HOÀN THIỆN CÁC QUI ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2005 về nguyên tắc công nhận và thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế,  Bộ Tư pháp

Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự, trong đó có việc xây dựng Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự là một trong những nhiệm vụ quan trọng về cải cách tư pháp nhằm thực hiện Nghị quyết 49-NQ-TW ngày 02-06-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra.

Bài viết dưới đây xin phân tích những vướng mắc, khó khăn trong việc thực hiệncác quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2005 về  nguyên tắc công nhận và thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài[1] và bước đầu đề xuất một số kiến nghị liên quan đến việc sửa đổi các quy định này nhằm góp phần hoàn thiện hơn các quy định về tố tụng dân sự quốc tế và tư pháp quốc tế của Việt Nam, bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, pháp nhân Việt Nam và nước ngoài trong các  quan hệ dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài.

1. Về nguyên tắc “có đi có lại” trong việc công nhân và thi hành bản án, quyết định DS của TANN và QĐ của TTNN:

Khoản 3 Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) có quy định mở rộng hơn phạm vi các bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài bằng cách khẳng định việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong việc xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Đây là một nguyên tắc quan trọng, thường được áp dụng phổ biến trong công pháp và tư pháp quốc tế. Tuy nhiên, nguyên tắc này bản thân nó cũng còn nhiều vấn đề hạn chế. Việc áp dụng điều khoản này, trên thực tế đã ngày càng giảm đi đáng kể. Rất nhiều  độc giả đã chỉ trích, lên án việc áp dụng điều khoản “có đi có lại” và đề nghị quy định này cần được xem xét lại. Trong nhiều trường hợp, nếu áp dụng một cách cứng nhắc, nó sẽ hạn chế và ảnh hưởng ngay chính đến quyền lợi chính đáng của công dân nước áp dụng nguyên tắc này.

Tác giả xin dẫn chứng ở đây một số kinh nghiệm quốc tế trong việc áp dụng nguyên tắc này:

  Ở Đức, phán quyết của trọng tài nước ngoài được thi hành theo thể thức chung về thi hành tài quyết của Đức mà không cần tính đến yếu tố có đi có lại.[2] Điều 1044 Điều lệ tố tụng dân sự Đức quy định rằng, tài quyết của nước ngoài không được công nhận và thi hành nếu như nó vi phạm một số nguyên tắc cơ bản như vi phạm trật tự công cộng, một trong các bên không được đại diện đúng quy cách, không thể tham dự việc xét xử, nếu tài quyết không có giá trị theo pháp luật của nước mà nó phải tuân theo. Nguyên tắc có đi có lại không được quy định như một điều kiện cần thiết để công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài tại CHLB Đức. Pháp luật của Anh hay Italia cũng có những quy định tương tự.[3]

Continue reading

HOÀN THIỆN CÁC QUI ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2005 VỀ NGUYÊN TẮC CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI, QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI

ĐẶNG HOÀNG OANH –Vụ Hợp tác quốc tế,  Bộ Tư pháp

Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự, trong đó có việc xây dựng Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự là một trong những nhiệm vụ quan trọng về cải cách tư pháp nhằm thực hiện Nghị quyết 49-NQ-TW ngày 02-06-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra.

Bài viết dưới đây xin phân tích những vướng mắc, khó khăn trong việc thực hiệncác quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2005 về  nguyên tắc công nhận và thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài[1] và bước đầu đề xuất một số kiến nghị liên quan đến việc sửa đổi các quy định này nhằm góp phần hoàn thiện hơn các quy định về tố tụng dân sự quốc tế và tư pháp quốc tế của Việt Nam, bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, pháp nhân Việt Nam và nước ngoài trong các  quan hệ dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài.

1. Về nguyên tắc “có đi có lại” trong việc công nhân và thi hành bản án, quyết định DS của TANN và QĐ của TTNN:

Khoản 3 Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) có quy định mở rộng hơn phạm vi các bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài bằng cách khẳng định việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong việc xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Đây là một nguyên tắc quan trọng, thường được áp dụng phổ biến trong công pháp và tư pháp quốc tế. Tuy nhiên, nguyên tắc này bản thân nó cũng còn nhiều vấn đề hạn chế. Việc áp dụng điều khoản này, trên thực tế đã ngày càng giảm đi đáng kể. Rất nhiều  độc giả đã chỉ trích, lên án việc áp dụng điều khoản “có đi có lại” và đề nghị quy định này cần được xem xét lại. Trong nhiều trường hợp, nếu áp dụng một cách cứng nhắc, nó sẽ hạn chế và ảnh hưởng ngay chính đến quyền lợi chính đáng của công dân nước áp dụng nguyên tắc này.

Tác giả xin dẫn chứng ở đây một số kinh nghiệm quốc tế trong việc áp dụng nguyên tắc này:

  Ở Đức, phán quyết của trọng tài nước ngoài được thi hành theo thể thức chung về thi hành tài quyết của Đức mà không cần tính đến yếu tố có đi có lại.[2] Điều 1044 Điều lệ tố tụng dân sự Đức quy định rằng, tài quyết của nước ngoài không được công nhận và thi hành nếu như nó vi phạm một số nguyên tắc cơ bản như vi phạm trật tự công cộng, một trong các bên không được đại diện đúng quy cách, không thể tham dự việc xét xử, nếu tài quyết không có giá trị theo pháp luật của nước mà nó phải tuân theo. Nguyên tắc có đi có lại không được quy định như một điều kiện cần thiết để công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài tại CHLB Đức. Pháp luật của Anh hay Italia cũng có những quy định tương tự.[3]

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 2570/LĐTBXH-BHXH NGÀY 29 THÁNG 7 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ THỰC HIỆN CHẾ BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHỈ VIỆC TRƯỚC NĂM 1995

Kính gửi:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Phúc đáp công văn số 324/SLĐTBXH-CSATLĐ ngày 23/02/2010 và công văn số 785/SLĐTBXH-CSATLĐ ngày 20/4/2010 của quý Sở về việc thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội đối với người nghỉ việc trước năm 1995, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Người lao động có thời gian công tác liên tục trong khu vực nhà nước, nghỉ việc đúng pháp luật trước năm 1995 mà chưa nhận trợ cấp thôi việc thì thời gian công tác liên tục được xem xét để tính là thời gian công tác hưởng chế độ bảo hiểm xã hội. Thời gian công tác nói chung không được tính để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.

2. Theo quy định tại khoản 12 Mục II Thông tư số 13/NV ngày 04/9/1972 của Bộ Nội vụ thì người lao động có thời gian công tác trong khu vực nhà nước mà tự ý bỏ việc thì thời gian công tác trước đó không được tính để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.

3. Việc xác định thời gian công tác để tính hưởng bảo hiểm xã hội đối với người lao động làm việc trong khu vực nhà nước đã nghỉ việc trước năm 1995 phải căn cứ vào hồ sơ gốc. Trường hợp không còn hồ sơ gốc thì thực hiện theo hướng dẫn tại Khoản 9 Mục D Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/01/2007 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Căn cứ vào đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố hoặc Bộ, ngành chủ quản và hồ sơ gốc liên quan đến quá trình công tác của người lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội xem xét, quyết định.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời để quý Sở được biết.

TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI
Trần Thị Thúy Nga