KÊU GỌI ĐỨC TRỊ SẼ LÀM SUY YẾU VIỆC XÂY DỰNG NỀN PHÁP TRỊ

CẢNH THÁI

Xưa nay ai cũng biết phải “tu thân, tề gia” rồi mới “trị quốc, bình thiên hạ” được! Thế nên phải rèn luyện bản thân làm đầu. Lo học hành phấn đấu đến lúc ông bà cha mẹ gọi là “thành tài”, nghĩa là có chút ít chữ nghĩa hay bằng cấp lận lưng như ngày xưa là tú tài, cử nhân, còn ngày nay có thể là đại học, thạc sĩ, tiến sĩ… để còn mong tìm được một vị trí xã hội xứng đáng hay tối thiểu cũng là cơm no áo ấm.

Từ phương Đông nước Việt

Nền giáo dục chịu ảnh hưởng Nho giáo luôn trọng bằng cấp, xem bằng cấp là đích đến hay câu nói cửa miệng của cha mẹ, ông bà thường động viên con cháu “ráng học thành tài!” Luôn răn mình và răn đời kêu gọi sống tốt, xây dựng một tấm gương tốt, đạo đức tốt để thế hệ sau noi theo.

Điều này thật thịnh hành ở các quốc gia phương Đông trong suốt quá trình lịch sử đã hình thành chủ nghĩa sùng bái các cá nhân có đạo đức tốt, có quá trình phấn đấu học tập và rèn luyện công phu, tu thân dưỡng tánh hay tu hành đắc đạo trở thành các cá nhân xuất chúng và được suy tôn thành các lãnh tụ hay thánh nhân để mọi người phải ngưỡng mộ.

Thế nhưng, một vấn đề đặt ra là, các “ngôi sao” này có thể luôn thực sự chói sáng trong mọi lĩnh vực chăng? Họ có thể mắc sai lầm không? Họ sẽ luôn hoàn hảo trong các suy nghĩ, quyết định và hành động? Câu trả lời chắc ai cũng đã rõ! Không ai hoàn hảo và không thể mắc sai lầm trong đời mình.

Nền đức trị được hình thành

Lâu dài, hình thành phong cách cổ súy cho việc lấy đức trị làm trọng. Vậy điều gì đã xảy ra? Đức trị có gì sai? Thật ra, đức trị cổ vũ cho các cá nhân sống tốt, phấn đấu làm điều tốt. Lấy đức trị thân. Học sinh, sinh viên nên học giỏi, cố gắng học tập và rèn luyện để đạt tới những đỉnh cao trong khoa học. Động lực để đạt được các bằng cấp cao hơn, để chứng tỏ với bản thân, gia đình và xã hội là đáng trân trọng. Các quan chức nên có đạo đức tốt để đối đãi với dân, hiểu rõ vai trò “dân làm gốc”. Vợ chồng con cái trên thuận dưới hòa là điều nên cổ súy… Thế nhưng, đối với bình diện một quốc gia có nên lấy đức trị dân? Có nên cổ vũ hay suy tôn, sùng bái lãnh tụ chăng? Điều này là câu hỏi lớn.

Continue reading

GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP–ĐIỂM “NGHẼN” CỦA NGÀNH TƯ PHÁP

PHÙNG HƯƠNG

Mặc dù sau 5 năm Pháp lệnh Giám định tư pháp đi vào cuộc sống, nhưng công tác giám định tư pháp vẫn đang được coi là điểm “nghẽn” của ngành tư pháp với nhiều vấn đề nổi cộm từ cơ chế, con người đến chất lượng của các kết quả giám định.

