THỰC TIỄN TỐ TỤNG: TÒA KHỔ VÓI ĐƯƠNG SỰ “TƯNG TƯNG”

HOÀNG YẾN

Trong thực tiễn xử án dân sự có một chuyện làm ngành tòa án nhức đầu. Đó là trường hợp một bên đương sự có dấu hiệu bị tâm thần, tòa quyết định trưng cầu giám định thì người nhà của đương sự bất hợp tác. Tòa chào thua, quyền lợi chính đáng của các đương sự khác trong vụ án cũng bị ảnh hưởng.

TAND một huyện ở TP.HCM đang thụ lý một vụ tranh chấp thừa kế. Trong vụ này có ông Y. là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Sau khi niêm yết lịch xét xử, tòa mới được công an thông báo là ông Y. bị bệnh tâm thần. Gia đình ông và hàng xóm cũng xác nhận điều này.

Tòa gấp, đương sự cứ đủng đỉnh

Tòa đã yêu cầu gia đình ông Y. đưa ông đi giám định pháp y về tâm thần để tòa có căn cứ tuyên ông mất năng lực hành vi dân sự rồi cử người giám hộ.

Thế nhưng không muốn liên quan gì đến vụ tranh chấp, gia đình ông Y. đã bỏ mặc luôn. Tòa càng thúc giục họ bao nhiêu thì họ càng đủng đa đủng đỉnh bấy nhiêu. Họ viện ra đủ thứ lý do này, lý do kia để không đưa ông Y. đi giám định khiến việc giải quyết án của tòa bị ách lại cho đến nay.

Ở một vụ khác, hơn 20 năm qua, ông P. đã không thể ly hôn với người vợ mắc bệnh tâm thần. Số là ông kết hôn năm 1987, ba năm sau thì vợ chồng ông có một bé gái. Con vừa thôi nôi cũng là lúc người vợ lên cơn, bỏ nhà đi, sau đó được bên ngoại đưa về nuôi dưỡng, chữa trị.

Năm 1998, ông P. nộp đơn ra tòa xin ly hôn với lý do vợ bị bệnh tâm thần, hay nói ông lăng nhăng rồi tự tử, phá phách, chửi bới, đánh đập con cái… Tuy nhiên, tòa không chấp nhận, cho rằng người vợ chỉ bị sốc về tình cảm dẫn đến ảnh hưởng đến tinh thần chứ không phải mắc bệnh.

Continue reading →

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: KHỔ VÌ … TÒA THI ĐUA

NHÓM PHÓNG VIÊN BÁO PLTPHCM

Thực trạng ngành tòa án “ngại” thụ lý đơn kiện trong cuối mùa thi đua vì sợ mất thành tích vừa vi phạm tố tụng vừa ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của đương sự. Làm sao để chấn chỉnh được việc này?

Cho mượn tiền, đòi hoài mà người vay không trả, giữa tháng 7 vừa qua, bà N. đến tòa án một quận ở TP.HCM nộp đơn kiện đòi nợ. Cán bộ tòa nhận đơn cùng một số tài liệu, chứng cứ của bà rồi hẹn ngày bà quay lại làm việc.

Nhận đơn, không thụ lý

Đến ngày hẹn, bà N. tới tòa. Thay vì thông báo đóng tạm ứng án phí để thụ lý hay yêu cầu bổ sung chứng cứ như thông thường, cán bộ tòa lại nói bà cứ về đi, đến đầu tháng 10 quay lại.

Bà N. thắc mắc thì vị cán bộ tòa giải thích là tòa đang bận tổng kết cuối năm, công việc rất nhiều, không thể thụ lý và giải quyết kịp vụ kiện của bà. Nghe lời hứa: “Chị cứ yên tâm, đơn đã nằm đây rồi, đầu tháng 10 chị quay lại, chúng tôi sẽ thụ lý ngay”, bà N. cũng đành ra về dù trong lòng không thoải mái lắm.

Tương tự, tranh chấp di sản thừa kế, cuối tháng 7, ông K. cũng ra tòa án một quận nộp đơn kiện. Lúc đầu, cán bộ tòa nhận đơn rồi yêu cầu ông về bổ sung thêm một số chứng cứ. Ông bổ sung đầy đủ theo yêu cầu nhưng tòa vẫn không thụ lý, động viên ông chờ qua tháng 10 với lý do đang tập trung tổng kết cuối năm, “làm không xuể”.

Luật sư Nguyễn Thanh Lương (Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre) kể, vừa qua ông cũng có ba vụ kiện bị tòa trì hoãn thụ lý với những lý do khác nhau. Theo luật sư Lương, dù luật quy định người dân có quyền khiếu nại nhưng hầu như ai cũng “ngậm bồ hòn làm ngọt vì ngại chuốc lấy bất lợi lúc gõ cửa tòa”.

Sợ án quá hạn

Những trường hợp như trên xảy ra khá phổ biến trong thời điểm các tháng 7, 8, 9 hằng năm. Đây cũng là thời điểm các tòa đang bận rộn lo thống kê, tổng kết thi đua cuối năm để báo cáo cấp trên. Tuy nhiên, không phải vì quá bận rộn mà các tòa không thụ lý nổi đơn kiện của đương sự. Lý do thật của chuyện này lại là do các tòa sợ ảnh hưởng đến thành tích thi đua.

Continue reading →

PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN Ở VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

THS. NGUYỄN NGỌC MINH – Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm dầu khí Việt Nam

1. Pháp luật Việt Nam về kinh doanh bất động sản

Ở Việt Nam trong một thời gian dài, hoạt động kinh doanh BĐS (BĐS) dường như ít được pháp luật đề cập. Đó là thời kỳ mà nền kinh tế được quản lý bởi cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu, bao cấp. Trong cơ chế đó, Nhà nước trở thành một trung tâm chỉ huy trực tiếp quản lý, điều hành mọi hoạt động sản xuất – kinh doanh cũng như phân phối sản phẩm xã hội. Doanh nghiệp không có quyền tự chủ trong việc lựa chọn lĩnh vực kinh doanh, không được tự chủ về xây dựng phương án, kế hoạch kinh doanh. Mọi công đoạn của quá trình sản xuất – kinh doanh đều thực hiện theo “cây gậy” chỉ huy của Nhà nước.

Công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế nước ta đã mở ra một hiện thực hoạt động khác cho mọi loại hình doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp hoạt động đầu tư, kinh doanh BĐS. Hệ thống pháp luật đã có gần đủ các văn bản quy phạm pháp luật cho mọi hoạt động sản xuất, đầu tư, kinh doanh, trong đó có kinh doanh BĐS.

