừng đơn giản, nhưng đến tháng 5.2010 ông Thành đăng ký kết hôn với bà Trần Thị Ngọc Hoa. Khi có giấy chứng nhận kết hôn, ông Thành đến UBND xã yêu cầu ghi tên người vợ mới cưới của mình vào giấy khai sinh của con nuôi để người con nuôi có cha, mẹ trong hồ sơ, sau này không ảnh hưởng đến tình cảm cha mẹ và thuận lợi trong cuộc sống. UBND xã đã tra cứu các quy định pháp luật, nhưng vẫn không rõ trường hợp trên có được giải quyết hay không, vì pháp luật hiện hành không quy định về trường hợp này.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định rõ điều kiện của người được nhận làm con nuôi, theo đó một người chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặc của cả hai người là vợ chồng. Tuy nhiên, trong điều luật này chỉ công nhận việc nuôi con nuôi khi tại thời điểm nhận nuôi con nuôi cả hai người là cha, mẹ nuôi phải là vợ chồng. Luật cũng như các văn bản hướng dẫn không quy định một người độc thân xác lập quan hệ nuôi con nuôi, sau đó kết hôn thì vợ/chồng của họ được quyền xác lập quan hệ nuôi con nuôi tiếp theo, để trở thành cha/mẹ nuôi. Điều này đã gây rắc rối cho chính quyền sở tại, khi người dân có yêu cầu giải quyết, như trường hợp của ông Thành.

Mặt khác trên thực tế, khi nhận nuôi con nuôi ông Thành trong tình trạng độc thân, điều này hoàn toàn phù hợp với quy định và pháp luật không cấm. Nhưng sau đó, người vợ hợp pháp của ông Thành lại tiếp tục đăng ký nuôi con nuôi đối với đứa con nuôi của chồng mình thì liệu có mâu thuẫn với quy định chung về nuôi con nuôi hay không? (vì đứa con nuôi chỉ có thể làm con nuôi của một người, hoặc của cả hai người là vợ chồng).

Continue reading

SUY NGẪM 50

SỐ 50

Năm 2011, UBND TP. Đà Nẵng quyết định không tuyển dụng người tốt nghiệp hệ tại chức vào làm việc trong các cơ quan nhà nước trên địa bàn. Có nhiều lý do để bàn luận và khoan hãy bàn đến tính hợp pháp của quyết định mà cần nhìn nhận vấn đề trên hai phương diện:

– Dưới góc độ người sử dụng lao động, UBND TP. Đà Nẵng có quyền đưa ra tiêu chuẩn đối với người lao động và quyết định trên là bình thường khi nhà tuyển trạch cho rằng, người tốt nghiệp hệ tại chức không đáp ứng được yêu cầu của công việc quản lý Nhà nước. Câu hỏi đặt ra, việc không “tin tưởng” chất lượng đào tạo hệ tại chức đã được xây dựng dựa trên những luận cứ khoa học nào?

– Dưới góc độ quản lý nhà nước, quyết định của UBND TP. Đà Nẵng đã mâu thuẫn với hai trách nhiệm xã hội cơ bản của Nhà nước dân chủ: Thứ nhất, tạo môi trường bình đẳng về cơ hội học tập cho công dân và cơ hội được thừa nhận kiến thức đã học; Thứ hai, tạo môi trường bình đẳng về cơ hội có việc làm cho công dân và sự minh bạch trong việc tuyển dụng người lao động.

Thiết nghĩ, UBND TP. Đà Nẵng nói riêng và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Việt Nam nói chung nên xác định rõ mình ở vị trí nào ở hai phương diện nêu trên trong các quyết định liên quan đến sử dụng và đãi ngộ người lao động.

CIVILLAWINFOR

Số khác > > >

THÔNG TƯ 20/2010/TT-BTNMT NGÀY 22 THÁNG 10 NĂM 2010 CỦA BỘ TÀI NGUYÊN – MÔI TRƯỜNG QUI ĐỊNH VỀ GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai ngày 18 tháng 6 năm 2009;

Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản ngày 19 tháng 6 năm 2009;

Căn cứ Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;

Căn cứ Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

Căn cứ Nghị định số 25/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Nghị định số 19/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 và Nghị định số 89/2010/NĐ-CP ngày 16 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 25/2008/NĐ-CP.

Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định bổ sung về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất như sau:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định bổ sung về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là Giấy chứng nhận), hồ sơ và trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 37/2010/TT-BCA NGÀY 12 THÁNG 10 NĂM 2010 CỦA BỘ CÔNG AN QUI ĐỊNH QUI TRÌNH ĐĂNG KÝ XE

Căn cứ Luật Giao thông đường bộ năm 2008;

Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an;

Bộ Công an quy định quy trình đăng ký xe như sau:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định quy trình cấp, đổi, thu hồi đăng ký, biển số xe (gọi chung là quy trình đăng ký xe) đối với các loại xe cơ giới theo quy định của Luật Giao thông đường bộ chạy bằng xăng, dầu, điện, ga hoặc các loại nhiên liệu khác, bao gồm ô tô, máy kéo, rơ moóc, sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe có kết cấu tương tự; xe máy chuyên dùng của Công an sử dụng vào mục đích an ninh.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với Công an các đơn vị, địa phương; cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ đăng ký xe và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Điều 3. Yêu cầu, tiêu chuẩn của cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ đăng ký xe và nơi đăng ký xe

1. Cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ đăng ký xe phải có trình độ từ trung cấp Công an hoặc tương đương trở lên; có thời gian công tác trong lực lượng Cảnh sát giao thông đường bộ liên tục từ 3 năm trở lên; sử dụng thành thạo máy vi tính và chương trình quản lý xe trên máy vi tính; nắm vững và thực hiện đúng quy định của pháp luật về giao thông đường bộ, về đăng ký xe và các quy định của pháp luật khác có liên quan.

2. Thực hiện đúng quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân; chấp hành nghiêm chỉnh Điều lệnh Công an nhân dân.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 36/2010/TT-BCA NGÀY 12 THÁNG 10 NĂM 2010 CỦA BỘ CÔNG AN QUI ĐỊNH VỀ ĐĂNG KÝ XE

Căn cứ Luật Giao thông đường bộ năm 2008;

Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15/9/2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an;

Bộ Công an quy định về đăng ký xe như sau:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định việc cấp, đổi, thu hồi đăng ký, biển số các loại xe cơ giới theo quy định của Luật Giao thông đường bộ chạy bằng xăng, dầu, điện, ga hoặc các nguồn nhiên liệu khác, bao gồm: ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy và các loại xe có kết cấu tương tự; xe máy chuyên dùng của Công an sử dụng vào mục đích an ninh (gọi chung là đăng ký xe).

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Thông tư này áp dụng đối với Công an các đơn vị, địa phương; tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài có trụ sở hoặc cư trú hợp pháp trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Thông tư này không áp dụng đối với việc đăng ký các loại xe cơ giới của Quân đội sử dụng vào mục đích quốc phòng.

Điều 3. Cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện đăng ký xe

1. Cục Cảnh sát giao thông đường bộ – đường sắt tổ chức đăng ký xe ô tô của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế và người nước ngoài làm việc trong cơ quan, tổ chức đó; ô tô của các cơ quan, tổ chức quy định tại Phụ lục số 01 ban hành kèm theo Thông tư này.

2. Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức đăng ký các loại xe sau đây (trừ các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này):

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 22/2010/TT-BTP NGÀY 06 THÁNG 12 NĂM 2010 CỦA BỘ TƯ PHÁP HƯỚNG DẪN VỀ ĐĂNG KÝ, CUNG CẤP THÔNG TIN TRỰC TUYẾN GIAO DỊCH BẢO ĐẢM, HỢP ĐỒNG, THÔNG BÁO VIỆC KÊ BIÊN TÀI SẢN THI HÀNH ÁN

Căn cứ Bộ luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;

Căn cứ Luật Giao dịch điện tử ngày 29 tháng 11 năm 2005;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự ngày 14 tháng 11 năm 2008;

Căn cứ Nghị định số 65/2005/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02 tháng 5 năm 2001 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính;

Căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm;

Căn cứ Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm;

Căn cứ Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;

Nhằm đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng các quy định về đăng ký, cung cấp thông tin trực tuyến giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số nội dung như sau:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi áp dụng

Thông tư này hướng dẫn về đăng ký lần đầu, đăng ký thay đổi, xoá đăng ký và cung cấp thông tin giao dịch bảo đảm, hợp đồng; thông báo việc kê biên tài sản thi hành án được thực hiện thông qua hệ thống đăng ký trực tuyến thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm của Bộ Tư pháp.

Continue reading

BÁO CÁO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA VIỆT NAM – 2010 (Vietnam Competitive Report 2010)

best-seo-company-list-600-300VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG & HỌC VIỆN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHÂU Á

1. Phần Giới thiệu

1.1 Giới thiệu chung về Báo cáo

Bối cảnh ra đời

Việt Nam là một trong những nền kinh tế tăng trưởng ấn tượng nhất trên thế giới trong hai thập kỷ qua. Sau khi thực hiện công cuộc đổi mới vào cuối thập kỷ 80, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng trung bình mỗi năm gần 6% và giúp đưa hàng triệu người thoát nghèo. Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á và cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu gần đây không ảnh hưởng quá nhiều tới Việt Nam như nhiều quốc gia khác trên thế giới. Cộng đồng các nhà tài trợ coi Việt Nam như một trong những câu chuyện thành công về hiệu quả của những nỗ lực hỗ trợ phát triển quốc tế. Các nhà đầu tư cũng nhìn nhận Việt Nam như một điểm đến ngày càng hấp dẫn.

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm phía trước. Mức thu nhập của Việt Nam còn thấp, ngay cả so với các nước châu Á láng giềng. Bất ổn định kinh tế vĩ mô là dấu hiệu nhắc nhở rằng những thành quả tăng trưởng rất mong manh trước các cú sốc. Nghèo đói vẫn tồn tại ở một số vùng tăng trưởng chậm và một bộ phận dân số, và ngày càng khó xoá nếu chỉ thông qua các biện pháp kích thích tăng trưởng kinh tế chung chung. Những thành tựu đã đạt được cho tới nay càng làm tăng kỳ vọng và tham vọng, buộc Việt Nam phải tìm cách tiếp tục duy trì đà tăng trưởng bền vững sau khi đã đạt tới trình độ phát triển hiện nay. Trên nhiều khía cạnh, Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt với những lựa chọn chính sách phức tạp hơn nhiều so với thời kỳ quyết định mở cửa nền kinh tế hai thập kỷ trước.

Trong những tháng tới, Việt Nam sẽ đứng trước một loạt các mốc quan trọng tác động tới tương lai trong trung hạn của đất nước. Một trong những cột mốc đó là việc công bố Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm của quốc gia mà hiện nay dự thảo Chiến lược đang được thảo luận trong Đảng, Chính phủ và Quốc hội. Chiến lược này đặt ra những trụ cột chính sách quan trọng mà Chính phủ muốn tập trung đẩy mạnh cũng như đề ra một tầm nhìn tổng quát để Việt Nam hướng tới trong thập kỷ tới. Đại hội Đảng toàn quốc vào đầu năm 2011 cũng sẽ đặt ra những định hướng quan trọng cho tương lai phát triển của đất nước.

