BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ NHỎ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

PGS.TS. LÊ HOÀNG NGA – Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước

Ngày 9/9/2010, Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2010 – 2011, trong đó Việt Nam được thăng hạng 16 bậc từ vị trí 75/133 lên vị trí 59/139. Mặc dù vậy, có nhiều yếu tố Việt Nam ở gần cuối bảng xếp hạng của WEF như mức độ bảo vệ nhà đầu tư đứng thứ 133/139, gánh nặng thủ tục hành chính (120/139), cân bằng ngân sách (126/139)… Chính mức độ bảo vệ nhà đầu tư thấp cũng là một yếu tố khiến Việt Nam bị giảm điểm trong xếp hạng môi trường kinh doanh do Tạp chí Forber công bố mới đây. Ở yếu tố này trong xếp hạng của Forber, Việt Nam xếp 125/128 nền kinh tế được đưa vào báo cáo.

Trong các Báo cáo Môi trường kinh doanh được WB và IFC công bố thời gian qua, Việt Nam thường xuyên đứng cuối bảng về mức độ bảo vệ nhà đầu tư. Bản Báo cáo đánh giá chỉ số mức độ bảo vệ nhà đầu tư được tổng hợp từ 3 chỉ số: mức độ công khai thông tin, trách nhiệm của thành viên HĐQT (trách nhiệm cá nhân) và mức độ dễ dàng mà cổ đông có thể kiện (khả năng cổ đông có thể kiện thành viên HĐQT và Ban điều hành khi quản lí sai trái) (xem hộp 1). Theo chỉ tiêu bảo vệ nhà đầu tư, Việt Nam tiếp tục nằm ở nhóm cuối, đứng thứ 171/183 trong năm 2009 và 172/183 trong năm 2010.

Rõ ràng bảo vệ nhà đầu tư nói chung và nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán (TTCK) nói riêng là vấn đề nóng bỏng, cấp thiết cần có giải pháp thích hợp để nâng cao thứ hạng và cải thiện hình ảnh của Việt Nam trước con mắt nhà đầu tư nước ngoài.

Hộp 1:

Theo các báo cáo của WB và IFC về môi trường kinh doanh của các quốc gia và vùng lãnh thổ, mức độ bảo vệ nhà đầu tư biểu hiện ở 3 giác độ:

Mức độ công bố thông tin biểu hiện qua: (1) những hoạt động mà công ty có đủ thẩm quyền ra quyết định; (2) bắt buộc công bố thông tin tức thời về giao dịch có giá trị lớn hơn 10% tổng tài sản của công ty; (3) công bố thông tin trong báo cáo thường niên; (4) ban giám đốc báo cáo Hội đồng quản trị về giao dịch; (5) yêu cầu một kiểm toán độc lập kiểm tra giao dịch trước khi thực hiện.

Trách nhiệm của ban giám đốc thể hiện qua: (1) cổ đông có thể buộc tội giám đốc chịu trách nhiệm về thiệt hại do giao dịch gây ra; (2) Cổ đông có thể buộc người có trách nhiệm trong công ty chịu trách nhiệm về thiệt hại do giao dịch gây ra; (3) Tòa án có thể làm vô hiệu các giao dịch khi các cổ đông thắng kiện; (4) Giám đốc phải bồi thường các thiệt hại cho công ty khi cổ động thắng kiện; (5) Giám đốc phải hoàn lại lợi nhuận từ giao dịch khi cổ đông thắng kiện; (6) Giám đốc có thể bị phạt tiền hoặc bị giam khi bị kết tội; (7) Cổ đông có thể trực tiếp hoặc gián tiếp kiện lên tòa án đối với các thiệt hại gây nên cho công ty.

Mức độ dễ dàng để cổ đông có thể kiện ra tòa án thể hiện qua: (1) Các loại giấy tờ liên quan đến giao dịch cung cấp cho cổ đông tại phiên tòa; (2) Cổ đông có thể trực tiếp giám sát bị đơn và nhân chứng tại phiên tòa; (3) Cổ đông có thể có thông tin từ bị đơn mà không cần nêu cụ thể từng loại giấy tờ; (4) Cổ đông nắm giữ 10% cổ phiếu hoặc ít hơn có thể yêu cầu cơ quan điều tra của chính phủ điều tra về giao dịch mà không cần kiện ra tòa án; (5) Cổ đông nắm giữ 20% vốn hoặc ít hơn có quyền thẩm tra về giao dịch trước khi kiện ra tòa án; (6) Tiêu chuẩn về chứng cớ đối với các vụ án dân sự thấp hơn các chứng cứ về án hình sự.

Tất cả 3 tiêu chí trên được chấm điểm từ 1-10, số điểm càng cao thì mức độ bảo vệ nhà đầu tư càng cao. Mức độ bảo vệ nhà đầu tư tổng hợp là trung bình cộng của 3 điểm thành phần này.

(Nguồn: vneconomy.com.vn)

Continue reading

QUAN NIỆM THẾ NÀO VỀ VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC?

PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, nghĩa là có tài sản và có năng lực tự chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước xã hội vì vậy doanh nghiệp, ở góc nhìn của luật chủ thể, thực sự là một con người. Mà đã được nhân cách hóa, thì doanh nghiệp phải chịu sự chi phối của nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể trước pháp luật, một trong những nguyên tắc tạo thành nền tảng của một hệ thống pháp lý lành mạnh, vốn được coi là điều kiện cần cho sự bảo đảm công bằng, trật tự trong xã hội có tổ chức.

Chủ trương trao cho doanh nghiệp nhà nước vai trò chủ đạo trong nền kinh tế có định hướng phải tuân thủ nguyên tắc đó. Điều này có nghĩa là dứt khoát không thể tạo ra, bên cạnh một khung pháp lý dùng chung cho các doanh nghiệp loại khác, một hệ thống pháp lý riêng cho doanh nghiệp nhà nước với nhiều ngoại lệ mang tính ưu đãi, đặc quyền. Người làm luật có một thời lại chọn cách đối xử phân biệt ấy; thời gian sau nhận ra sai lầm, sửa. Bởi vậy mới có Luật Doanh nghiệp thống nhất năm 2005, kèm theo đó là một lộ trình ngưng áp dụng Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003, gập ghềnh, phức tạp và tốn kém.

Vả lại, việc thống nhất chế độ pháp lý chỉ mới là điều kiện cần. Trên thực tế tình trạng bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp vẫn tồn tại dai dẳng. Ví dụ, trong mối quan hệ với các thiết chế công và cả với các ngân hàng, thế của doanh nghiệp nhà nước vẫn tỏ ra vượt trội so với các doanh nghiệp không phải nhà nước: gọi cửa dễ hơn, giao tiếp thân quen hơn, thủ tục gọn hơn, điều kiện giao kèo thông thoáng thuận lợi hơn…

Dứt khoát không thể tạo ra, bên cạnh một khung pháp lý dùng chung cho các doanh nghiệp loại khác, một hệ thống pháp lý riêng cho doanh nghiệp nhà nước với nhiều ngoại lệ mang tính ưu đãi, đặc quyền.

Continue reading

NÊN CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC NHƯ THẾ NÀO?

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là một sáng tạo có ý nghĩa hết sức quan trọng của Đảng CSVN và quyết định tương lai đất nước. Trong nền kinh tế ấy, ắt phải có một yếu tố nào đó giữ vai trò chủ đạo định hướng cho thị trường không đi trệch con đường XHCN. Vì thế, như một lẽ tự nhiên, kinh tế Nhà nước phải đảm nhận vai trò chủ đạo này với công cụ là các doanh nghiệp nhà nước (DNNN).

Theo các thông tin, văn kiện chính thức thì các DNNN của ta được thành lập để:

– “Thực hiện định hướng XHCN, KT nhà nước là chủ đạo”.

Tuy nhiên, trong thực tiễn: Thế giới chưa có một nền KTTT theo định hướng XHCN nào thành công, hay đang thực hiện có kết quả để ta so sánh rút kinh nghiệm cả. Mặc dù vậy, nhiều nước phát triển đã xây dựng thành công một nền KTTT trong đó các vấn đề xã hội do hệ quả tiêu cực của thị trường tự do gây ra được giải quyết hài hòa với mục đích không phải lợi nhuận, mà là bảo đảm cuộc sống có phẩm giá cho mọi người (Đây chắc cũng phải là mục tiêu của CNXH mà chúng ta mong muốn). Đó là nền Kinh tế Thị trường Xã hội (điển hình là CHLB Đức). Trong nền kinh tế này không có kinh tế Nhà nước (theo nghĩa hoạt động kinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận), cũng không có việc ưu tiên một thành phần kinh tế nào để nó thành chủ đạo; Nhà nước tham gia hoạt động kinh tế theo những nguyên tắc khác hẳn chúng ta.

– “Kinh doanh trong những lĩnh vực thiết yếu để phục vụ nền KT và giữ độc lập, tự chủ về kinh tế“.

Thực tiễn: Sự phát triển của đại đa số các quốc gia đều chứng minh hoạt động của DN tư nhân mới là có hiệu quả nhất trong đa số các lĩnh vực thiết yếu của nền KT quốc dân. Trong thời đại Toàn cầu hóa, không có bất kỳ quốc gia nào có khả năng- vì vậy cũng không đặt thành nhiệm vụ- giữ độc lập và tự chủ về kinh tế theo cách hiểu truyền thống về độc lập tự chủ của chúng ta.

