PHẢN HỒI BÀI VIÊT: HỘI THẨM NHÂN DÂN PHẢI TƯƠNG TẦM VỚI TRỌNG TRÁCH ĐƯỢC GIAO

THS. CAO VIỆT THĂNG

Chế định Hội thẩm nhân dân là một trong những chế định rất quan trọng trong hoạt động xét xử ở nước ta . Tuy nhiên, để hiểu rõ về vai trò của Hội thẩm nhân dân đã có rất nhiều tranh luận và cách hiểu khác nhau xung quanh chế định này. Chẳng hạn, đọc bài viết của tác giả Cao Xuân Thu Vân tại địa chỉ: http://phapluatdansu.edu.vn/2010/01/08/4317/, tôi cho rằng cách hiểu của tác giả về chế định này có lẽ là chưa chính xác. Dưới đây là một số quan điểm của tác giả về chế định Hội thẩm nhân dân để tác giả Thu Vân và các độc giả cùng tham khảo.

Về nội dung của việc quy định về thành phần của Hội thẩm nhân dân phải đảm bảo đa số thành viên trong Hội đồng xét xử sơ thẩm các vụ án thì có rất nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng: Việc tham gia của Hội thẩm nhân dân là đảm bảo tính làm chủ của nhân dân trong quá trình xét xử. Hay ngay như trong Hiến pháp, ở Chương I – Về Chế độ chính trị có quy định: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân .  Nên việc quy định thành phần của Hội đồng xét xử đảm bảo sự đa số của số lượng Hội thẩm nhân dân là phù hợp…
Tuy nhiên, về mặt thực tiễn, chúng ta thấy nguồn của Hội thẩm nhân dân chủ yếu là các công, viên chức nhà nước thuộc nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau do Mặt trận tổ quốc giới thiệu  chứ không phải là những người dân thường không nằm trong biên chế của các cơ quan nhà nước. Do đó, có thể thấy rằng đó không phải là quy định nhằm bảo đảm tính “nhân dân” trong Hội đồng xét xử.

Về chuyên môn, nghiệp vụ có thể thấy rằng: việc quy định các Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán khi xét xử, rõ ràng Hội thẩm có đủ thẩm quyền quyết định mọi vấn đề trong quá trình xét xử, nghĩa là họ có quyền phán quyết kể cả những vấn đề hóc búa như định tội danh trong vụ án hình sự. Tuy nhiên, chỉ với tiêu chuẩn của Hội thẩm là: Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có kiến thức pháp lý, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đấu tranh bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được bầu hoặc cử làm Hội thẩm, thì khi gặp những bị cáo là những người có trình độ pháp luật, bị cáo có người giám hộ, người đại diện là các chuyên gia pháp luật, là một hay nhiều luật sư chuyên nghiệp trợ giúp thì chắc chắn với các tiêu chuẩn về Hội thẩm như trên sẽ không đủ năng lực và trình độ pháp lý để đấu lại họ và không thể phán xử được. Ở phương diện này, chắc chắn các nhà làm luật cũng đã biết được điều này. Và nếu họ thấy bất cập chắc hẳn phải đặt ra vấn đề sử dụng toàn bộ thành viên Hội đồng xét xử phải là các Thẩm phán chuyên nghiệp chứ sẽ không quy định việc tham gia của Hội thẩm vào thành phần của Hội đồng xét xử.

Continue reading

BÀN THÊM VỀ NHẦM LẪN TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ

PHẠM ĐỨC ANH

Đọc qua bài viết của tác giả Hoàng ThưTS. Đỗ Văn Đại tôi rất tán thành với đề nghị qui định lại thời hiệu yêu cầu. Qui định như hiện nay chẳng khác nào khuyến khích kẻ thực hiện hành vi lừa dối cần phải thực hiện thật tinh vi để người bị lừa dối không tài nào phát hiện trong thời hạn 2 năm hoặc tiến hành hành vi đe dọa, khủng bố trong khoảng thời gian hơn 2 năm để người bị đe dọa không thể thực hiện quyền yêu cầu của họ. Về vấn đề này tôi từng được nghe Tiến sĩ Dương Anh Sơn chia sẽ. Với tôi những bài viết như vậy thật sự rất hữu ích. Tuy nhiên tôi có một vài ý không tán đồng, xin được chia sẽ và rất mong nhận được ý kiến phản hồi của các tác giả.

Thứ nhất, tôi không đồng tình với những nhận xét về“nguyên nhân”nhầm lẫn của Hoàng Thư và TS Đỗ Văn Đại. Nhầm lẫn là sự hiểu không đúng về một sự vật, sự việc, tuy vậy theo tinh thần của Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 (BLDS) thì không phải bất cứ sự nhầm lẫn nào cũng dẫn tới hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu. Tôi ủng hộ tinh thần này. Và nếu tôi hiểu không sai thì BLDS không phân chia nhầm lẫn do lỗi vô ý và lỗi cố ý. Điều 131 chỉ điều chỉnh một trường hợp hợp giao dịch dân sự vô hiệu duy nhất là nhầm lẫn do có lỗi vô ý. Trường hợp cố ý để người khác hiểu sai sự vật, sự việc thì đó chỉ có thể là lừa dối. Lừa dối không đồng nghĩa với nói dối. Nếu hành vi nói dối chỉ có thể thể hiện qua hành động thì hành vi lừa dối còn bao gồm việc không hành động. Nói cách khác lừa dối có ngoại diên rộng hơn nói dối. Vì vậy sự “ nhầm lẫn do lỗi cố ý” mà các tác giả nhắc đến, theo tôi, là hành vi lừa dối và được điều chỉnh bởi Điều 132 BLDS. Điều chưa hoàn thiện tại Điều 131 BLDS ở đây, chính là các lập pháp gia đã cẩn thận một cách không cần thiết khi thêm câu “Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này”. Câu  thừa này, nói một cách công bằng, không phải là điều tai hại, nhưng thiết nghĩ nếu không có thì tốt hơn.

Continue reading