Continue reading

“PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG “NHÌN TỪ GÓC ĐỘ XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA

altTRẦN HỮU DŨNG

Từ giữa thập niên 80 đến nay, “phát triển bền vững” đã trở thành một ý niệm thời thượng.  Nó là khẩu hiệu của hàng trăm tổ chức quốc tế, đề tài của mấy chục hội nghị, hội thảo toàn cầu, và một tiêu chuẩn quan trọng trong chiến lược phát triển của hầu hết mọi nước.  Nguyên thủy, nó phản ảnh sự quan ngại đối với một số quốc gia muốn tăng trưởng kinh tế vội vã, chọn cách phát triển thiển cận, miễn sao tăng thu nhập hiện tại cho nhanh, mà không để ý đến những nguy hại dài lâu của lối phát triển ấy đến môi trường sinh thái (tàn phá rừng, sa mạc hoá…), đến trữ lượng hữu hạn của tài nguyên thiên nhiên (quặng mõ, dầu hoả, khí đốt).

Ý niệm “phát triển bền vững” nhấn mạnh đến khả năng phát triển kinh tế liên tục lâu dài, không gây ra những hậu quả tai hại khó khôi phục ở những lãnh vực khác, nhất là thiên nhiên.  Phát triển mà làm hủy hoại môi trường là một phát triển không bền vững, phát triển mà chỉ dựa vào những loại tài nguyên có thể cạn kiệt (mà không lo trước đến ngày chúng cạn kiệt thì phải làm sao) là một phát triển không bền vững.  Có người còn thêm rằng lối phát triển tùy thuộc quá nhiều vào ngoại lực (như FDI) cũng là khó bền vững, vì nguồn ấy có nhiều rủi ro, không chắc chắn. Nói ngắn gọn, phát triển là không bền vững nếu nó thật “nóng” trong một thời kỳ, song cái “nóng” đó không thể giữ lâu, nền kinh tế chóng rơi vào khủng hoảng, hay ít nhất cũng chậm lại trong tương lai.

Không thể chối cãi: “phát triển bền vững” là một ý niệm hữu ích, đáng lưu tâm. Nhưng chỉ để ý đến liên hệ giữa môi trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên, và tăng trưởng kinh tế là chưa khai thác hết sự quan trọng của ý niệm “bền vững”.  Ý niệm ấy sẽ hữu ích hơn nếu được áp dụng vào hai thành tố nòng cốt khác của phát triển, đó là văn hoáxã hội.

Để rõ ràng, cần khẳng định một điều ai cũng biết, là văn hoá và xã hội phải nằm trong tiêu đích phát triển: một quốc gia thật sự phát triển không chỉ là quốc gia trong đó người dân có thu nhập cao, mà còn là một quốc gia có đời sống văn hoá sung mãn, một quốc gia mà cộng đồng có những đức tính làm “ấm lòng” thành viên xã hội đó.   Điều khó thấy hơn là chính sự phát triển kinh tế bền vững đòi hỏi sự bền vững trong phát triển xã hộivăn hoá, vì văn hoá và xã hội còn có vai trò thành tố của phát triển kinh tế.

Continue reading

XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI NHÀ Ở VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỀU CÓ GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

CHÂU VŨ

Trong thời gian vừa qua, các Cơ quan Thi hành án dân sự thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu gặp một số khó khăn vướng mắc trong việc xác định thời điểm chuyển quyền sử dụng đất để xác định tài sản này có thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án nhằm có biện pháp xử lý ngăn chặn phục vụ cho công tác kê biên cưỡng chế thi hành án, cụ thể:

I. Đối với quyền sử dụng đất:

Thực tiễn thời gian qua, có nhiều trường hợp người phải thi hành án đứng tên chủ sử dụng quyền sử dụng đất và họ tiến hành chuyển nhượng cho người thứ ba một cách hợp pháp trước khi có bản án, quyết định của toà án bằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng viên công chứng và không bị ngăn chặn bởi một cơ quan chức năng nào. Đến thời điểm ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành, chấp hành viên tiến hành xác minh tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, được biết đất vẫn đứng tên chủ sử dụng là người phải thi hành án và người phải thi hành án chưa làm thủ tục đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất để chuyển tên chủ sử dụng đất cho người nhận chuyển nhượng theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được công chứng, việc xác định thời điểm chuyển quyền sử dụng đất trong trường hợp này có hai quan điểm khác nhau, gây vướng mắc, cụ thể:

