NGƯỜI VIỆT CÓ TRUYỀN THỐNG BẤT TUÂN PHÁP LUẬT?

THS. ĐINH THẾ HƯNG – Viện Nhà nước và Pháp luật

  Dân hai lăm triệu ai người lớn

Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con.(Tản Đà)

Cách đây vài năm không ít người Trung Quốc đã từng bị sốc khi cuốn “Người Trung Quốc xấu xí” của nhà văn Bá Dương ra đời. Sốc là phải thôi bởi từ lâu người ta đã quá quen với “những từ có cánh” để cho “cả nhà đều vui” khi nói về dân tộc mình .Thói thường “tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại” là cách ứng xử đã trở thành chuẩn mực giữa người với người và giữa mình với chính mình. Thế nhưng, một dân tộc mạnh phải biết nhìn thấy và dũng cảm thừa nhận những nhược điểm của mình. Nói cách khác, biết mình yếu ở chỗ nào tức là đã mạnh thêm được một ít. Còn thói xấu của người Việt mình không phải là không có chỉ có điều nó chưa được chỉ mặt đặt tên chính xác thôi. Bất tuân pháp luật – là một thói xấu như vậy.

Pháp luật- chắc nó trừ mình ra

   Biểu hiện của việc bất tuân pháp luật trước hết có thể tìm trong lịch sử. Đó là những cuộc khởi nghĩa nông dân liên miên của người Việt chống lại sự thống trị của ngoại bang trong đêm dài Bắc thuộc, trong những giai đoạn mà triều đình phong kiến đang suy vong và lòng dân không yên…Ngay cả bây giờ, tuy không phải là trào lưu nhưng ý thức tuân thủ pháp luật của dân mình còn kém lắm- có thể kể cả ngày không hết. Nhẹ thì vi phạm luật giao thông, mắt trước mắt sau không thấy cảnh sát đâu là vượt đền đỏ. Cao hơn tý nữa là lấn chiếm đất đai, rồi xây dựng trái phép… Điều đáng buồn nhất là người ta coi việc vi phạm ấy là cái gì đó có vẻ hay ho. Có chị mấy lần vượt đèn đỏ bị công an bắt hụt coi đó là chiến tích âm ỉ sung sướng mấy ngày chưa hết gặp ai cũng khoe. Những người nghành toà án có lẽ không ai là không cảm thấy chua chát khi đương sự của mình gọi mãi không đến hỏi tại sao thì họ bảo các cụ dạy “vô phúc đáo tụng đình” bởi “chờ được vạ thì má đã sưng”. Người ta đã đồng nghĩa pháp luật và toà án với xử phạt và trừng trị. Chính vì vậy, có làm ngành toà mới  có thể chia sẻ với Chánh án TANDTC đương nhiệm khi ông bày tỏ mơ ước trước Quốc hội có một ngày, ngành toà có  những “đương sự tốt, bị cáo tốt”. Có nghĩa là người dân thay vì chống đối hãy coi toà án là người bảo vệ công lý. Cho dù toà có phạt ai đi chăng nữa cũng không ngoài mục đích đem đến sự an toàn pháp lý cho xã hội và bảo vệ con người. Nghe nói ở một số nước, luật bảo vệ môi trường và động vật cũng như ý thức tuân thủ pháp luật của họ cao đến mức chim bồ câu có thể thanh thản dạo chơi và kiếm ăn hàng đàn trên các quảng trường thành phố và được con người coi ngươi đối xử như những người bạn. Trộm nghĩ nếu như ở nước mình quảng trường có nuôi chim là mơ ước của mấy ông ông bợm nhậu . Chỉ có thịt chim ngon và bổ là có thật còn pháp luật này nọ – chắc nó trừ mình ra.

Continue reading →

VỀ BẢO HIỂM CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI CHO NÔNG DÂN

ĐỖ MAI THÀNH

Hằng năm, sản xuất nông nghiệp nước ta thường thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh… rất lớn, nhiều trường hợp làm cho người nông dân điêu đứng, rơi vào cảnh không nhà cửa, vỡ nợ… Thế nhưng thị trường bảo hiểm nông nghiệp (bao gồm cây trồng, vật nuôi) đầy tiềm năng lại đang bị bỏ ngỏ. Điều tưởng chừng hết sức phi lý đó thực tế đang xảy ra ở nước ta, khi nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng cao. Vậy đâu là nguyên nhân và hướng đi cho loại hình bảo hiểm này.

Bảo hiểm cây trồng, vật nuôi đã được đề cập và thực thi từ lâu. Ở các nước phát triển, vấn đề này luôn được nhà nước chú ý quan tâm, với nhiều chính sách hỗ trợ cho người nông dân trong việc đóng phí bảo hiểm nhằm giảm thiểu những thiệt hại khi gặp rủi ro lớn.

Đối với Việt Nam, bảo hiểm nông nghiệp càng trở nên cần thiết, bởi là một nước nông nghiệp, trên 70% số hộ gia đình sống bằng nghề nông, sản xuất luôn bị tiềm ẩn nhiều nguy cơ do thiên tai, dịch bệnh (nước ta được xác định là 1 trong 10 nước gánh chịu nhiều thiên tai nhất thế giới, hằng năm thiên tai và dịch bệnh thường "cướp đi" 13 – 15 nghìn tỉ đồng (tương đương 1,5% GDP). Nếu không có bảo hiểm nông nghiệp, mỗi khi gặp rủi ro, người nông dân sẽ bị mất trắng và họ dễ dàng rơi vào cảnh nghèo đói hoặc tái đói, tái nghèo, từ đó sẽ kéo theo nhiều vấn đề xã hội nan giải khác.