Nói đến BĐS, trước hết phải đề cập đến đất đai và nhà ở, bởi đây là hai loại BĐS chủ yếu và quan trọng nhất. Trong lĩnh vực đất đai, trước đây, do việc “xã hội hóa” đất đai một cách tuyệt đối: đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý (Điều 19 Hiến pháp 1980), nên pháp luật “đóng khung” quan hệ đất đai thông qua hành vi Nhà nước cấp đất (không thu tiền sử dụng đất) cho người dân và thu hồi đất khi họ không còn nhu cầu sử dụng. Các giao dịch về đất đai bị pháp luật nghiêm cấm. Điều 5 Luật Đất đai năm 1987 quy định “Nghiêm cấm việc mua, bán, lấn chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức, nhận đất được giao mà không sử dụng, sử dụng đất không đúng mục đích, tự tiện sử dụng đất nông nghiệp, đất có rừng vào mục đích khác, làm hủy hoại đất đai”. Còn trong lĩnh vực nhà ở, có hai hình thức sở hữu chủ yếu: sở hữu nhà nước và sở hữu của từng cá nhân. Trong thời kỳ này, giao dịch về BĐS là nhà ở chủ yếu là các giao dịch về thuê lại hoặc chuyển nhượng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; hay các giao dịch về mua bán nhà ở thuộc sở hữu tư nhân.

Continue reading →

TRANH CHẤP SỞ HỮU: KIỆN ĐÒI NHÀ, SAO TÒA KHÔNG THỤ LÝ?

MINH VY

Đương sự đã bổ sung đủ chứng cứ khởi kiện ban đầu nhưng tòa vẫn lắc đầu.

Theo hồ sơ, gần 10 năm trước, do phải đi làm ăn ở xa, không tiện về nhà nên bà H. (huyện Cần Đước, Long An) đã cho một người em ở nhờ nhà của mình.

Buộc bổ sung chứng cứ

Gần đây, bà H. đòi lại nhà nhưng người em không chịu trả. Bà đã nhờ địa phương giải quyết nhưng các lần hòa giải vẫn không thành. Em bà H. cho rằng nhà này là nhà chung của hai chị em. Sau khi chị đi, bà đã sửa chữa, xây dựng. Do vậy, người chị cần phải chia nửa nhà đất cho bà. Tuy nhiên, bà H. đã không đồng ý, yêu cầu người em phải trả lại toàn bộ.

Thỏa thuận không xong, đầu năm 2010 bà H. làm đơn khởi kiện gửi TAND huyện Cần Đước. Bà cho rằng tài sản trên của bà đã được cấp giấy chứng nhận chủ quyền. Nay bà buộc người em phải trả lại nhà, đất cho bà.

Sau khi xem xét, tòa án huyện đã trả lại đơn kiện, yêu cầu bà H. bổ sung các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện như giấy tờ có liên quan đến việc cho ở nhờ… thì tòa mới thụ lý.

Lúc này, bà H. đã báo cho tòa rằng việc bà cho người em ở nhờ chỉ thỏa thuận miệng chứ không có hợp đồng hay viết giấy tay gì cả. Do đó bà không thể cung cấp như yêu cầu của tòa. Tuy nhiên, việc tranh chấp trên đã qua hòa giải ở địa phương, đồng thời bà có đầy đủ giấy tờ chủ quyền nhà đất nên vụ kiện của bà đã đủ điều kiện để thụ lý, giải quyết.

Thế nhưng sau đó tòa huyện cũng vẫn trả lại đơn với lý do tương tự như đã trả lại đơn lần trước.

Vẫn không thụ lý

Không đồng ý với việc trả đơn, bà H. đã khiếu nại lên chánh án tòa án huyện. Lãnh đạo tòa đã bác khiếu nại, giữ nguyên thông báo trả đơn. Bà H. khiếu nại đến chánh án TAND tỉnh Long An.

Continue reading →

NGƯỜI VIỆT CÓ TRUYỀN THỐNG BẤT TUÂN PHÁP LUẬT?

THS. ĐINH THẾ HƯNG – Viện Nhà nước và Pháp luật

  Dân hai lăm triệu ai người lớn

Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con.(Tản Đà)

Cách đây vài năm không ít người Trung Quốc đã từng bị sốc khi cuốn “Người Trung Quốc xấu xí” của nhà văn Bá Dương ra đời. Sốc là phải thôi bởi từ lâu người ta đã quá quen với “những từ có cánh” để cho “cả nhà đều vui” khi nói về dân tộc mình .Thói thường “tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại” là cách ứng xử đã trở thành chuẩn mực giữa người với người và giữa mình với chính mình. Thế nhưng, một dân tộc mạnh phải biết nhìn thấy và dũng cảm thừa nhận những nhược điểm của mình. Nói cách khác, biết mình yếu ở chỗ nào tức là đã mạnh thêm được một ít. Còn thói xấu của người Việt mình không phải là không có chỉ có điều nó chưa được chỉ mặt đặt tên chính xác thôi. Bất tuân pháp luật – là một thói xấu như vậy.

Pháp luật- chắc nó trừ mình ra

   Biểu hiện của việc bất tuân pháp luật trước hết có thể tìm trong lịch sử. Đó là những cuộc khởi nghĩa nông dân liên miên của người Việt chống lại sự thống trị của ngoại bang trong đêm dài Bắc thuộc, trong những giai đoạn mà triều đình phong kiến đang suy vong và lòng dân không yên…Ngay cả bây giờ, tuy không phải là trào lưu nhưng ý thức tuân thủ pháp luật của dân mình còn kém lắm- có thể kể cả ngày không hết. Nhẹ thì vi phạm luật giao thông, mắt trước mắt sau không thấy cảnh sát đâu là vượt đền đỏ. Cao hơn tý nữa là lấn chiếm đất đai, rồi xây dựng trái phép… Điều đáng buồn nhất là người ta coi việc vi phạm ấy là cái gì đó có vẻ hay ho. Có chị mấy lần vượt đèn đỏ bị công an bắt hụt coi đó là chiến tích âm ỉ sung sướng mấy ngày chưa hết gặp ai cũng khoe. Những người nghành toà án có lẽ không ai là không cảm thấy chua chát khi đương sự của mình gọi mãi không đến hỏi tại sao thì họ bảo các cụ dạy “vô phúc đáo tụng đình” bởi “chờ được vạ thì má đã sưng”. Người ta đã đồng nghĩa pháp luật và toà án với xử phạt và trừng trị. Chính vì vậy, có làm ngành toà mới  có thể chia sẻ với Chánh án TANDTC đương nhiệm khi ông bày tỏ mơ ước trước Quốc hội có một ngày, ngành toà có  những “đương sự tốt, bị cáo tốt”. Có nghĩa là người dân thay vì chống đối hãy coi toà án là người bảo vệ công lý. Cho dù toà có phạt ai đi chăng nữa cũng không ngoài mục đích đem đến sự an toàn pháp lý cho xã hội và bảo vệ con người. Nghe nói ở một số nước, luật bảo vệ môi trường và động vật cũng như ý thức tuân thủ pháp luật của họ cao đến mức chim bồ câu có thể thanh thản dạo chơi và kiếm ăn hàng đàn trên các quảng trường thành phố và được con người coi ngươi đối xử như những người bạn. Trộm nghĩ nếu như ở nước mình quảng trường có nuôi chim là mơ ước của mấy ông ông bợm nhậu . Chỉ có thịt chim ngon và bổ là có thật còn pháp luật này nọ – chắc nó trừ mình ra.