Quan điểm thứ 1: Căn cứ khoản 1, 2 Điều 689 của Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Việc chuyển quyền sử dụng đất được thực hiện thông qua hợp đồng và phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật” và đây cũng chính là căn cứ để xác lập quyền sử dụng đất được quy định tại khoản 3 Điều 688 – Bộ luật Dân sự năm 2005. Đây cũng là quan điểm của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, bởi thời điểm người phải thi hành án chuyển nhượng đất cho người thứ ba là trước khi có bản án, quyết định của toà án; việc chuyển nhượng đất là hợp pháp có lập hợp đồng chuyển nhượng và có công chứng. Việc chuyển nhượng không bị cơ quan có thẩm quyền nào ngăn chặn do đó hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng có giá trị pháp lý và kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng thì quyền sử dụng đất đã thuộc về người thứ ba (người nhận chuyển nhượng hợp pháp), còn việc đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất chỉ là thủ tục để người thứ ba đăng ký quyền sở hữu tài sản cho mình và có các quyền năng theo quy định của Bộ luật Dân sự (quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt).

Continue reading

MỘT SỐ QUI ĐỊNH VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ NHỮNG VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG

LG. NGUYỄN THỊ HẰNG NGA – Chi hội luật gia Công ty luật số 5 Quốc gia

Việc xác định đúng thời hiệu khởi kiện có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động giải quyết tranh chấp của cơ quan Tòa án cũng như trong hoạt động tư vấn pháp luật của các Luật sư. Nhiều vụ việc trên thực tiễn là những bài học “đau đớn” cho các đương sự vì không nhận thức đầy đủ về ý nghĩa của thời hiệu khởi kiện. Tuy nhiên, quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự còn nhiều điểm bất cập, tạo nên nhiều cách hiểu khác nhau, gây khó khăn cho thực tiễn áp dụng, ảnh hưởng không ít đến quyền lợi của đương sự.

Bài viết này chúng tôi trao đổi một số vấn đề về các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện, cách tính thời hiệu, những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng (chủ yếu tiếp cận đối với việc giải quyết tranh chấp kinh doanh- thương mại)[1].

Điều 159 BLTTDS quy định thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện yêu cầu tòa giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà đương sự được quyền yêu cầu cơ quan tòa án giải quyết vụ việc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Quy định về thời hiệu khởi kiện buộc các đương sự phải ý thức được việc bảo vệ quyền lợi của mình và sớm có yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết, tránh tình trạng khởi kiện tuỳ hứng.

Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi kiện, thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm. Như vậy, để xác định đúng thời hiệu khởi kiện, phải xác định được quan hệ tranh chấp đó có được văn bản pháp luật nào khác quy định về thời hiệu khởi kiện hay không. Điều quan trọng thứ hai là phải xác định đúng ngày nào được coi là ngày có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm để bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện.

Continue reading

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HỢP ĐỒNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI CỦA DOANH NGHIỆP VÀ MỘT SỐ LIÊN HỆ VỚI HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG

TS. LÊ VĂN LUYỆN – Học viện Ngân hàngTHS. & THS. ĐÀO NGỌC CHUYỀN – Văn phòng Luật sư Đào và Đồng nghiệp

Nói đến hợp đồng kinh doanh thương mại, không thể không nói đến điều khoản cơ bản về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Đây là sự thỏa thuận của các bên trong giao dịch dân sự, kinh doanh thương mại, đồng thời, cũng là các chế định của pháp luật; nó tồn tại đã lâu nhưng cũng còn nhiều bất cập mà doanh nghiệp và những người làm công tác pháp lý nói chung và luật sư nói riêng còn một số điểm phải trao đổi làm rõ.