Thiếu…

Theo Báo cáo của Cơ quan điều tra, Bộ Công an và Cơ quan cảnh sát điều tra của 60 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, từ ngày 1.1.2005 đến tháng 8.2010, cơ quan điều tra trưng cầu khoảng 439.479 vụ giám định trên các lĩnh vực. Giám định pháp y được triển khai ở 3 ngành y tế, công an và quốc phòng; trong số các lĩnh vực giám định ở nước ta, hoạt động giám định pháp y chiếm số lượng vụ việc lớn nhất. Trung bình mỗi năm, các tổ chức pháp y nhận và thực hiện giám định trên 32.000 vụ việc. Giám định pháp y trong ngành công an và quốc phòng đều do các giám định viên pháp y chuyên trách đảm nhiệm.
Sau 5 năm triển khai thi hành Pháp lệnh giám định tư pháp – văn bản được đánh giá là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về giám định tư pháp, góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng trong tiến trình cải cách tư pháp đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Đó là hệ thống tổ chức giám định tư pháp trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự ở Trung ương và địa phương được củng cố, kiện toàn một bước, đội ngũ giám định viên tư pháp đã được tăng cường, cơ sở vật chất, phương tiện công tác và các điều kiện cần thiết khác phục vụ cho hoạt động giám định đã bước đầu được chú trọng, hoạt động quản lý nhà nước được tăng cường và đạt được những kết quả nhất định.
Theo thống kê của Bộ Tư pháp, tính đến nay, tổng số giám định viên được bổ nhiệm và cấp thẻ là 3.115 người trên nhiều lĩnh vực khác nhau như pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự, tài chính – kế toán, văn hóa, xây dựng, tài nguyên, môi trường, giao thông vận tải, nông lâm ngư nghiệp, khoa học kỹ thuật và một số lĩnh vực khác. Trong đó có khoảng 722 giám định viên chuyên trách, chủ yếu là giám định viên kỹ thuật hình sự chiếm 582 người, giám định viên pháp y khoảng 100 người, còn lại giám định viên pháp y tâm thần. So với trước khi ban hành Pháp lệnh, đội ngũ giám định viên tư pháp có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng, nhất là giám định viên tài chính – kế toán có tốc độ tăng nhanh nhất. Ngoài các giám định viên tư pháp được bổ nhiệm và cấp thẻ, có còn 237 người giám định tư pháp theo vụ việc đã được Bộ Tư pháp lập và công bố danh sách. Người giám định tư pháp theo vụ việc chủ yếu là các chuyên gia ở các lĩnh vực mới chưa có giám định viên tư pháp như công nghệ công tin, điện lực, thương mại…

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC: BỊ TÒA KÊ BIÊN LỐ, KIỆN SAO?

QUỲNH BĂNG – SONG NGUYỄN

Có văn bản kết luận thẩm phán làm trái pháp luật, có thiệt hại xảy ra rồi nhưng không phải trường hợp nào đương sự cũng được khiếu nại, khởi kiện để đòi bồi thường.

Từ khi Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước có hiệu lực (1-1-2010), đã xuất hiện một số vụ người dân khởi kiện tòa án đòi bồi thường vì cho rằng thẩm phán làm sai trong tố tụng dân sự, gây thiệt hại nhưng đều bị từ chối giải quyết hoặc bác đơn. Có chuyện này cũng bởi pháp luật quy định về phạm vi, điều kiện, trình tự yêu cầu bồi thường rất chặt mà không phải ai cũng biết…

Trong một vụ tranh chấp dân sự tại TAND TP Đ. (tỉnh Q.), bà H., nguyên đơn đã yêu cầu tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là phong tỏa nhà đất của bà Y.- bị đơn, do nghi ngờ bà Y. tẩu tán tài sản.

Đòi bồi thường, chỉ được một phần

Tòa tìm hiểu và được Phòng Tài nguyên và Môi trường TP thông báo nhà đất nói trên đang được bà Y. chuyển nhượng cho người khác. Thẩm phán của TAND TP Đ. bèn ra quyết định kê biên phong tỏa nhà đất của bà Y. và yêu cầu các cơ quan liên quan dừng việc chuyển nhượng.

Bà Y. khiếu nại rằng giá trị nhà đất bị phong tỏa của bà cao hơn giá trị nghĩa vụ mà bà có trách nhiệm thi hành đối với bà H. Khiếu nại này được chánh án TAND TP Đ. chấp nhận và quyết định phong tỏa tài sản của thẩm phán đã được gỡ bỏ. Sau đó, bà Y. khởi kiện hai đồng bị đơn là TAND TP Đ. và bà H. ra TAND tỉnh Q. đòi bồi thường.

Xử sơ thẩm, TAND tỉnh Q. đã không chấp thuận yêu cầu đòi bồi thường của bà Y. đối với TAND TP Đ. vì cho rằng không phù hợp với pháp luật. Với đồng bị đơn còn lại, tòa tuyên bà H. phải bồi thường cho bà Y. vì đã yêu cầu tòa ra quyết định khẩn cấp sai. Mới đây, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Đà Nẵng đã y án sơ thẩm cũng với nhận định tương tự.

Continue reading

SUY NGẪM 51

5 nốt thăng năm 2010:

1. Ngoại giao nâng Việt Nam lên một vị thế đáng kể trên trường quốc tế;

2. GS. Ngô Bảo Châu được giải Fields về toán học;

3. Vinashin là nỗi đau, nhưng cũng là cú huých tốt để Việt Nam chuyển đổi các nền tảng tư duy kinh tế và sở hữu lạc hậu;

4. Từ sự kiện con cá tra nằm trong “danh sách đỏ” của Quỹ Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (WWF), Việt Nam đã có trải nghiệm đáng kể và có được ứng xử nhanh nhạy, mạnh mẽ và thích hợp hơn trong bảo vệ lợi ích của mình;

5. Khu vực kinh tế tư nhân chiếm khoảng 48% tổng GDP của Việt Nam (45,6% tổng GDP năm 2006 ) và tạo ra 50,2% việc làm của cả nước.