Continue reading →

VỀ BẢO HIỂM CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI CHO NÔNG DÂN

ĐỖ MAI THÀNH

Hằng năm, sản xuất nông nghiệp nước ta thường thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh… rất lớn, nhiều trường hợp làm cho người nông dân điêu đứng, rơi vào cảnh không nhà cửa, vỡ nợ… Thế nhưng thị trường bảo hiểm nông nghiệp (bao gồm cây trồng, vật nuôi) đầy tiềm năng lại đang bị bỏ ngỏ. Điều tưởng chừng hết sức phi lý đó thực tế đang xảy ra ở nước ta, khi nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng cao. Vậy đâu là nguyên nhân và hướng đi cho loại hình bảo hiểm này.

Bảo hiểm cây trồng, vật nuôi đã được đề cập và thực thi từ lâu. Ở các nước phát triển, vấn đề này luôn được nhà nước chú ý quan tâm, với nhiều chính sách hỗ trợ cho người nông dân trong việc đóng phí bảo hiểm nhằm giảm thiểu những thiệt hại khi gặp rủi ro lớn.

Đối với Việt Nam, bảo hiểm nông nghiệp càng trở nên cần thiết, bởi là một nước nông nghiệp, trên 70% số hộ gia đình sống bằng nghề nông, sản xuất luôn bị tiềm ẩn nhiều nguy cơ do thiên tai, dịch bệnh (nước ta được xác định là 1 trong 10 nước gánh chịu nhiều thiên tai nhất thế giới, hằng năm thiên tai và dịch bệnh thường "cướp đi" 13 – 15 nghìn tỉ đồng (tương đương 1,5% GDP). Nếu không có bảo hiểm nông nghiệp, mỗi khi gặp rủi ro, người nông dân sẽ bị mất trắng và họ dễ dàng rơi vào cảnh nghèo đói hoặc tái đói, tái nghèo, từ đó sẽ kéo theo nhiều vấn đề xã hội nan giải khác.

Trước tình hình đó, những năm qua, Nhà nước đã ban hành một số quy định về bảo hiểm nông nghiệp. Cụ thể là:

– Điều 4, Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định: "Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với các nghiệp vụ bảo hiểm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là chương trình phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp";

– Nghị quyết số 26-NQ/TW, về nông nghiệp, nông dân, nông thôn nêu: "… thí điểm bảo hiểm nông nghiệp, bảo đảm mức sống tối thiểu cho cư dân nông thôn";

Continue reading →

NHỮNG CHƯỚNG NGẠI VẬT TRÊN HÀNH LANG PHÁP LÝ VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

DƯƠNG THANH MINH – Trưởng phòng Quản lý, Xử lý và Mua bán nợ, BacA AMC

Cùng với việc ban hành các đạo luật quan trọng như Luật Đất đai năm 2003, Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật Nhà ở năm 2005, Bộ luật Hàng hải năm 2005, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006… và đặc biệt là Bộ luật Dân sự năm 2005, pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã không ngừng được củng cố, hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý an toàn, hiệu quả cho việc xác lập và thực hiện các giao dịch này. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu việt không thể phù nhận, thì vẫn còn tồn tại một số “chướng ngại vật” trên hành lang pháp lý này cần được kịp thời dẹp bỏ, tạo luồng thông thoáng cho áp dụng pháp luật.

1. Khó khăn trong xác định bên bảo đảm là hộ gia đình, quy định về định đoạt tài sản bảo đảm của hộ gia đình chưa rõ ràng

a. Về xác định hộ gia đình

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì hộ gia đình là hộ “mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này” (Điều 106) và tài sản chung của hộ gia đình gồm: “quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ” (Điều 108). Như vậy, hộ gia đình theo quy định của pháp luật dân sự là tập hợp nhóm thành viên hộ có quan hệ về tài sản và đồng thời là chủ thể của giao dịch dân sự. Tuy nhiên, do pháp luật hiện hành chỉ mới dừng lại ở những quy định mang tính nguyên tắc chung như trên mà chưa quy định cụ thể về tiêu chí và cơ chế thực hiện, nên việc xác định hộ gia đình với tư cách là chủ thể của pháp luật dân sự nói chung, bên bảo đảm nói riêng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.

Một trong những hệ quả tất yếu của vấn đề nêu trên là trong thực tế áp dụng thường căn cứ vào Sổ hộ khẩu và xem đây là “bảo bối” để xác định về chủ thể này (ví dụ, các bên và cơ quan công chứng yêu cầu tất cả các thành viên có tên trong Sổ hộ khẩu phải ký tên vào hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất)1.

Continue reading →

TRANH CHẤP TÀI SẢN: CHA CON TRANH ĐẤT, ÁN TUYÊN NỬA VỜI

TẤN TÀI

Tòa bảo người con đã lợi dụng sơ hở của cha mẹ khai thêm mảnh vườn cao su vào hợp đồng tặng cho.

Theo đơn khởi kiện của vợ chồng ông M., năm 2009, vợ chồng ông đã cho vợ chồng con trai gần 300 m2 đất và một căn nhà cấp bốn.

Kiện con đòi lại nhà, đất

Nhưng lúc làm hợp đồng, do tuổi già nhầm lẫn, ông M. lại nhiều lần mổ não, tinh thần không minh mẫn và ông bà tin tưởng con trai nên đã không xem lại nội dung hợp đồng. Lợi dụng sơ hở trên của ông bà, người con trai đã kê khai thêm hơn 60.000 m2 đất trồng cao su. Sau đó vợ chồng người con đã chuyển quyền sở hữu toàn bộ tài sản trên.

Cuối năm 2009, ông bà phát hiện ra sự gian dối nên đã đòi con phải trả lại mảnh vườn cao su. Tuy nhiên, người con trai đã không đồng ý.