Vấn đề này không chỉ dừng tại đó, mà còn có ảnh hưởng đến các bên có liên quan, trực tiếp là các ngân hàng thương mại (NHTM) và tổ chức tín dụng (TCTD) khác tài trợ vốn cho doanh nghiệp. Nếu như khách hàng bị thiệt hại do đối tác gây ra, không được bồi thường kịp thời và giải quyết vi phạm đó kéo dài, mà giá trị hợp đồng đó có sự tài trợ vốn, cho vay của NHTM,… thì doanh nghiệp rất dễ rơi vào tình trạng nợ quá hạn, nợ khó đòi,… vì dòng tiền quay vòng không đúng dự kiến, nợ NHTM không được trả đúng hạn. Do đó NHTM, trực tiếp là cán bộ tín dụng cần có nhận thức đầy đủ hơn để giải quyết mối quan hệ với khách hàng cũng như xử lý nợ khi phát sinh liên quan đến hợp đồng có tranh chấp bồi thường. Bên cạnh đó, các TCTD cần nắm rõ vấn đề này khi giải quyết tranh chấp, bồi thường, vi phạm với đối tác trong hoạt động của mình.

Về lý luận và khoa học pháp lý: Pháp luật quy định về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại như sau:

Theo các quy định của pháp luật hiện hành: (i) Điều 422 Bộ luật Dân sự năm 2005 cho phép các bên trong giao dịch dân sự được thoả thuận về mức phạt vi phạm; có thể thoả thuận vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm. (ii) Luật Thương mại quy định: Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm (Điều 301)… Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm (Điều 302). (iii) Luật Xây dựng quy định: Đối với công trình xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước, mức thưởng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng làm lợi, mức phạt không vượt quá 12% giá trị hợp đồng bị vi phạm (Điều 110).

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: KHÓ LẤY Ý KIẾN CON TRẺ KHI LY HÔN

HOÀNG YẾN

Theo quy định, khi giải quyết án ly hôn, tòa phải hỏi ý kiến của con trẻ từ chín tuổi trở lên xem các em muốn sống với cha hay mẹ. Thủ tục bắt buộc này trên thực tế đã gặp vướng mắc khi các bậc cha mẹ không hợp tác.

Tại khoản 2 Điều 92 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Lấy ý kiến là cần thiết      

Nhiều chuyên gia pháp lý cho rằng việc lấy ý kiến của con cái là cần thiết. Khi cha mẹ ly hôn, các em đã mất đi một điểm tựa quan trọng nhất là mái ấm gia đình nên rất cần hỏi ý kiến để các em nói lên tâm tư, nguyện vọng của mình. Điều này cũng phù hợp với tinh thần của Điều 12 Công ước Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em mà Việt Nam là quốc gia thành viên. Theo đó: Các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho trẻ em có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình, được quyền tự do phát biểu những quan điểm đó về tất cả vấn đề có tác động đến trẻ em, những quan điểm của các em được coi trọng một cách thích ứng với tuổi và độ trưởng thành của các em.

Cha mẹ không hợp tác

Thủ tục lấy ý kiến của con trẻ là bắt buộc trong giải quyết án ly hôn. Nếu thiếu thủ tục này án sẽ bị tòa cấp trên tuyên hủy. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử của ngành tòa án đã gặp nhiều vướng mắc.

Không ít tòa đau đầu vì các bậc cha mẹ không hợp tác, không đưa con cái tới để tòa lấy ý kiến của các em. Lý do chính là rất nhiều người không muốn cho con cái biết họ ly hôn, sợ các em bị tổn thương về tâm lý. Ra tòa, họ cương quyết ly hôn nhưng một, hai mong tòa xem xét không cho con cái biết.

Continue reading

NÊN THAY ĐỔI CÁCH NHÌN VỀ HIỆN TƯỢNG PHÁ SẢN

Drowning In Debt ConceptLS. LÊ TRỌNG DŨNG – Công ty Luật TNHH InvestPro & HoàngGiao

Khi hiệu quả kinh tế của tập đoàn Vinashin được đưa ra mổ xẻ, nhiều người cho rằng thực chất doanh nghiệp này đã phá sản nhưng chủ sở hữu không tuyên bố phá sản. Có thể do chủ sở hữu e ngại từ “tuyên bố phá sản” nên không tiến hành các thủ tục phá sản mà ngầm hiểu đã “phá sản” để tiến hành các biện pháp tái cơ cấu.

