TƯ DUY PHÁT TRIỂN VÀ VẤN ĐỀ THỰC THI LUẬT CẠNH TRANH TẠI VIỆT NAM

NCS. LÊ THÀNH VINH – Đại học Monash, Melbourne, Autralia

… Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu cố gắng trả lời câu hỏi về vấn đề thực thi Luật Cạnh tranh tại Việt Nam. Các nguyên nhân thường được đề cập là: các nguồn lực thực thi Luật còn hạn chế; trình độ nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp và người dân nói chung về các quy định trong Luật Cạnh tranh chưa cao; bản thân Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn còn nhiều điểm chưa hoàn thiện, gây khó khăn cho việc giải thích và áp dụng trên thực tế…

1. Đặt vấn đề

Luật Cạnh tranh có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2005. Sau gần năm năm thực thi, mới có một vụ việc hạn chế cạnh tranh và 40 vụ việc cạnh tranh không lành mạnh được xử lý theo quy định của Luật. Mặc dù không phản ánh hết những công việc cơ quan thực thi Luật đã triển khai, nhưng những con số trên buộc những ai quan tâm đến Luật Cạnh tranh phải đặt câu hỏi về sức sống của đạo luật quan trọng này tại Việt Nam.

Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu cố gắng trả lời câu hỏi trên. Các nguyên nhân thường được đề cập là: các nguồn lực thực thi Luật còn hạn chế; trình độ nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp và người dân nói chung về các quy định trong Luật Cạnh tranh chưa cao; bản thân Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn còn nhiều điểm chưa hoàn thiện, gây khó khăn cho việc giải thích và áp dụng trên thực tế.

Một lý do khác rất đáng chú ý mà các nghiên cứu đã chỉ ra là văn hoá pháp lý và văn hóa cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế. “Người Việt Nam dường như chưa nhận thấy sức mạnh và nguồn lợi to lớn của cạnh tranh, và vì thế chưa yêu mến, chưa chủ động tạo ra và chưa quyết tâm bảo vệ lấy cạnh tranh. Trong một xã hội đóng kín, thì dấu ấn của “chủ nghĩa giáo điều trong trí thức, chủ nghĩa quan liêu trong giới cầm quyền và chủ nghĩa bình quân trong nhân dân lao động” là nặng nề1. Giáo điều, quan liêu hay bình quân chủ nghĩa đều chưa quen với cạnh tranh trong kinh doanh, bởi cạnh tranh làm cho cuộc sống bị thách thức, bị đảo lộn bởi đủ loại đối thủ vào bất cứ lúc nào; một cuộc sống căng thẳng như vậy chẳng dễ chịu chút nào. Thành ra, làm thương nhân ai cũng cố né tránh cạnh tranh, nếu có điều kiện. Chỉ có điều, nếu điều ấy tiếp diễn, thì toàn bộ nền kinh tế quốc gia và người tiêu dùng nước ta không được lợi”2.

Văn hóa là yếu tố ảnh hưởng nhiều đến việc hình thành tư duy và đến lượt nó chi phối hành động của các chủ thể. Thay đổi văn hóa và tư duy là vấn đề lâu dài nhưng lại là vấn đề căn bản có tính quyết định đến những thay đổi khác trong xã hội. Những nhận định về văn hóa của doanh nghiệp Việt Nam nói trên cho thấy, xây dựng văn hóa cạnh tranh cần đặt ra như một nhiệm vụ hàng đầu và lâu dài trong quá trình đưa Luật Cạnh tranh vào cuộc sống.

Continue reading →

MẠO HIỂM VỚI … HỢP ĐỒNG GÓP VỐN

THS. NGUYỄN MAI PHƯƠNG- EP LEGAL

Hợp đồng góp vốn trong giao dịch bất động sản thường được nhà đầu tư sử dụng như một cách “níu chân” khách hàng. Tuy nhiên, đối với khách hàng, mức độ mạo hiểm cảu loại hợp đồng này không kém… làm xiếc là mấy!