5 nốt trầm năm 2010:

1. Pháp luật Việt Nam chưa theo kịp xu thế hội nhập của đất nước, khi nhà làm luật dự liệu Viện Kiểm sát có quyền tham gia 100% vụ việc dân sự và Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có quyền xem xét lại các quyết định của chính mình;

2. Kinh tế tăng trưởng cao, nhưng không theo kịp sự mất giá của đồng tiền;

3. Chính sách tiền lương cho công chức tiếp tục bất hợp lý, tạo nguy cơ có thực, đẩy công chức vào đối tượng nghèo hoặc cận nghèo nếu chỉ biết sống bằng đồng lương theo đúng nghĩa;

4. Qua sự kiện Vietnam Idol, văn hóa tôn trọng quan điểm, nhận thức của những người khác với mình dường như chưa có trong nhiều người Việt;

5. Sau những sự kiện “ồn ào”, khó có thể thấy Hà Nội đã 1000 năm tuổi.

CIVILLAWINFOR

ÁN LỆ VÀ SỰ DU NHẬP NÓ VÀO VIỆT NAM

LS. NGUYỄN NGỌC BÍCH – Công ty Luật hợp danh D.C

Nguồn gốc và ý nghĩa của án lệ

Án lệ là một từ ngữ được đưa ra vào khoảng năm 1960 tại miền Nam Việt Nam (giáo sư Vũ Văn Mẫu) khi tiếng Việt bắt đầu được dùng để dạy học tại Trường Luật Saigon.

Trong tiếng Anh nó là “precedent”, nghĩa là tiền lệ; còn trong tiếng Pháp nó là “jurisprudence”, là một sự tập hợp các phán quyết của các tòa án. Trong bối cảnh chung lúc đó, danh từ “án lệ” được dùng cho “jurisprudence” và được tác giả giải nghĩa là “đường lối giải thích và áp dụng dạng luật pháp của các tòa án về một điểm pháp lý đã được coi như thành một lệ khiến các thẩm phán có thể noi theo đó mà xét xử trong các trường hợp tương tự”.

Tuy nhiên, dù là “tiền lệ” hay “tập hợp” thì các bản án đều là chung thẩm; nghĩa là đã được các bên tranh chấp nhìn nhận và thi hành. Để hiểu đúng về “án lệ”, chúng ta sẽ xem xét nó trong khuôn khổ của hệ thống Thông luật của các nước Anglo-Saxon, tiêu biểu là Anh và Mỹ và hệ thống Dân luật của các nước Âu châu, tiêu biểu là Pháp.

Thông luật bắt đầu ở Anh, khoảng thế kỷ 13; còn Dân luật, bắt đầu từ thời La Mã cổ đại, nhưng trở thành hệ thống quy củ thì phải đến đầu thế kỷ 19 ở Pháp. Hai cái này cách nhau sáu thế kỷ và chúng cho ta thấy sự tiến hóa của loài người về tri thức trong lĩnh vực luật pháp. Lịch sử cho thấy, luật pháp – ý chí của nhà cầm quyền – chỉ thể hiện khi trong xã hội có sự tranh chấp. Thật vậy, khi người dân tranh chấp với nhau, họ đến chính quyền để nhờ phân giải. Khi ấy, chính quyền ra quyết định dựa trên một cơ sở nào đó.