Theo người con trai, cha mẹ đã cho toàn bộ tài sản trên. Từ đó, ông đã được ủy ban huyện cấp giấy chứng nhận. Việc tặng cho là hợp pháp nên ông không việc gì phải trả lại tài sản cho cha mẹ.

Thỏa thuận không xong, ông bà M. đã làm đơn khởi kiện con trai ra TAND huyện Phú Giáo (Bình Dương) đòi lại toàn bộ đất đai, nhà cửa.

Kháng nghị vì chưa giám định tâm thần

Xử sơ thẩm, TAND huyện Phú Giáo nhận định vợ chồng ông M. đã tự nguyện cho vợ chồng con trai ngôi nhà và gần 300 m2 đất nên đã đến ủy ban để làm hợp đồng. Địa phương đã xác nhận và thửa đất đã chuyển quyền sử dụng cho người con trai. Do vậy, tòa công nhận phần nhà đất này thuộc quyền sở hữu của người con trai.

Continue reading →

MINH BẠCH HÓA THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN – VẪN CÒN LÀ GIẤC MƠ XA

ĐỨC TÙNG

Luật Kinh doanh bất động sản 2006 thể hiện mong muốn của nhà làm luật về một thị trường bất động sản hiện đại, minh bạch với những công ty địa ốc có uy tín và chuyên nghiệp: chủ đầu tư phải có đủ vốn để hoàn thành xong cơ sở hạ tầng hoặc thi công xong phần móng trước khi huy động vốn; người môi giới muốn được hành nghề thì phải có chứng chỉ và phải đăng ký kinh doanh.

Ước mơ của nhà làm luật

Để minh bạch hóa thị trường bất động sản, luật tách biệt khâu tạo lập – lưu thông bất động sản khi buộc các công ty địa ốc phải bán sản phẩm qua sàn giao dịch chứ không được tự đầu tư rồi tự bán sản phẩm.

Trong một giao dịch bất động sản, bên môi giới không được đồng thời vừa là bên môi giới vừa là bên mua hoặc bên bán. Tuy nhiên, các công ty địa ốc luôn tìm ra cách để thoát khỏi những ràng buộc của luật.

Tự mở sàn giao dịch

Quy định buộc bán bất động sản qua sàn giao dịch khiến nhiều công ty địa ốc phải san sẻ lợi ích kinh tế cũng như thông tin dự án cho bên môi giới. Hơn nữa, hoạt động của công ty địa ốc cũng bị ảnh hưởng khi không nắm phần chủ động trong việc tiêu thụ sản phẩm. Đó là cái cớ khiến các công ty địa ốc “xé rào” qua việc tự lập sàn giao dịch bất động sản.

Điều kiện luật định để mở sàn giao dịch không quá phức tạp. Luật Kinh doanh bất động sản chỉ yêu cầu sàn giao dịch phải là pháp nhân hoặc sử dụng tư cách pháp nhân của công ty địa ốc để hoạt động, có quy chế và cơ sở vật chất, kỹ thuật phù hợp với nội dung hoạt động.

Về mặt nhân sự, sàn bất động sản chỉ cần ít nhất hai nhân viên có chứng chỉ môi giới. Đáp ứng các điều kiện này không phải là một yêu cầu khó, nhất là đối với các công ty địa ốc lớn.

Continue reading →

GIẢI PHÁP NÀO CHO TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG?

HOÀNG VIỆT

1. Giới thiệu về biển Đông

Biển Đông là một biển nửa kín và là một trong những khu vực chiến lược quan trọng bậc nhất trên thế giới. Vùng biển này trải rộng từ khoảng vĩ tuyến 3º Nam tới vĩ tuyến 23º Bắc và được bờ biển của các nước Trung Quốc (bao gồm cả đảo Đài Loan), Việt Nam, Campuchia, Thái lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei, Philippines bao bọc xung quanh. Với diện tích bề mặt khoảng 1.148.500 hải lý vuông (tương đương 3.939.245 km2), biển Đông là một trong những biển lớn nhất thế giới.

Hình 1: Toàn bộ khu vực biển Đông

Nguồn: South China Sea-Reference Map-US CIA; lấy từ http://community.middlebury.edu/~scs/maps/South%20China%20Sea-reference%20map-US%20CIA.jpg.

Khu vực biển Đông bao gồm những tuyến đường hàng hải nhộn nhịp bậc nhất của thế giới, nối khu vực Đông Bắc Á và Tây Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương và Trung Đông. Trung bình một năm có khoảng hơn 41.000 lượt tàu biển qua lại khu vực này.[1] Các tàu chở dầu đi qua eo biển Malacca (nằm ở cuối phía Tây Nam của biển Đông) nhiều gấp ba lần so với lượng tàu chở dầu đi qua kênh đào Suez, và nhiều gấp năm lần so với lượng tàu qua kênh đào Panama.[2] Hơn 80% lượng dầu khí nhập khẩu của Nhật từ Trung Đông, Brunei, Malaysia, Indonesia phải đi ngang vùng biển này.[3]Vùng biển này còn là khu vực cung cấp nguồn hải sản quan trọng cho các đội tàu đánh cá của Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Campuchia, Indonesia, Malaysia, Brunei, Singapore và Thái Lan.

Continue reading →

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: KIỆN CÔNG NHẬN HỢP ĐỒNG – THỤ LÝ HAY KHÔNG?

TÚ HƯNG

Người nói thụ lý được, còn người lại bảo đây là tranh chấp quyền sử dụng đất, không phải tranh chấp về hợp đồng nên không thụ lý.

Năm 2003, ông D. (ngụ Bình Dương) mua lại nhà đất của bà N. Bàn bạc xong xuôi, hai bên ra phòng công chứng công chứng hợp đồng. Nhận thấy thỏa thuận tự nguyện, hợp pháp, phòng công chứng đã… đóng dấu.

Bỗng bị phong tỏa

Sau đó, hai bên đã giao đất, nhận tiền. Bên mua nộp hồ sơ xin đăng bộ, nộp thuế và được hẹn ngày nhận kết quả. Tuy nhiên, đến hẹn, bên mua đến nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì lại được trả lời có công văn của cơ quan thi hành án ngăn chặn chuyển nhượng nhà đất nên chưa thể giao giấy chứng nhận được. Nguyên trước đó, do có mượn nợ của người khác, bà N. bị kiện và tòa buộc bà phải trả nợ. Cơ quan thi hành án phong tỏa tài sản trên (vì cho rằng đó là tài sản của bà N.) để đảm bảo thi hành án.

Sau đó, bên mua đã khiếu nại việc kê biên của thi hành án nhưng không có kết quả. Bên mua cũng đã nhiều lần yêu cầu bên bán giải tỏa ngăn chặn việc đăng ký quyền sử dụng đất nhưng cũng không được đáp ứng.