Nhu cầu về nhà ở của người dân hiện rất lớn, vì vậy cần một khung khổ pháp lý hoàn thiện và chặt chẽ để bảo vệ được quyền lợi của người dân và nhà đầu tư

Trong thời gian vừa qua, nhiều dự án bất động sản đã huy động vốn từ khách hàng thông qua hình thức ký hợp đồng góp vốn, hợp đồng vay vốn, hợp đồng hợp tác kinh doanh. Có rất ít chủ đầu tư đồng ý thương lượng đàm phán các điều khoản trong các hợp đồng này với khách hàng, nên khách hàng không có điều kiện để đảm bảo quyền lợi của mình khi góp vốn, cho vay vốn, hợp tác kinh doanh.

Mặt khác, khuôn khổ pháp lý về kinh doanh bất động sản dưới hình thức ký kết các hợp đồng này chưa được hoàn chỉnh khiến quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng chưa được chặt chẽ, đặc biệt là các cá nhân có nhu cầu đầu tư hoặc mua nhà để ở.

Góp vốn hay thu tiền ứng trước?

Theo quy định tại Luật Kinh doanh bất động sản, bất động sản được đưa vào kinh doanh phải đáp ứng một số điều kiện nhất định như phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất; phải có hồ sơ dự án, thiết kế, tiến độ xây dựng…

Tuy nhiên, do thủ tục hành chính xin cấp các loại giấy phép trên có thể kéo dài nhiều tháng trong khi các chủ đầu tư dự án muốn huy động vốn để thực hiện dự án ngay trước mắt nên Luật Kinh doanh bất động sản cho phép thực hiện việc mua bán, chuyển nhượng bất động sản theo hình thức ứng tiền trước.

Hình thức này chỉ áp dụng đối với việc mua bán nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai với điều kiện lần thu tiền đầu tiên chỉ thực hiện khi chủ đầu tư đã xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho bất động sản.

Luật Nhà Ở cũng ràng buộc các điều kiện tương tự khi chủ đầu tư huy động vốn từ tiền ứng trước của người mua bao gồm có thiết kế nhà ở đã được phê duyệt và xây dựng xong phần móng. Ngoài ra, Luật này còn quy định mức huy động vốn không được vượt quá 70% giá trị nhà ở ghi trong hợp đồng.

Continue reading →

NGHỊ ĐỊNH SỐ 87/2010/NĐ-CP NGÀY 13 THÁNG 8 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Hải quan ngày 29 tháng 6 năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Đối tượng chịu thuế

Hàng hóa trong các trường hợp sau đây là đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, trừ hàng hóa quy định tại Điều 2 Nghị định này:

1. Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam bao gồm: hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu đường bộ, đường sông, cảng biển, cảng hàng không, đường sắt liên vận quốc tế, bưu điện quốc tế và địa điểm làm thủ tục hải quan khác được thành lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Hàng hóa được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước.

Khu phi thuế quan bao gồm: khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, khu bảo thuế, kho ngoại quan, khu kinh tế thương mại đặc biệt, khu thương mại – công nghiệp và các khu vực kinh tế khác được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, có quan hệ mua bán trao đổi hàng hóa giữa khu này với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu.

3. Hàng hóa mua bán, trao đổi khác được coi là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Điều 2. Đối tượng không chịu thuế

Hàng hóa trong các trường hợp sau đây là đối tượng không chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:

1. Hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc chuyển khẩu qua cửa khẩu Việt Nam theo quy định của pháp luật.

Continue reading →

NGHỊ ĐỊNH SỐ 88/2010/NĐ-CP NGÀY 16 THÁNG 8 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT, HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VỀ QUYỀN ĐỐI VỚI GIỐNG CÂY TRỒNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Sở hữu trí tuệ ngày 29 tháng 11 năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ ngày 19 tháng 6 năm 2009;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về quyền đối với giống cây trồng, bao gồm: trách nhiệm quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng; trình tự thủ tục xác lập quyền đối với giống cây trồng; quyền và nghĩa vụ của chủ bằng bảo hộ và tác giả giống cây trồng; chuyển giao, chuyển nhượng quyền đối với giống cây trồng được bảo hộ; đại diện quyền đối với giống cây trồng.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với:

1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam;

2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài là các đối tượng được quy định tại khoản 18 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Chủ đơn là tổ chức, cá nhân có quyền nộp đơn đăng ký bảo hộ quyền đối với giống cây trồng theo quy định tại khoản 2 Điều 164 của Luật Sở hữu trí tuệ.