Dù có tuyên bố hay không tuyên bố, một khi đã lâm vào tình trạng kinh doanh thua lỗ, công nợ dày đặc mà không thanh toán được, thì doanh nghiệp đó vẫn phá sản.

Vì sao e ngại phá sản trong doanh nghiệp nhà nước?

Khi một doanh nghiệp nhà nước lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, chủ sở hữu có quyền tiến hành các thủ tục tuyên bố phá sản để mọi khoản nợ được ngừng trả, tạo cơ hội ổn định tình hình tài chính, giúp tổ chức, sắp xếp lại doanh nghiệp.

Thậm chí, điều 15, điều 16 Luật Phá sản 2004 quy định rất rõ là, khi nhận thấy doanh nghiệp của mình lâm vào tình trạng phá sản thì chủ sở hữu có nghĩa vụ tiến hành thủ tục phá sản. Tuy nhiên, nghĩa vụ này thường không được chủ sở hữu thực hiện một cách nghiêm chỉnh.

Lý do mà cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương e ngại tuyên bố phá sản doanh nghiệp của mình thường vì lo ngại sự sụp đổ dây chuyền và thất nghiệp hàng loạt, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người lao động và ảnh hưởng tới sự ổn định xã hội. Bên cạnh đó, do bệnh thành tích, các chủ sở hữu lo ngại nếu doanh nghiệp của mình bị coi là phá sản thì danh dự, uy tín bị ảnh hưởng, việc quản lý, điều hành yếu kém bị phơi bày.

Cách thức mà họ lựa chọn là không tuyên bố phá sản, tự mình tái cơ cấu bằng cách cấp vốn bổ sung, hoãn nợ hoặc xóa nợ, phân tách, sáp nhập, cho thuê, khoán… Hàng loạt hành động đó thực chất chính là sự can thiệp hành chính vào việc giải quyết tình trạng “phá sản” của doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KÊ BIÊN PHẦN VỐN GÓP THEO ĐIỀU 92 LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008

HỒ QUÂN CHÍNH – Chi cục thi hành án dân sự quận Thủ Đức

1. Sự hình thành phần vốn góp:

Theo giải thích tại khoản 4 Điều 4 luật doanh nghiệp năm 2005 (gọi tắt là LDN) thì “Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty. Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty”. Như vậy, tài sản để tham gia vào việc góp vốn là rất đa dạng. Tuy nhiên, để tài sản góp vốn trở thành phần vốn góp, thì những tài sản trên phải được định giá. Cụ thể, tại khoản 1 Điều 30 LDN quy định “Tài sản góp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá”. Từ những quy định trên cho thấy có sự phân biệt rõ ràng giữa phần vốn góptài sản góp vốn.

Tại khoản 5 Điều 4 LDN giải thích về phần vốn góp như sau: “Phần vốn góp là tỷ lệ vốn mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công ty góp vào vốn điều lệ”. Theo các quy định của pháp luật, chủ sở hữu phần vốn góp (người góp vốn) có các quyền sau:

– Quyền tài chính: được phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp tương ứng với tỷ lệ giá trị phần vốn góp; gánh chịu phần lỗ tương ứng với tỷ lệ giá trị phần vốn góp nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, khi đang hoạt động cũng như khi doanh nghiệp kết thúc hoạt động; nhận phần tài sản còn lại tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp sau khi đã thanh toán hết các nghĩa vụ của doanh nghiệp khi doanh nghiệp bị giải thể, phá sản.

– Quyền phi tài chính như quyền biểu quyết, quyền thông tin.

Ngoài ra, phần vốn góp với tư cách là một tài sản có giá trị tiền tệ nên chủ sở hữu được tự do chuyển giao trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên, việc chuyển giao này bị hạn chế bởi một số quy định theo LDN nhằm bảo đảm sự hoạt động lành mạnh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Continue reading