Do vậy, mới đây bên mua đã nộp đơn khởi kiện ra tòa yêu cầu công nhận lại hợp đồng để một lần nữa khẳng định việc mua bán hợp pháp và tài sản đã thuộc sở hữu của bên mua, cơ quan thi hành án không thể phong tỏa tài sản này.

Nhiều quan điểm về thụ lý

Xung quanh việc khởi kiện đòi công nhận hợp đồng này của bên mua đã có nhiều quan điểm khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng không thể thụ lý vụ án. Bởi hợp đồng đã qua công chứng, bên mua đã nhận tài sản, bên bán đã nhận tiền thì bên mua đã có toàn quyền đối với tài sản này nên việc thụ lý để công nhận hợp đồng là không còn ý nghĩa. Không thể thụ lý giải quyết một chuyện đã hiển nhiên. Trường hợp này bên mua chỉ cần khiếu nại việc kê biên tài sản để cơ quan thi hành án hủy quyết định kê biên, trả lại quyền lợi cho bên mua là được.

Continue reading →

XÂY DỰNG LẠI CHẾ ĐỊNH CHIẾM HỮU bằng chất liệu khoa học phù hợp

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Phó hiệu trưởng, Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Phân tích, so sánh nội dung của quyền sở hữu và chiếm hữu trong pháp luật các nước, từ cổ tới kim, phân tích căn nguyên của sự bất hợp lý đặc thù trong cơ chế bảo vệ quyền sở hữu đang vận hành ở Việt Nam khi thừa nhận chiếm hữu như là một phần nội dung của quyền sở hữu, người viết yêu cầu phải nhìn nhận lại quan hệ chiếm hữu theo đúng bản chất, là tách quyền chiếm hữu ra khỏi quyền sở hữu và trả nó về vị trí thích hợp trước khi hoàn thiện pháp luật sở hữu.

Không biết từ lúc nào, quyền sở hữu ở Việt Nam được phân tích về mặt nội dung thành ba quyền năng: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Quan niệm ấy được những người soạn thảo Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 và cả BLDS năm 2005 sau này thấm nhuần và trở thành tư tưởng chủ đạo, được quán triệt trong quá trình xây dựng các quy tắc của Bộ luật liên quan đến quyền sở hữu. Chế độ pháp lý về sở hữu ở Việt Nam trở nên đặc thù và điều này khiến cho việc cải cách pháp luật dân sự trong khung cảnh hội nhập, đặc biệt về phần liên quan đến tài sản, là việc không đơn giản. Trở ngại chính đối với việc cải cách là sự khác biệt lớn giữa Việt Nam và các nền văn hoá pháp lý tiêu biểu trong cách hiểu về nội dung của quyền sở hữu, từ đó ảnh hưởng đến cách định vị chế định chiếm hữu trong pháp luật tài sản.

1. Chiếm hữu trong luật các nước

1.1. Luật cổ La Mã

Sở hữu và chiếm hữu1. Từ rất sớm, các nhà luật học cổ La Mã đã nhận thức được sự cần thiết phân biệt giữa sở hữu (ownership) và chiếm hữu (possession), như là sự phân biệt giữa nội dung và hình thức của một quan hệ xã hội.

Trong một tình huống đặc thù, cả thế giới đứng trước một người đang nắm giữ một vật có giá trị tiền tệ, gọi là một tài sản. Người này có thể là chủ sở hữu đối với tài sản, nhưng cũng có thể là người thuê, mượn tài sản để sử dụng, thậm chí… chỉ là người trộm tài sản. Tìm hiểu xem liệu người này có phải là chủ sở hữu, người thuê hay chỉ là một kẻ trộm…, về thực chất, là việc phân tích tình trạng pháp lý của người đó trong mối quan hệ với tài sản nắm giữ. Tất nhiên, nếu do kết quả tìm hiểu mà tư cách trộm đạo của đương sự lộ ra, thì nhà chức trách phải can thiệp bằng biện pháp xử lý thích hợp; còn trong những trường hợp khác, mọi việc có thể tiếp diễn bình thường, với điều kiện người nắm giữ tài sản tôn trọng các giới hạn mà pháp luật đặt ra đối với việc thực hiện các quyền của mình.

Continue reading →

XÂY DỰNG LẠI CHẾ ĐỊNH CHIẾM HỮU BẰNG CHẤT LIỆU KHOA HỌC PHÙ HỢP

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Phó hiệu trưởng, Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Phân tích, so sánh nội dung của quyền sở hữu và chiếm hữu trong pháp luật các nước, từ cổ tới kim, phân tích căn nguyên của sự bất hợp lý đặc thù trong cơ chế bảo vệ quyền sở hữu đang vận hành ở Việt Nam khi thừa nhận chiếm hữu như là một phần nội dung của quyền sở hữu, người viết yêu cầu phải nhìn nhận lại quan hệ chiếm hữu theo đúng bản chất, là tách quyền chiếm hữu ra khỏi quyền sở hữu và trả nó về vị trí thích hợp trước khi hoàn thiện pháp luật sở hữu.

Không biết từ lúc nào, quyền sở hữu ở Việt Nam được phân tích về mặt nội dung thành ba quyền năng: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Quan niệm ấy được những người soạn thảo Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 và cả BLDS năm 2005 sau này thấm nhuần và trở thành tư tưởng chủ đạo, được quán triệt trong quá trình xây dựng các quy tắc của Bộ luật liên quan đến quyền sở hữu. Chế độ pháp lý về sở hữu ở Việt Nam trở nên đặc thù và điều này khiến cho việc cải cách pháp luật dân sự trong khung cảnh hội nhập, đặc biệt về phần liên quan đến tài sản, là việc không đơn giản. Trở ngại chính đối với việc cải cách là sự khác biệt lớn giữa Việt Nam và các nền văn hoá pháp lý tiêu biểu trong cách hiểu về nội dung của quyền sở hữu, từ đó ảnh hưởng đến cách định vị chế định chiếm hữu trong pháp luật tài sản.

1. Chiếm hữu trong luật các nước

1.1. Luật cổ La Mã

Sở hữu và chiếm hữu1. Từ rất sớm, các nhà luật học cổ La Mã đã nhận thức được sự cần thiết phân biệt giữa sở hữu (ownership) và chiếm hữu (possession), như là sự phân biệt giữa nội dung và hình thức của một quan hệ xã hội.