2. Người nộp đơn là chủ đơn hoặc người đại diện hợp pháp của chủ đơn;

3. Chủ bằng bảo hộ giống cây trồng là tổ chức, cá nhân được cấp bằng bảo hộ quyền đối với giống cây trồng;

Continue reading →

NGÔ BẢO CHÂU! CHÚNG TÔI TIN ANH LÀ NGƯỜI YÊU NƯỚC!

Vào hồi 12h 55 ngày 19/8/2010 (giờ Hà Nội), GS. Ngô Bảo Châu đã đoạt giải fields – Giải “nobel” của toán học.

ngbaochau.jpg.jpgĐINH THẾ HƯNG – Viện Nhà nước và Pháp luật

Luật Viên chức đang được soạn thảo mà mong muốn của những người dự thảo là cho phép người Việt ở nước ngoài về làm viên chức nếu về nước. Nhưng đâu đó vẫn có ý kiến khác băn khoăn không đáng kiểu như nên cho hay không cho về? Điều đó có dễ làm những trí thức có tài có tâm với đất nước chạnh lòng..

Bia tiến sĩ Quốc Tử giám trân trọng ghi: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Hiền tài của bất cứ quốc gia nào đều là của hiếm và đương nhiên của hiếm thì khó tìm và khó giữ. Có được đội ngũ hiền tài là mơ ước của mọi chế độ. Tuy nhiên, điều này phụ thuộc vào nhiều thứ trong đó có yếu tố quan trọng là vận nước. Có những lúc chúng ta ở trong tình trạng “Tuấn kiệt như sao buôi sớm, nhân tài như lá mùa thu” như Nguyễn Trãi từng than thở. Năm nào Việt Nam cũng có những học sinh thi quốc tế đoạt huy chương . Nhưng qua sự chọn lọc khắc nghiệt của thời gian, của khoa học đã chứng tỏ tài năng nào là ngôi sao băng vụt sáng phút chốc rồi rơi vào “bẫy trung bình” của trí thức, mãi mãi sống với ánh hào quang của tấm huy chương vàng của quá khứ. Ngô Bảo Châu một tài năng toán học đích thực là hiền tài. Thế hệ chúng tôi 20 năm trước đã coi Ngô Bảo Châu là thần tượng của mình. Hai lần đoạt Huy chương vàng toán quốc tế, Giáo sư của đại học Đại học Paris XI, Đại học Chicago danh tiếng ở độ tuổi 27. Những người Việt Nam trên toàn thế giới trong đó có những người làm khoa học như chúng tôi sẽ vỡ òa trong niềm vui sướng khi cái tên Ngô Bảo Châu được xướng lên trong lễ trao giai thưởng toán học thế giới. Tiếng đàn Bá Nhá phải chờ có Chung Tư Kỳ. Lưu Bị 3 lần đến lều cỏ thỉnh cầu Khổng Minh xuống núi chỉ giáo mấy đường chính pháp trị nước. Mới đây, Phó thủ tướng Việt nam lần đầu tiên đã trân trọng mới GS Ngô Bao Châu về Việt Nam làm việc. Vì sao Giáo sư không nhận lời về ngay với lý do nào chi ông mới biết. Nhưng ông cũng nên phải ghi nhận tấm thịnh tình của đất nước mình.

Continue reading →

QUẢN TRỊ ĐIỀU HÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN: NHỮNG VƯỚNG MẮC TỪ … PHÁP LÝ

ĐỖ QUỐC QUYỀN – Học viện Tài chính

Những bất cập trong quản trị điều hành DNNN đã được các chuyên gia “mổ xẻ” rất nhiều. Tuy nhiên, vấn đề quản trị, điều hành trong các Cty cổ phần cũng đang gặp nhiều vướng mắc pháp lý.

