LUẬT TỤC TRONG ĐỜI SỐNG ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ NHỮNG GIÁ TRỊ CẦN BẢO TỒN, PHÁT HUY NHỮNG HỦ TỤC CẦN LOẠI BỎ

TS. TRỊNH THỊ THỦY – Phó Vụ trưởng Vụ Văn hoá Dân tộc – Bộ VHTT&DL

Nói đến luật tục tức là nói đến phong tục, tập quán đã hình thành trong nhiều năm, trong nhiều thế hệ. Đồng bào nói rằng, luật tục là “ông bà để lại cho”. Đến nay, cùng với pháp luật của Nhà nước, luật tục vẫn tồn tại và có một trí quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số. ở mỗi dân tộc thiểu số khác nhau có luật tục riêng, thể hiện bản sắc, đặc trưng riêng của dân tộc mình. Trong cộng đồng các dân tộc, luật tục được thành viên trong cộng đồng nghiêm chỉnh tuân theo một cách tự giác. Những người vi phạm luật tục cũng đồng nghĩa với việc xúc phạm đến thần linh, đến đức tin của cả cộng đồng.

Luật tục (người Thái gọi là Hịt khỏng, người ÊĐê gọi là Phạtkđi, người M’nông gọi là Phạtkđuôi, người Mạ gọi là N’Ri, người Gia Rai gọi là Tơlơiphian,…) đều có điểm chung là một mặt nó mang những yếu tố của luật pháp (quy định các hành vi phạm tội, các loại và mức độ tội phạm,…), nhưng mặt khác, luật tục mang tính chất của lệ tục, phong tục (những quy ước, những điều răn dạy, những điều khuyên nhủ mang tính đạo đức, hướng dẫn hành vi cho mỗi cá nhân, tạo dư luận xã hội để điều chỉnh các hành vi của con người. Nội dung Luật tục của các dân tộc bao gồm các quy định về quan hệ cộng đồng, quan hệ của người đứng đầu buôn làng với dân, quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng làng bản, giữa cha mẹ với con cái, về sở hữu tài sản, sở hữu đất đai, nương rẫy, nguồn nước, giữ gìn trật tự công cộng, giữ bình yên, hoà thuận trong buôn làng,…
Luật tục là sản phẩm xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của đời sống xã hội của mỗi dân tộc, phụ thuộc nhiều vào trình độ, ý chí chủ quan của các thành viên sống trong cộng đồng đó, trong đó có người đứng đầu (chủ làng, chủ buôn, hội đồng già làng), do đó vừa thể hiện những mặt tích cực những cũng tồn tại những mặt tiêu cực đối với đời sống kinh tế-xã hội của đồng bào các dân tộc.

Nội dung luật tục các dân tộc thiểu số thể hiện tính nhân văn, tinh thần đoàn kết, cộng đồng dân tộc rất cao. Tuỳ theo từng dân tộc, nội dung của các luật tục thường quy định các vấn đề liên quan đến điều chỉnh các mối quan hệ gia đình như: quan hệ vợ chồng, con cái, cha mẹ, ông bà, anh chị em. Con cái phải thương yêu, kính trọng, phụng dưỡng ông bà, cha mẹ; anh chị em phải thương yêu đùm bọc lẫn nhau; Hầu hết các luật tục đều khuyên dạy vợ chồng phải yêu thương quý trọng lẫn nhau, sống với nhau thuỷ chung “Đã lấy vợ thì phải ở với vợ cho đến chết, đã cầm cần mời rượu thì phải vào cuộc cho đến khi rượn nhạt, đã đánh cồng thì phải đánh cho đến khi người ta giữ tay lại” (Luật tục Êđê). Các quy định của luật tục các dân tộc thiểu số góp phần điều hoà các mối quan hệ xã hội trong buôn, làng, play, quan hệ giữa các dòng họ, giữ gìn trật tự an ninh, phòng chống các tệ nạn xã hội (trộm cắp, nghiện ngập, ngoại tình,…); bênh vực và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người phụ nữ và trẻ em,…