Trong một tình huống đặc thù, cả thế giới đứng trước một người đang nắm giữ một vật có giá trị tiền tệ, gọi là một tài sản. Người này có thể là chủ sở hữu đối với tài sản, nhưng cũng có thể là người thuê, mượn tài sản để sử dụng, thậm chí… chỉ là người trộm tài sản. Tìm hiểu xem liệu người này có phải là chủ sở hữu, người thuê hay chỉ là một kẻ trộm…, về thực chất, là việc phân tích tình trạng pháp lý của người đó trong mối quan hệ với tài sản nắm giữ. Tất nhiên, nếu do kết quả tìm hiểu mà tư cách trộm đạo của đương sự lộ ra, thì nhà chức trách phải can thiệp bằng biện pháp xử lý thích hợp; còn trong những trường hợp khác, mọi việc có thể tiếp diễn bình thường, với điều kiện người nắm giữ tài sản tôn trọng các giới hạn mà pháp luật đặt ra đối với việc thực hiện các quyền của mình.

Continue reading →

NGHĨA VỤ THEO HỢP ĐỒNG SONG VỤ

PHẠM HOÀI HUẤN

Các hợp đồng kinh tế đối với những sản phẩm kỹ thuật bao giờ cũng có mục bảo hành sản phẩm. Tuy nhiên, các DN VN lại thường coi nhẹ điều khoản này mà không nhìn nhận rõ ràng nghĩa vụ pháp lý của mình.

Điều 44 Luật thương mại quy định: Việc kiểm tra hàng hoá không chỉ là một cách để tự bảo vệ mình trước các hệ luỵ của việc thực hiện nghĩa vụ không đúng theo thoả thuận trong hợp đồng mà trong nhiều trường hợp bên bị vi phạm còn bị mất quyền khiếu kiện vì không thực hiện hành vi kiểm tra như được viện dẫn ở trên

Ngày 15/4/2005 Cty TNHH thương mại Sông Tiền (Cty Sông Tiền) và Cty cổ phần kỹ thuật công nghệ Á Châu (Astech Corp) cùng thỏa thuận ký hợp đồng giao nhận thầu. Trong đó Astech cung ứng vật tư thiết bị và thi công đấu nối 2 tủ đông tiếp xúc và lắp đặt hệ thống làm lạnh nước với khối lượng 5m3/h và nhiệt độ lạnh đến -100oC, với giá trị hợp đồng 376.040.000 đồng. Cty Sông Tiền đã thanh toán cho Astech hơn 318 triệu  đồng, trong hợp đồng có 1 hạng mục: 2 tủ đông tiếp xúc không thực hiện. Sau khi lắp đặt hệ thống làm lạnh nước máy chỉ  hoạt động được 26 ngày thì bị hỏng. Cty Sông Tiền có văn bản nhắc nhở, yêu cầu phía Astech khắc phục sửa chữa nhưng gần 4 tháng sau mới thay thế bộ phận hư và máy hoạt động được 10 ngày thì tiếp tục không hoạt động được.

Astech cho rằng, ngày 23/8/2006 Cty Astech bàn giao hệ thống vận hành, Cty Sông Tiền chấp nhận lấy hóa đơn, vận hành hệ thống làm lạnh nước như trong hợp đồng 04 – 05/HĐKT. Ngày 13/2/2006, Astech đã thay thế và đấu nối xong dàn bay hơi GEA như nội dung bảo hành trong hợp đồng.

Ngày 19/2/2006, Cty Sông Tiền tự ý cho nạp ga và vận hành hệ thống. Mặt khác, trong suốt thời gian vận hành, Astech không nhận được thông báo nào từ Cty Sông Tiền về tình trạng hoạt động của hệ thống ga, mức dầu, áp suất đẩy, áp suất hút… điều này dẫn đến máy hư hỏng. Vì vậy phía Astech không đồng ý di dời hệ thống làm lạnh, không hoàn trả lại tiền và bồi thường thiệt hại cho phía Cty Sông Tiền. Cty Sông Tiền khởi kiện yêu cầu phía Astech di dời hệ thống lắp đặt, hoàn trả lại cho Cty Sông Tiền 318.416.000 đồng và bồi thường thiệt hại  Tuy nhiên, tòa án đã ra quyết định, hủy hợp đồng  giữa Cty Sông Tiền và Astech. Buộc Astech phải trả cho Cty Sông Tiền 318.416.000 đồng vốn và bồi thường thiệt hại. Buộc Astech phải tự tháo dỡ, di dời toàn bộ vật tư  thiết bị hệ thống làm lạnh đã lắp đặt tại Cty Sông Tiền.

Continue reading →

TRANH CHẤP VỀ CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHẦN: BÀI HỌC KHÔNG CŨ

PHẠM HUẤN

Chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập sẽ phải theo trình tự nào ? DN phải làm gì để không xảy ra tranh chấp khi chuyển nhượng?

Cty cổ phần BĐG được cấp giấy chứng nhận kinh doanh lần đầu vào tháng 6/2003. Điều lệ Cty quy định như Luật Doanh nghiệp 1999. Ngày 15/7/2005, ông Thanh là cổ đông sáng lập – Chủ tịch HĐQT của Cty cổ phần ĐBG có ký Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ 8.500 cổ phần của mình trong Cty cổ phần ĐBG cho ông Sơn với giá chuyển nhượng 1,5 tỷ đồng và đã nhận đủ số tiền này từ ông Sơn. Trong hợp đồng cũng có điều khoản ông Thanh phải từ chức Chủ tịch HĐQT và thực hiện các thủ tục để ông Sơn được giữ chức Chủ tịch HĐQT của Cty ĐBG. Ông Sơn nhận một số giấy tờ của Cty BĐG do ông Thanh giao để làm tin bao gồm một số hóa đơn GTGT do bên bán phát hành cho Cty ĐBG và 2 chứng nhận bảo hiểm do Cty bảo hiểm cấp cho Cty ĐBG.

Tuy nhiên, sau đó ông Thanh không thực hiện việc làm thủ tục đăng ký ông Sơn vào Sổ đăng ký cổ đông và làm thủ tục thay đổi Chủ tịch HĐQT của Cty. Do đó, ông Sơn làm đơn khởi kiện yêu cầu ông Thanh phải trả lại số tiền chuyển nhượng cổ phần đã nhận 1,5 tỷ đồng nói trên

Ông Thanh xác nhận chỉ ký khống vào tờ giấy trắng để ông Sơn sử dụng vào việc liên hệ mua hàng hóa tại Hà Nội, thực tế không có ký hợp đồng chuyển nhượng cổ phần.

Tòa án đã thụ lý vụ việc.

