HIỆP ĐỊNH VỀ HẦNG RÀO KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI VÀ VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN TẠI VIỆT NAM

THS. VŨ THẾ QUANG – Cục Hàng hải Việt Nam

Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ra đời trên cơ sở Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới, do các nước thành viên của GATT ký ngày 14/4/1994 tại Ma-rốc, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1995 với trụ sở chính đặt tại Giơ-ne-vơ, Thụy Sỹ. WTO là tổ chức quốc tế, hoạt động dựa trên hệ thống các luật lệ, quy định, quyết định cũng như các phụ lục, giải thích để điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực thương mại quốc tế nhằm tạo ra một cơ chế điều tiết thương mại toàn cầu.

WTO có 4 chức năng chính, đó là:

  1. Hỗ trợ và giám sát việc thực hiện các hiệp định của WTO;
  2. Thúc đẩy tự do hóa thương mại và là diễn đàn cho các cuộc đàm phán thương mại;
  3. Giải quyết tranh chấp thương mại giữa các thành viên;
  4. Rà soát chính sách thương mại của các thành viên.

Mục tiêu hoạt động của WTO là nhằm thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hóa và dịch vụ trên thế giới; thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa phương, phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế; khuyến khích các nước hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới, đồng thời nâng cao mức sống, tạo thu nhập, việc làm cho người dân các nước thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động-xã hội tối thiểu được tôn trọng. WTO cũng đưa ra 4 nguyên tắc trong quan hệ thương mại, đó là: Chỉ được phép bảo hộ sản xuất và dịch vụ trong nước bằng thuế quan, không cho phép sử dụng các hạn chế định lượng (trừ trường hợp đặc biệt); thuế quan phải giảm dần và không tăng trở lại; áp dụng đãi ngộ tối huệ quốc; áp dụng đãi ngộ quốc gia.

Để thực hiện tốt chức năng và mục tiêu của mình, hoạt động của WTO chủ yếu dựa trên 18 hiệp định chính và 1 bộ quy tắc, bao gồm cả Hiệp định Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (Agreement on Technical Barries to Trade – TBT).

Continue reading

CÔNG TY CỔ PHẦN CÓ LÀ KINH TẾ TẬP THỂ?

ĐOÀN TIỂU LONG

Việc gán cho công ty TNHH và cổ phần thành hình thức “kinh tế tập thể” để né tránh sự kỳ thị, nhằm được hưởng những ưu đãi vốn đang dành cho thành phần kinh tế tập thể, có vẻ chỉ là một thay đổi danh nghĩa chứ khó có thể xem là một bước tiến mới về tư duy kinh tế.

TBKTSG số ra ngày 15.7.2010 có bài “Kinh tế tập thể gồm những hình thức tổ chức kinh tế nào?” của tác giả Anh Thư, trong đó đề xuất đưa công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty cổ phần vào loại “kinh tế tập thể”. Xin có vài lời trao đổi về đề tài thú vị này.

Có thể tóm tắt lập luận của tác giả Anh Thư như sau: Để xác định quan hệ sở hữu tư nhân thuộc thành phần kinh tế nào, thì nên xem xét tổng thể quan hệ của nó tới các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt, cùng với cơ chế quản lý và chế độ phân phối.

Theo tác giả, công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty cổ phần không thuộc quyền sở hữu của một cá nhân, mà của nhiều, thậm chí rất nhiều người. Quyền sử dụng, định đoạt khối tài sản của doanh nghiệp, cũng như cơ chế quản lý, điều hành doanh nghiệp mang tính tập thể rất rõ. Như thế, nếu các hợp tác xã được liệt vào loại kinh tế tập thể, thì có lẽ cũng nên làm như vậy đối với hai loại hình doanh nghiệp nói trên.

Có thể thấy tác giả không xác định rõ, cần bao nhiêu tiêu chí trong số 5 tiêu chí đó mang tính tập thể thì đó là kinh tế tập thể: chỉ cần một vài hay phải đầy đủ cả 5 tiêu chí. Chính vì thế, tác giả đã không giải thích rõ về tiêu chí cuối cùng – cơ chế phân phối (mà đây lại là tiêu chí hết sức quan trọng), và nghiễm nhiên coi việc hai loại hình doanh nghiệp nói trên có ba tiêu chí (sử dụng, định đoạt, quản lý) dường như mang tính tập thể thì nên liệt vào loại kinh tế tập thể.

Bây giờ ta thử quay lại phân tích xem liệu công ty TNHH, công ty cổ phần có thực là mang tính “tập thể” hay không.

Lập luận của tác giả cho rằng “mâu thuẫn cơ bản của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ngày nay đã được thay đổi với việc hình thành các công ty cổ phần” là thiếu xác đáng, một mặt vì công ty cổ phần không phải mới xuất hiện gần đây.

Continue reading

KHÔNG NÊN BỎ KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Nếu Quốc hội thông qua dự án luật tố tụng hành chính, cho phép tổ chức, cá nhân không đồng ý với quyết định hành chính, hành vi hành chính có thể khởi kiện ra toà ngay, thì quy định mới này không phải là lựa chọn tốt nhất.

Nếu Quốc hội thông qua dự án luật tố tụng hành chính, cho phép tổ chức, cá nhân không đồng ý với quyết định hành chính, hành vi hành chính (HC) có thể khởi kiện ra toà ngay mà không cần phải khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trước khi khởi kiện, với mục đích là “mở rộng quyền khởi kiện vụ án HC, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân được tự do lựa chọn cách thức giải quyết khiếu nại, khiếu kiện, mở rộng dân chủ trong xã hội, giảm bớt áp lực cho các cơ quan hành chính nhà nước” (bà Lê Thị Thu Ba, chủ nhiệm uỷ ban Tư pháp của Quốc hội), thì chắc chắn quy định mới này không phải là lựa chọn tốt nhất. Nó vừa không thích hợp để đạt được mục đích, vừa gây ra nhiều hệ luỵ tiêu cực mà đặc biệt là sẽ cản trở sự hoạt động trôi chảy của bộ máy nhà nước (NN).

Dưới góc nhìn thuần tuý pháp lý, việc khởi kiện không cần qua khiếu nại hành chính vi phạm ít nhất là hai nguyên tắc căn bản

Ở đâu cũng vậy, chỉ khi có tranh chấp, mới cần toà án. Các quyết định, hành vi HC trước hết là ý chí chủ quan một chiều của cơ quan HC. Đối tượng của quyết định, hành vi HC (tổ chức, cá nhân) có quyền thể hiện ý chí, quan điểm của mình đối với hoạt động này của cơ quan HC. Nếu đồng ý, họ sẽ tuân thủ quyết định, hành vi HC. Khi không đồng tình, họ có quyền nêu ý kiến của mình – dưới hình thức khiếu nại – để cơ quan HC xem xét. Ở đây, cũng như trong bất cứ một quan hệ ràng buộc trách nhiệm pháp lý của các bên tham gia nào, cơ quan HC có quyền và phải được tạo điều kiện sửa chữa sai lầm (nếu có) trong quyết định của mình, một quyết định vốn được hình thành khi chưa chú ý đến ý chí, quan điểm và hoàn cảnh cụ thể của đối tượng phải thực hiện quyết định. Ở giai đoạn này, chưa có tranh chấp, bất đồng ý kiến giữa hai bên, nên toà án không thể tham gia. Chỉ sau khi cơ quan HC bác bỏ khiếu nại, tức là đã xuất hiện tranh chấp giữa hai bên, mới có thể yêu cầu toà HC giải quyết.

Continue reading