Vậy thì vào thế kỷ thứ 13, luật pháp thành văn chưa có ở Anh; tranh chấp của công dân được đưa ra trước quan chưởng lý (chancellor) của triều đình. Vị này đã dựa trên tập tục, luân lý, đạo đức đang được tuân giữ trong địa phương có liên quan để xem xét sự tranh chấp và tuyên bố bản án. Để độc giả dễ hiểu tôi xin lấy thí dụ bây giờ để mô tả chuyện ngày xưa. Trước năm 2005 ở ta không có luật về chơi hụi (họ, biêu, phường), tuy nhiên trong cuộc sống người ta chơi hụi rất nhiều; vì đó là nhu cầu giúp đỡ nhau khi có người cần tiền. Khi chơi hụi, các người chơi đều biết các quy định và họ tuân giữ. Thí dụ hốt hụi, giật hụi. Đó là tập tục có sẵn trong xã hội; ở bên Anh người ta gọi là luật chung (common law). Trở lại thế kỷ 13 ở Anh, có hai người đến tòa thưa nhau về tội giật hụi. Quan tòa sẽ xem xét nội vụ và ra bản án trong đó viết là “trong tập tục chơi hụi, người nào đã hốt hụi rồi thì sau đó phải đóng đủ cho chủ hụi cho đến khi người cuối cùng đã hốt hụi chót. Bị đơn đã không làm như thế, nay tòa buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn X đồng, kèm với tiền lãi và tiền phạt”. Ta thấy, quy định về giật hụi đã có sẵn; nay tòa lấy ra và tuyên bố nó cho mọi người. Người ta gọi đó “luật do tòa quyết định” (decisional law). Trong hệ thống Thông luật, tòa án làm ra luật, bằng cách nêu lên hay tuyên bố luật chung đã có sẵn trong xã hội. Vậy là xong vụ tranh chấp thứ nhất. Lần sau, tại địa phương khác, có người cũng thưa nhau về giật hụi nữa; vị chưởng lý sẽ lấy bản án cũ ra áp dụng. Thật là thuận tiện và “chắc cú”. Và bản án trước trở thành “tiền lệ” cho bản án sau. Nguyên tắc tiền lệ trong Thông luật có nguồn gốc như thế. Có thể lúc đầu áp dụng tiền lệ là một sự thuận tiện cho thẩm phán; nhưng về sau – vô tình – nó giúp thống nhất hóa quan điểm xét xử trong những vụ án có những tình tiết giống nhau. Đi xa hơn nữa về sau này nguyên tắc ấy trở thành một mối lợi cho người dân mà chúng tôi sẽ đề cập.

Continue reading

HIỆU LỰC CỦA CHẤP NHẬN GIAO KẾT HỢP ĐỒNG THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT SO SÁNH

TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

“Chấp nhận chỉ có hiệu lực khi đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện hay tiêu chuẩn của chấp nhận”. Đây là quy tắc chung mà bất kỳ luật gia nào cũng phải thừa nhận. Nhưng có một vài sự đáp ứng điều kiện của chấp nhận rất khó đánh giá. Nên có thể có các quy chế riêng, đôi khi gây tranh luận. Chẳng hạn Unidroit cho rằng, về nguyên tắc chung, chấp nhận bằng hành động chỉ có hiệu lực khi người đề nghị được thông báo về hành động đó. Như vậy khó có thể phân biệt giữa chấp nhận bằng hành động với chấp nhận bằng các cách thức khác khi người đề nghị nhận được một thông báo “Tôi đã hành động theo đề nghị của quí ngài”? Tuy nhiên Unidroit cũng đã nhấn mạnh rằng những thông báo như vậy chỉ cần thiết nếu bản thân hành động không bao hàm sự thông báo chấp nhận trong một khoảng thời gian hợp lý1.

Chấp nhận đề nghị là giao kết hợp đồng, tuy nhiên nhất thiết phải đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định2. Hợp đồng được giao kết là hậu quả pháp lý mấu chốt và quan trọng nhất của chấp nhận. Nói cách khác, đó chính là điểm mấu chốt của hiệu lực của chấp nhận. Tuy nhiên trước tiên cần phải nghiên cứu thời điểm chấp nhận có hiệu lực và thời điểm hợp đồng được giao kết.

Thời điểm chấp nhận có hiệu lực theo pháp luật Việt Nam chính là thời điểm người đề nghị nhận được chấp nhận. Mặc dù Điều 397, khoản 1 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 không có quy định rõ ràng về thời điểm này. Song nếu giải thích nó trong mối quan hệ với các Điều 391, khoản 1 và Điều 400 của BLDS 2005, thì chúng ta có kết quả nêu trên.