Giải quyết tranh chấp

Căn cứ vào bản Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần ngày 15/7/2005, có đủ cơ sở để xác định giữa ông Thanh và ông Sơn có thỏa thuận việc chuyển nhượng 8.500 cổ phần của ông Thanh trong Cty cổ phần ĐBG cho ông Sơn với giá chuyển nhượng 1,5 tỷ đồng. Nhưng có vấn đề cần xem xét là ông Sơn không đưa ra được bằng chứng chứng tỏ bên chuyển nhượng là ông Thanh đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng nói trên. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng cổ phần nói trên giữa ông Thanh và ông Sơn không được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông Cty cổ phần BĐG theo quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật DN năm 1999.

Continue reading →

TIẾP TỤC BÀN VỀ SỰ ĐỘC LẬP CỦA THẨM PHÁN

THS. ĐINH THẾ HƯNG – Viện Nhà nước và Pháp luật

Ngay từ thời cổ Hy Lạp, Arixtốt, Platon đã từng mơ ước đến một hình mẫu toà án độc lập, không thiên vị. Arixtốt quan niệm rằng: Trong bất kỳ nhà nước nào cũng cần phải có những yếu tố bắt buộc: Cơ quan làm ra luật có trách nhiệm trông coi việc nước, các cơ quan thực thi pháp luật và các tòa án, từ đó ông chia hoạt động nhà nước thành ba thành tố: nghị luận, chấp hành và xét xử[1]. Trải qua quá trình đấu tranh lâu dài và gian khổ cho đến nay, độc lập xét xử của Toà án đã trở thành nguyên tắc pháp luật của bất kỳ nhà nước dân chủ, văn minh nào.

Tuy nhiên, trong thực tế ở đâu đó vẫn còn tình trạng Thẩm phán bị chi phối bởi các yếu tố chủ quan lẫn khách quan làm cho phán quyết của họ bị thiên lệch. Điều đó cho thấy việc đảm bảo cho Thẩm phán nói riêng và Toà án nói chung được độc lập xét xử chỉ tuân theo pháp luật luôn là khát vọng và cũng là nỗi ưu tư của nhân loại ngàn đời nay. Chúng ta đang tiến hành Chiến lược cải cách tư pháp trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân với trọng tâm là cải cải cách hệ thống toà án thì có lẽ bàn về nguyên tắc Thẩm phán độc lập xét xử vẫn là vấn đề xưa nhưng không hề cũ.

Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu nguyên tắc độc lập xét xử dưới các góc độ khác nhau ở mọi cấp độ. Nhưng chủ yếu là xem xét sự độc lập của Thẩm phán trong mối quan hệ với các yếu tố khách quan- Sự can thiệp đến công việc xét xử của Thẩm phán từ bên ngoài. Đó có thể là sự tác động từ các cơ quan khác như hành pháp, lập pháp thậm chí có ý kiến đề cập đến sự can thiệp của một số cấp ủy địa phương đến hoạt động xét xử của thẩm phán. Trong bài viết này, chúng tôi tiếp cận vấn đề độc lập xét xử của thẩm phán dưới góc độ những yếu tố chủ quan tác động đến tính độc lập xét xử của thẩm phán. Tức là những yếu tố nằm bên trong ngành toà án và trong mỗi thẩm phán làm cho thẩm phán không độc lập xét xử.

1. Thẩm phán có muốn độc lập không?

Trước hết công việc xét xử bao giờ cũng do con người – thẩm phán đảm nhiệm và thật viễn tưởng khi người ta lập trình hoạt động xét xử và giao cho máy móc đảm nhiệm. Những năm 70 của thế kỷ trước, Giáo sư X.X A-lec- xây- ép đã bàn đến vấn đề “Quan toà điện tử” khi ông đặt câu hỏi: Phải chăng có thể thay thế vị quan toà bằng những máy tính hiện đại có khả năng nắm bắt được cái tinh tế của pháp luật và ngay từ đầu đã cung cấp những quyết định theo yêu cầu của chúng ta ?”[2] . Sau khi lập luận một cách chắc chắn rằng: Sự vô tư, tính lôgic, trình độ chính xác, tính độc lập của các quyết định luôn lệ thuộc vào các tính cách cá nhân thẩm phán với tính tình ông ta; nếu ngồi ghế bị cáo thì bất cứ ai cũng muốn vị quan toà thay cho người máy quyết định số phận của họ, Giáo sư A- lếch- xây – ép kết luận: Quan hệ giữa con người với nhau phải được con người hiểu chứ không phải do máy móc phán xét. Các thẩm phán trong những tình huống phức tạp của mối quan hệ giữa con người với nhau, họ có thể hiểu được cái mà không máy tính nào hiểu được.[3] Vấn đề quan toà điện tử chỉ là viễn tưởng và trái với đạo lý của chúng ta.

Continue reading →

PHẢN HỒI BÀI VIÊT: HỘI THẨM NHÂN DÂN PHẢI TƯƠNG TẦM VỚI TRỌNG TRÁCH ĐƯỢC GIAO

THS. CAO VIỆT THĂNG

Chế định Hội thẩm nhân dân là một trong những chế định rất quan trọng trong hoạt động xét xử ở nước ta . Tuy nhiên, để hiểu rõ về vai trò của Hội thẩm nhân dân đã có rất nhiều tranh luận và cách hiểu khác nhau xung quanh chế định này. Chẳng hạn, đọc bài viết của tác giả Cao Xuân Thu Vân tại địa chỉ: http://phapluatdansu.edu.vn/2010/01/08/4317/, tôi cho rằng cách hiểu của tác giả về chế định này có lẽ là chưa chính xác. Dưới đây là một số quan điểm của tác giả về chế định Hội thẩm nhân dân để tác giả Thu Vân và các độc giả cùng tham khảo.

Về nội dung của việc quy định về thành phần của Hội thẩm nhân dân phải đảm bảo đa số thành viên trong Hội đồng xét xử sơ thẩm các vụ án thì có rất nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng: Việc tham gia của Hội thẩm nhân dân là đảm bảo tính làm chủ của nhân dân trong quá trình xét xử. Hay ngay như trong Hiến pháp, ở Chương I – Về Chế độ chính trị có quy định: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân .  Nên việc quy định thành phần của Hội đồng xét xử đảm bảo sự đa số của số lượng Hội thẩm nhân dân là phù hợp…
Tuy nhiên, về mặt thực tiễn, chúng ta thấy nguồn của Hội thẩm nhân dân chủ yếu là các công, viên chức nhà nước thuộc nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau do Mặt trận tổ quốc giới thiệu  chứ không phải là những người dân thường không nằm trong biên chế của các cơ quan nhà nước. Do đó, có thể thấy rằng đó không phải là quy định nhằm bảo đảm tính “nhân dân” trong Hội đồng xét xử.