Continue reading

THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ MẠO HIỂM CHO ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM

PGS. TS. PHAN THỊ BÍCH NGUYỆT

Đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế là vấn đề không nên xem nhẹ trong chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam. Thực tế có rất nhiều nhân tố tác động đến vấn đề đổi mới công nghệ, trong đó năng lực tài chính là một trong những cản ngại không nhỏ. Đặc biệt trong bối cảnh kinh tế không mấy sáng sủa hiện nay. Một thực tế diễn ra làm cho mọi ý tưởng đổi mới có nguy cơ  vào tình trạng “án binh bất động ”. Tuy nhiên nếu biết tìm tòi và nắm bắt cơ hội, trên nền tìm kiếm đượcnguồn tài chính thích hợp có thể hỗ trợ cho các hoạt động chấp nhận rủi ro như ngồn vốn đầu tư mạo hiểm thì mục tiêu đổi mới và phát triển  công nghệ đặt ra có thể sẽ rất thành công.

1. Vai trò của đổi mới công nghệ đối với sự tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là một bộ phận quan trọng của đời sống kinh tế xã hội và là một trong những chỉ tiêu then chốt để đánh giá sự phát triển của một quốc gia. Có nhiều yếu tố tác động đến sự tăng trưởng của nền kinh tế và tùy vào từng giai đoạn lịch sử các yếu tố đó được ưu tiên xem xét ở các mức độ khác nhau. Nếu như trước đây tăng trưởng chủ yếu dựa vào tỷ lệ tiết kiệm, tích lũy tư bản và vốn vật chất, thì ngày nay tăng trưởng chủ yếu dựa vào nguồn nhân lực, công nghệ, thể chế chính trị và truyền thống văn hóa trong đó tiến bộ của khoa học công nghệ chính là động lực của tăng trưởng kinh tế, của tăng năng suất lao động và cải thiện lâu dài mức sống .

Có nhiều mô hình khác nhau đề cập đến mối quan hệ giữa phát triển công nghệ với tăng trưởng kinh tế. Theo hàm số sản xuất Cobb-Douglas, một hàm sản xuất đơn giản thường xuyên được xét đến để mô tả các khả năng hợp lý của nền kinh tế, thì sản lượng Y = A K a L (1-a) , với A là yếu tố thay đổi công nghệ, K là dòng chảy của các dịch vụ vốn từ lượng vốn, L là số ngày làm việc của lao động, a là tỷ trọng đóng góp của vốn và (1-a) là phần đóng góp từ lao động. Trong mô hình A là tham số quan trọng và cũng là một số đo tốt về nhân tố năng suất tổng hợp sản xuất (TFP). Có nhiều yếu tố làm TFP tăng trưởng như: chất lượng của lao động và vốn, tiến bộ công nghệ, mức độ cạnh tranh, lợi ích kinh tế nhờ quy mô, việc tái phân bổ nguồn lực, chính sách kinh tế, trong đó yếu tố công nghệ đóng vai trò rất quan trọng.

Continue reading

SỬA ĐỔI ĐỂ GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM BẢO ĐẢM TÍNH KHÁCH QUAN NHẤT

PHÙNG HƯƠNG

Chế định giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng hình sự là nhằm sửa chữa những sai lầm, thiếu sót trong hoạt động xét xử hoặc phát hiện những tình tiết mới làm thay đổi nội dung bản án, quyết định đã có hiệu lực trên cơ sở có kháng nghị của người có thẩm quyền. Tuy nhiên, những quy định liên quan đến chế định giám đốc thẩm, tái thẩm hiện còn bộc lộ nhiều vấn đề cần thiết phải nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi để phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp.

Không phải là cấp xét xử thứ 3

Mặc dù các quy định của pháp luật tố tụng hình sự đã xác định cơ chế 2 cấp xét xử vừa bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, vừa là điều kiện để Tòa án cấp trên trực tiếp khắc phục những sai sót có thể có của Tòa án cấp sơ thẩm. Song trên thực tế cơ chế này cũng chưa bảo đảm chắc chắn mọi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp hoàn toàn đúng . Và khi phát hiện sai lầm, hoặc tình tiết mới thì các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án sẽ được xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Như vậy, giám đốc thẩm và tái thẩm được hiểu không phải là một cấp xét xử mà là một thủ tục đặc biệt, không phải là cấp xét xử thứ 3. Do đó, bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực được xem xét lại trên cơ sở có kháng nghị của người thẩm quyền khi phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án hoặc phát hiện các tình tiết, chứng cứ mới mà các tình tiết, chứng cứ mới này chưa được xem xét và đánh giá ở trong các giai đoạn xét xử trước. Tuy nhiên, liên quan đến giám đốc thẩm, tái thẩm còn nhiều vấn đề nảy sinh từ thẩm quyền giám đốc thẩm, số lượng các bản án, quyết định được xem xét theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm đến quá trình xem xét các bản án, quyết định theo trình tự này.

Phó chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Luật sư Phạm Hồng Hải cho rằng, để xem xét bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo trình tự tái thẩm được đúng đắn, cần thiết phải điều tra, xác minh và thẩm định các tình tiết mới được phát hiện và theo Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì chỉ có Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp mới có thẩm quyền kháng nghị theo trình tự tái thẩm.

Continue reading