Continue reading

ỨNG XỬ VĂN HÓA TRONG XÃ HỘI Ê ĐÊ, GIA RAI

TS. ĐỖ HỒNG KỲ

Đời sống văn hoá xã hội được trình bày dưới đây chủ yếu là xã hội cổ truyền của các tộc người Ê Đê và Gia Rai. Hiện nay, nhiều yếu tố của đời sống xã hội đó không còn tồn tại nữa.

Các tiểu gia đình cư trú trong mỗi ngăn buồng của ngôi nhà dài hợp thành đại gia đình mẫu hệ Ê Đê. Trong mỗi ngăn buồng ấy là một cặp vợ chồng (của chị, em gái) và những ai chưa lập gia đình sinh sống. Người đàn bà cao tuổi nhất, có uy tín là người quản lý tài sản, giải quyết các mối quan hệ trong nội bộ ngôi nhà dài. Còn người đàn ông cao tuổi nhất, thường là chồng của người chị cả lo việc ngoài phạm vi ngôi nhà dài, như mua voi, chiêng, ché và các đồ vật quý khác. Trong việc trao đổi mua bán, người đàn ông có quyền quyết định, nhưng trước khi có quyết định cuối cùng, ông ta phải được sự đồng ý của người đàn bà chủ ngôi nhà dài (pô sang).

Thường ngày các tiểu gia đình ăn uống và làm rẫy riêng. Nhưng khi có các công việc chung như nghi lễ, lễ hội thì mọi người trong ngôi nhà dài cùng nhau lo việc và ăn uống chung. Cách ứng xử của các thành viên trong gia tộc là kính trên nhường dưới.
Mỗi dòng họ (djuê) Ê Đê bao gồm 3 thành phần:
– Ana go gồm bà nội (dòng nữ), bác gái, mẹ, em gái, cháu gái, chắt gái, v.v. Nói chung, đó là giới nữ cùng họ với dăm dei.
– Ung rông, gồm chồng của bà nội, bác gái, mẹ, dì.
– Dăm dei, gồm những người cùng họ với ana govà được ana gogọi là bác trai, cậu, em trai, cháu trai.

Ana go, ung rông có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với dăm dei như sau:

Khi dăm dei gặp hoạn nạn ana govà ung rông là người phải giúp đỡ để người này qua cơn hoạn nạn. Trường hợp dăm dei ngoại tình bị bắt quả tang, họ phải đứng ra lo việc phạt vạ và bồi thường theo đúng luật tục. Ngày dăm dei đi lấy vợ, ana golo sắm cho dăm dei một cái xà gạc, một cái cuốc, một cái rìu để anh ta có công cụ làm nương rẫy nuôi vợ con và cha mẹ vợ. Khi dăm dei già yếu, không có ai nương tựa, ông ta sẽ về ở với cháu gái. Lúc dăm dei chết, nếu vợ con và gia đình đằng vợ chấp thuận, ana gosẽ mang thi thể dăm dei về phía họ mình để mai táng.

Continue reading

VƯỚNG MẮC PHÁP LÝ ĐIỂN HÌNH VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

ĐỖ QUỐC QUYỀN – Học viện Tài chính

Những vướng mắc pháp lý về tổ chức và quản lý công ty cổ phần trong pháp luật Việt Nam hiện hành chủ yếu là những mâu thuẫn giữa các quy định của Luật doanh nghiệp 2005 và một số văn bản pháp luật khác có liên quan dẫn đến việc giải thích và vận dụng sai lệch, không thống nhất hoặc những khuyết thiếu của pháp luật chưa đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh của các quan hệ xã hội phát sinh trong thực tế.

A. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN

1. Quy định về căn cứ và thời điểm xác lập tư cách cổ đông của Luật Doanh nghiệp không thực tế:

Về bản chất, tư cách cổ đông gắn liền với số cổ phần mà cá nhân, pháp nhân sở hữu (đã góp vốn cổ phần do Công ty phát hành hoặc nhận chuyển nhượng cổ phần từ các cổ đông khác). Tuy nhiên, Điều 87.3 Luật Doanh nghiệp (LDN) 2005 quy định: “Cổ phần được coi là đã bán khi được thanh toán đủ và những thông tin về người mua quy định tại khoản 2 Điều 86 của Luật này được ghi đúng, ghi đủ vào sổ đăng ký cổ đông; kể từ thời điểm đó, người mua cổ phần trở thành cổ đông của công ty”.

Chúng tôi xin đặt ra các vấn đề vướng mắc cần được pháp luật quy định rõ như sau:

• Người đã góp vốn cổ phần (có phiếu thu do Công ty cổ phần phát hành), nhưng chưa được đăng ký vào Sổ đăng ký cổ đông thì có tư cách cổ đông hay không? Việc ghi thông tin (bao gồm cả sửa chữa thông tin) tại Sổ đăng ký cổ đông là sự đăng ký mang tính thủ tục hay là điều kiện nội dung của tư cách cổ đông?

• Tư cách cổ đông do nhận chuyển nhượng cổ phần: Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần có buộc phải có xác nhận của công ty không? Việc Hợp đồng chuyển nhượng được ký kết nhưng chưa đăng ký tại Sổ đăng ký cổ đông đã có hiệu lực hay chưa? Giá trị pháp lý của việc Công ty xác nhận Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần là gì?

Chúng tôi muốn kiến nghị rằng: Pháp luật cần quy định rõ theo hướng, thời điểm xác lập tư cách cổ đông là thời điểm hoàn thành việc góp vốn cho cổ phần tương ứng (căn cứ: phiếu thu) hoặc thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng cổ phần (căn cứ: hợp đồng chuyển nhượng cổ phần được ký kết kèm theo các tài liệu chứng minh tư cách cổ đông của bên chuyên nhượng). Việc đăng ký tại Sổ đăng ký cổ đông chỉ là thủ tục hình thức, giúp cho Công ty quản lý và liên hệ cổ đông.

2. Yêu cầu huỷ bỏ quyết định của ĐHĐCĐ quy định tại Điều 107 LDN 2005 chưa hợp lý vì không rõ ràng:

Continue reading

XÂY DỰNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ CỦA CHỦ SỞ HỮU

LÊ VĂN TỨ

Nghị định 25/2010/NĐ-CP ngày 19-3-2010 về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty TNHH một thành viên và tổ chức quản lý công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu đã dựng nên một bộ khung cho cơ chế quản lý công ty loại này. Cho nên việc xây dựng cơ chế quản lý mới này đồng nghĩa với việc triển khai thực hiện Nghị định 25 (và có thể còn phải có những văn bản khác nhằm bổ sung, cụ thể hóa những vấn đề mà Nghị định 25 quy định chưa đủ rõ).

Cơ chế quản lý không thể rập khuôn

Căn cứ vào thực tế nền kinh tế nước ta hiện nay, có thể thấy thành phần kinh tế nhà nước đã được tổ chức theo hai loại hình doanh nghiệp: a) công ty TNHH một thành viên vẫn do Nhà nước làm chủ sở hữu duy nhất; b) công ty cổ phần (có vốn nhà nước) thuộc sở hữu hỗn hợp, trong đó Nhà nước là một đồng sở hữu.

Sở hữu khác nhau thì cơ chế quản lý phải khác nhau. Cho nên cơ chế quản lý của Nhà nước đối với công ty TNHH một thành viên phải khác với cơ chế quản lý phần vốn của Nhà nước trong các công ty cổ phần. Tiếc rằng tư duy này hình như vẫn chưa hình thành rõ nét ở nước ta.