Về chuyên môn, nghiệp vụ có thể thấy rằng: việc quy định các Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán khi xét xử, rõ ràng Hội thẩm có đủ thẩm quyền quyết định mọi vấn đề trong quá trình xét xử, nghĩa là họ có quyền phán quyết kể cả những vấn đề hóc búa như định tội danh trong vụ án hình sự. Tuy nhiên, chỉ với tiêu chuẩn của Hội thẩm là: Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có kiến thức pháp lý, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đấu tranh bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được bầu hoặc cử làm Hội thẩm, thì khi gặp những bị cáo là những người có trình độ pháp luật, bị cáo có người giám hộ, người đại diện là các chuyên gia pháp luật, là một hay nhiều luật sư chuyên nghiệp trợ giúp thì chắc chắn với các tiêu chuẩn về Hội thẩm như trên sẽ không đủ năng lực và trình độ pháp lý để đấu lại họ và không thể phán xử được. Ở phương diện này, chắc chắn các nhà làm luật cũng đã biết được điều này. Và nếu họ thấy bất cập chắc hẳn phải đặt ra vấn đề sử dụng toàn bộ thành viên Hội đồng xét xử phải là các Thẩm phán chuyên nghiệp chứ sẽ không quy định việc tham gia của Hội thẩm vào thành phần của Hội đồng xét xử.

Continue reading →

BÀN THÊM VỀ NHẦM LẪN TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ

PHẠM ĐỨC ANH

Đọc qua bài viết của tác giả Hoàng Thư và TS. Đỗ Văn Đại tôi rất tán thành với đề nghị qui định lại thời hiệu yêu cầu. Qui định như hiện nay chẳng khác nào khuyến khích kẻ thực hiện hành vi lừa dối cần phải thực hiện thật tinh vi để người bị lừa dối không tài nào phát hiện trong thời hạn 2 năm hoặc tiến hành hành vi đe dọa, khủng bố trong khoảng thời gian hơn 2 năm để người bị đe dọa không thể thực hiện quyền yêu cầu của họ. Về vấn đề này tôi từng được nghe Tiến sĩ Dương Anh Sơn chia sẽ. Với tôi những bài viết như vậy thật sự rất hữu ích. Tuy nhiên tôi có một vài ý không tán đồng, xin được chia sẽ và rất mong nhận được ý kiến phản hồi của các tác giả.

Thứ nhất, tôi không đồng tình với những nhận xét về“nguyên nhân”nhầm lẫn của Hoàng Thư và TS Đỗ Văn Đại. Nhầm lẫn là sự hiểu không đúng về một sự vật, sự việc, tuy vậy theo tinh thần của Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 (BLDS) thì không phải bất cứ sự nhầm lẫn nào cũng dẫn tới hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu. Tôi ủng hộ tinh thần này. Và nếu tôi hiểu không sai thì BLDS không phân chia nhầm lẫn do lỗi vô ý và lỗi cố ý. Điều 131 chỉ điều chỉnh một trường hợp hợp giao dịch dân sự vô hiệu duy nhất là nhầm lẫn do có lỗi vô ý. Trường hợp cố ý để người khác hiểu sai sự vật, sự việc thì đó chỉ có thể là lừa dối. Lừa dối không đồng nghĩa với nói dối. Nếu hành vi nói dối chỉ có thể thể hiện qua hành động thì hành vi lừa dối còn bao gồm việc không hành động. Nói cách khác lừa dối có ngoại diên rộng hơn nói dối. Vì vậy sự “ nhầm lẫn do lỗi cố ý” mà các tác giả nhắc đến, theo tôi, là hành vi lừa dối và được điều chỉnh bởi Điều 132 BLDS. Điều chưa hoàn thiện tại Điều 131 BLDS ở đây, chính là các lập pháp gia đã cẩn thận một cách không cần thiết khi thêm câu “Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này”. Câu  thừa này, nói một cách công bằng, không phải là điều tai hại, nhưng thiết nghĩ nếu không có thì tốt hơn.

Continue reading →

VẤN ĐỀ VAY NỢ VÀ QUẢN LÝ NỢ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

TS. TRẦN VĂN GIAO – Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Vay nợ chính phủ là một vấn đề lớn và vô cùng quan trọng đối với tất cả các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, do tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu, vấn đề nợ chính phủ của Việt Nam có xu hướng tăng cao trong thời gian tới. Vì vậy, vấn đề tìm ra những giải pháp nhằm hoạch định chính sách và quản lý chặt chẽ việc vay và trả nợ một cách có hiệu quả là vô cùng cấp thiết.

1 – Khái niệm về nợ chính phủ

Nợ chính phủ, còn gọi là nợ công hoặc nợ quốc gia, là tổng giá trị các khoản tiền vay của chính quyền thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách nhà nước. Nói cách khác, nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách nhà nước lũy kế đến một thời điểm nào đó.

Thuật ngữ nợ chính phủ được sử dụng khá phổ biến trong các thống kê tài chính quốc gia và thống kê của các tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc tế hoặc Ngân hàng Thế giới. Trong thống kê của các tổ chức tài chính quốc tế, nợ chính phủ là tổng các khoản vay nợ trong và ngoài nước của chính phủ. Theo cách hiểu này, nợ chính phủ là số dư về nghĩa vụ trả nợ cả gốc và lãi tại một thời điểm đối với các khoản vay trong nước và vay nước ngoài của chính phủ.

Nợ chính phủ bao gồm tổng nợ trong và ngoài nước của chính phủ, tổng các khoản vay nợ của khu vực tư có bảo lãnh của chính phủ (chủ yếu là nợ nước ngoài) và các khoản nợ của các tổ chức thuộc khu vực công. Nợ chính phủ bao gồm nợ của chính quyền trung ương và chính quyền địa phương. Nói cách khác, nợ chính phủ chỉ liên quan đến hoạt động vay nợ của các cơ quan chính phủ thuộc đối tượng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước và được phép vay nợ theo quy định của pháp luật.

Theo thông lệ quốc tế, nợ của ngân hàng trung ương không được xếp vào nợ của chính phủ mà được tổng hợp vào nợ của khu vực công. Tuy nhiên, đối với Việt Nam, do Ngân hàng Nhà nước là một cơ quan của Chính phủ, nên các khoản vay nợ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được tổng hợp vào nợ của Chính phủ.

Ở nước ta, để thực hiện chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế, Chính phủ phải gắn một phần trách nhiệm của mình đối với một số khoản nợ của các chủ thể kinh tế khác, chẳng hạn của các tổ chức công, như Quỹ Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhà nước và nợ của khu vực tư có bảo lãnh của Chính phủ.

Continue reading →