Trước tình hình đó, những năm qua, Nhà nước đã ban hành một số quy định về bảo hiểm nông nghiệp. Cụ thể là:

– Điều 4, Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định: "Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với các nghiệp vụ bảo hiểm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là chương trình phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp";

– Nghị quyết số 26-NQ/TW, về nông nghiệp, nông dân, nông thôn nêu: "… thí điểm bảo hiểm nông nghiệp, bảo đảm mức sống tối thiểu cho cư dân nông thôn";

Continue reading →

NHỮNG CHƯỚNG NGẠI VẬT TRÊN HÀNH LANG PHÁP LÝ VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

DƯƠNG THANH MINH – Trưởng phòng Quản lý, Xử lý và Mua bán nợ, BacA AMC

Cùng với việc ban hành các đạo luật quan trọng như Luật Đất đai năm 2003, Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật Nhà ở năm 2005, Bộ luật Hàng hải năm 2005, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006… và đặc biệt là Bộ luật Dân sự năm 2005, pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã không ngừng được củng cố, hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý an toàn, hiệu quả cho việc xác lập và thực hiện các giao dịch này. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu việt không thể phù nhận, thì vẫn còn tồn tại một số “chướng ngại vật” trên hành lang pháp lý này cần được kịp thời dẹp bỏ, tạo luồng thông thoáng cho áp dụng pháp luật.

1. Khó khăn trong xác định bên bảo đảm là hộ gia đình, quy định về định đoạt tài sản bảo đảm của hộ gia đình chưa rõ ràng

a. Về xác định hộ gia đình

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì hộ gia đình là hộ “mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này” (Điều 106) và tài sản chung của hộ gia đình gồm: “quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ” (Điều 108). Như vậy, hộ gia đình theo quy định của pháp luật dân sự là tập hợp nhóm thành viên hộ có quan hệ về tài sản và đồng thời là chủ thể của giao dịch dân sự. Tuy nhiên, do pháp luật hiện hành chỉ mới dừng lại ở những quy định mang tính nguyên tắc chung như trên mà chưa quy định cụ thể về tiêu chí và cơ chế thực hiện, nên việc xác định hộ gia đình với tư cách là chủ thể của pháp luật dân sự nói chung, bên bảo đảm nói riêng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.

Một trong những hệ quả tất yếu của vấn đề nêu trên là trong thực tế áp dụng thường căn cứ vào Sổ hộ khẩu và xem đây là “bảo bối” để xác định về chủ thể này (ví dụ, các bên và cơ quan công chứng yêu cầu tất cả các thành viên có tên trong Sổ hộ khẩu phải ký tên vào hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất)1.

Continue reading →

TRANH CHẤP TÀI SẢN: CHA CON TRANH ĐẤT, ÁN TUYÊN NỬA VỜI

TẤN TÀI

Tòa bảo người con đã lợi dụng sơ hở của cha mẹ khai thêm mảnh vườn cao su vào hợp đồng tặng cho.

Theo đơn khởi kiện của vợ chồng ông M., năm 2009, vợ chồng ông đã cho vợ chồng con trai gần 300 m2 đất và một căn nhà cấp bốn.

Kiện con đòi lại nhà, đất

Nhưng lúc làm hợp đồng, do tuổi già nhầm lẫn, ông M. lại nhiều lần mổ não, tinh thần không minh mẫn và ông bà tin tưởng con trai nên đã không xem lại nội dung hợp đồng. Lợi dụng sơ hở trên của ông bà, người con trai đã kê khai thêm hơn 60.000 m2 đất trồng cao su. Sau đó vợ chồng người con đã chuyển quyền sở hữu toàn bộ tài sản trên.

Cuối năm 2009, ông bà phát hiện ra sự gian dối nên đã đòi con phải trả lại mảnh vườn cao su. Tuy nhiên, người con trai đã không đồng ý.

Theo người con trai, cha mẹ đã cho toàn bộ tài sản trên. Từ đó, ông đã được ủy ban huyện cấp giấy chứng nhận. Việc tặng cho là hợp pháp nên ông không việc gì phải trả lại tài sản cho cha mẹ.

Thỏa thuận không xong, ông bà M. đã làm đơn khởi kiện con trai ra TAND huyện Phú Giáo (Bình Dương) đòi lại toàn bộ đất đai, nhà cửa.

Kháng nghị vì chưa giám định tâm thần

Xử sơ thẩm, TAND huyện Phú Giáo nhận định vợ chồng ông M. đã tự nguyện cho vợ chồng con trai ngôi nhà và gần 300 m2 đất nên đã đến ủy ban để làm hợp đồng. Địa phương đã xác nhận và thửa đất đã chuyển quyền sử dụng cho người con trai. Do vậy, tòa công nhận phần nhà đất này thuộc quyền sở hữu của người con trai.

Continue reading →