Cho đến nay nhiều người vẫn coi việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã làm và còn tiếp tục làm, cũng như việc chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên gần đây là đồng nghĩa với việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước, trong khi thực ra tất cả đều mới chỉ là bước khởi đầu, bước chuyển đổi về sở hữu trên danh nghĩa. Sau bước chuyển đổi này, cần phải có bước chuyển đổi thực chất thông qua việc xây dựng và áp dụng một cơ chế quản lý mới phù hợp với tính chất sở hữu đã có thay đổi.

Thật vậy, sau cổ phần hóa (hoặc chuyển đổi), doanh nghiệp nhà nước A hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước được chuyển thành công ty cổ phần A (có vốn nhà nước) hoặc thành công ty TNHH một thành viên A hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Tính chất sở hữu của công ty cổ phần A và công ty TNHH một thành viên A không còn giống nhau nữa. Để bảo đảm cơ chế quản lý phù hợp với tính chất sở hữu, vấn đề đặt ra là cơ chế quản lý của Nhà nước với tư cách chủ sở hữu đối với các công ty này không thể rập khuôn như nhau.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 2813/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 17 THÁNG 8 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ TẠM GIỮ TIỀN LƯƠNG, TIỀN THƯỞNG VÀ TRỢ CẤP THÔI VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

Kính gửi:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Khánh Hòa

Trả lời công văn số 889/LĐTBXH-LĐTLBHXN ngày19/7/2010 của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Khánh Hòa về việc người sử dụng lao động tạm giữ tiền lương, tiền thưởng và trợ cấp thôi việc của người lao động trong thời gian hai bên đang tranh chấp về bồi thường chi phí đào tạo, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Điều 43 của Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung thì trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên. Do vậy, nếu trường hợp người lao động của công ty Hyndai-Vinashin xin đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo đúng quy định của pháp luật thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của người lao động, bao gồm: tiền lương, tiền thưởng và trợ cấp thôi việc (nếu có).

Việc giải quyết tranh chấp về bồi thường chi phí đào tạo sẽ căn cứ trên phán xét của Tòa án để xem xét, giải quyết.

Đề nghị Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Khánh Hòa căn cứ vào hợp đồng lao động, quy trình chấm dứt hợp đồng lao động và quy định tại Điều 43 của Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung nêu trên để hướng dẫn công ty thực hiện theo đúng quy định của Nhà nước.

TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ LAO ĐỘNG-TIỀN LƯƠNG
Tống Thị Minh

NGHỊ ĐỊNH SỐ 91/2010/NĐ-CP NGÀY 20 THÁNG 8 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG DÔI DƯ KHI SẮP XẾP LẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN DO NHÀ NƯỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chính sách đối với người lao động dôi dư trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu hoặc do tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội làm chủ sở hữu (sau đây gọi chung là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu) được chuyển đổi từ công ty nhà nước, công ty thuộc các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội theo quy định về chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nhưng chưa giải quyết chính sách lao động dôi dư theo Nghị định số 41/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 4 năm 2002, Nghị định số 155/2004/NĐ-CP ngày 10 tháng 8 năm 2004, Nghị quyết số 07/2007/NQ-CP ngày 06 tháng 02 năm 2007, Nghị định số 110/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ, nay tiếp tục thực hiện sắp xếp lại theo phương án được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, bao gồm:

1. Cổ phần hóa, giao, bán.

2. Chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.

3. Chuyển thành đơn vị sự nghiệp.

4. Giải thể, phá sản.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Người lao động dôi dư đang thực hiện hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc có thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên quy định tại Điều 1 Nghị định này, gồm:

a) Người lao động được tuyển dụng lần cuối cùng vào công ty quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 1 Nghị định này trước ngày 21 tháng 4 năm 1998 (thời điểm thực hiện Chỉ thị số 20/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước), gồm:

Continue reading