Thời điểm giao kết hợp đồng giữa những người gặp mặt nhau hoặc trao đổi trực tiếp với nhau được BLDS 2005 quy định: Đối với hợp đồng giao kết bằng lời nói là thời điểm các bên đã thoả thuận về nội dung của hợp đồng; đối với hợp đồng giao kết bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản (Điều 404 khoản 3 và khoản 4). Việc giao kết hợp đồng bằng văn bản theo tinh thần của Điều khoản này cũng có thể được hiểu trong trường hợp bên này gửi cho bên kia một bản văn hợp đồng để cùng nhau trao đổi, thoả thuận nhằm đi đến ký kết, hoặc nếu chấp nhận thì ký vào và gửi lại. Đặc biệt Điều 397, khoản 2 BLDS 2005 buộc người được đề nghị phải trả lời ngay về việc có chấp nhận hay không trong trường hợp các bên trực tiếp giao tiếp với nhau qua điện thoại hoặc qua các phương tiện giao tiếp khác (chẳng hạn như “chat”), trừ khi có thoả thuận khác về thời hạn trả lời. Vì vậy có thể suy ra trường hợp được đề cập tới trong điều khoản này có thể khác với trường hợp được nói tại Điều 404, khoản 3 BLDS 2005. Tuy nhiên các điều khoản của BLDS 2005 liên quan tới hình thức và thời điểm giao kết hợp đồng có nhiều cách giải thích khác nhau. Dưới đây sẽ đề cập tới cách giải thích cần lưu ý để suy ngẫm.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 121/2010/NĐ-CP NGÀY 30 THÁNG 12 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 142/2005/NĐ-CP NGÀY 14 THÁNG 11 NĂM 2005 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ THU TIỀN THUÊ ĐẤT, THUÊ MẶT NƯỚC

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Đầu tư ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Quản lý thuế ngày 29 tháng 11 năm 2006;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Phạm vi sửa đổi, bổ sung

Nghị định này quy định việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước (sau đây gọi là Nghị định số 142/2005/NĐ-CP).

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 142/2005/NĐ-CP như sau:

1. Sửa đổi Điều 1 như sau:

"Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định thu tiền thuê đất, thuê mặt nước khi:

1. Nhà nước cho thuê đất, gồm đất trên bề mặt và phần ngầm của công trình xây dựng trên mặt đất theo quy định của Luật Đất đai.

2. Nhà nước cho thuê đất phần dưới mặt đất để xây dựng công trình ngầm nhằm mục đích kinh doanh theo quy hoạch được duyệt mà không sử dụng phần mặt đất.

3. Chuyển từ hình thức được Nhà nước giao đất sang cho thuê đất.

4. Nhà nước cho thuê mặt nước".

2. Sửa đổi điểm a, điểm c khoản 2 Điều 2 như sau:

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 120/2010/NĐ-CP NGÀY 30 THÁNG 12 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 198/2004/NĐ-CP NGÀY 03 THÁNG 12 NĂM 2004 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ THU TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Đầu tư ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Quản lý thuế ngày 29 tháng 11 năm 2006;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản ngày 29 tháng 6 năm 2009;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh sửa đổi, bổ sung

Nghị định này quy định việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất (sau đây gọi là Nghị định số 198/2004/NĐ-CP).

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 198/2004/NĐ-CP như sau:

1. Bổ sung khoản 2 và khoản 5 vào Điều 4 về căn cứ tính thu tiền sử dụng đất như sau:

"2. Giá đất tính thu tiền sử dụng đất:

a) Khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất thì giá đất tính thu tiền sử dụng đất là giá đất theo mục đích sử dụng đất được giao tại thời điểm có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; trường hợp thời điểm bàn giao đất không đúng với thời điểm ghi trong quyết định giao đất thì giá đất tính thu tiền sử dụng đất là giá đất theo mục đích sử dụng đất được giao tại thời điểm bàn giao đất thực tế.

b) Trường hợp người sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) đang sử dụng hoặc được chuyển mục đích sử dụng đất thì giá đất tính thu tiền sử dụng đất là giá đất theo mục đích sử dụng của đất khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc theo mục đích sử dụng của đất sau khi chuyển mục đích sử dụng tại thời điểm kê khai và nộp đủ hồ sơ hợp lệ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xin chuyển mục đích sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 119/2010/NĐ-CP NGÀY 30 THÁNG 12 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 105/2006/NĐ-CP NGÀY 22 THÁNG 9 NĂM 2006 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Sở hữu trí tuệ ngày 29 tháng 11 năm 2005 được sửa đổi, bổ sung ngày 19 tháng 6 năm 2009;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ như sau:

1. Sửa đổi Điều 1 như sau:

“Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về việc xác định hành vi xâm phạm, tính chất và mức độ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, xác định thiệt hại, yêu cầu và giải quyết yêu cầu xử lý xâm phạm, xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ, giám định sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.”

2. Sửa đổi khoản 1 Điều 14 như sau:

Điều 14. Yếu tố xâm phạm quyền đối với giống cây trồng

1. Yếu tố xâm phạm quyền đối với giống cây trồng có thể thuộc một trong các dạng sau đây:

a) Sử dụng vật liệu nhân giống của giống cây trồng được bảo hộ để thực hiện các hành vi quy định tại khoản 1 Điều 186 của Luật Sở hữu trí tuệ mà không được phép của chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng;

Continue reading