Luật DN 2005 ra đời được coi là “kim chỉ nam” để các loại hình DN hoạt động. Không thể phủ nhận những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, những vướng mắc từ thực tế đối với loại hình DN cổ phần lại bắt nguồn từ chính luật này.

Tổ chức bộ máy quản trị

Quy định về căn cứ và thời điểm xác lập tư cách cổ đông của Luật doanh nghiệp (LDN) không thực tế. Về bản chất, tư cách cổ đông gắn liền với số cổ phần mà cá nhân, pháp nhân sở hữu (đã góp vốn cổ phần do Cty phát hành hoặc nhận chuyển nhượng cổ phần từ các cổ đông khác). Điều 87.3 LDN 2005 quy định: “Cổ phần được coi là đã bán khi được thanh toán đủ và những thông tin về người mua quy định tại khoản 2 Điều 86 của luật này được ghi đúng, ghi đủ vào sổ đăng ký cổ đông; kể từ thời điểm đó, người mua cổ phần trở thành cổ đông của Cty”.

Tuy nhiên, chúng tôi xin đặt ra các vấn đề vướng mắc cần được pháp luật quy định rõ như sau:

Thứ nhất, người đã góp vốn cổ phần (có phiếu thu do CTCP phát hành), nhưng chưa được đăng ký vào Sổ đăng ký cổ đông thì có tư cách cổ đông hay không ? Việc ghi thông tin (bao gồm cả sửa chữa thông tin) tại Sổ đăng ký cổ đông là sự đăng ký mang tính thủ tục hay là điều kiện nội dung của tư cách cổ đông? Tư cách cổ đông do nhận chuyển nhượng cổ phần: Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần có buộc phải có xác nhận của Cty không? Việc Hợp đồng chuyển nhượng được ký kết nhưng chưa đăng ký tại Sổ đăng ký cổ đông đã có hiệu lực hay chưa? Giá trị pháp lý của việc Cty xác nhận Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần là gì?

Continue reading →

KHÓ XÁC ĐỊNH CƠ QUAN PHẢI BỒI THƯỜNG TRONG TỐ TỤNG

NGUYỄN XUÂN VIỄN

Kể từ 1.1.2010, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực thi hành (Luật TNBTCNN). Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 16/2010/NĐ-CP, ngày 3.3.2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TNBTCNN. Qua thời gian triển khai thực hiện và những phát sinh trên thực tế cho thấy, việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường có những vướng mắc, rất cần được hướng dẫn kịp thời và quy định cụ thể hơn, đặc biệt là về xác định trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự.

Theo quy định tại các Điều 30, 31, 32, 33 của Luật TNBTCNN thì các cơ quan có liên quan trong hoạt động tố tụng hình sự (Công an, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân) đều có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi có lỗi của cơ quan đó gây ra. Tuy nhiên, quy định việc xác định như trên chưa cụ thể, sẽ khó áp dụng trên thực tế đối với một số trường hợp. Cụ thể, Luật quy định: “Cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm bồi thường trong các trường hợp sau đây:
1. Đã ra quyết định tạm giữ người nhưng Viện kiểm sát có thẩm quyền đã có quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ đó vì người bị tạm giữ không có hành vi vi phạm pháp luật;

2. Đã ra quyết định khởi tố bị can, nhưng Viện kiểm sát có thẩm quyền không phê chuẩn quyết định khởi tố, vì người bị khởi tố không thực hiện hành vi phạm tội.”

“Viện kiểm sát có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:

1. Đã phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ của cơ quan điều tra có thẩm quyền nhưng người bị tạm giữ không có hành vi vi phạm pháp luật;

2. Đã phê chuẩn lệnh tạm giam của cơ quan điều tra có thẩm quyền hoặc ra lệnh tạm giam, gia hạn tạm giam mà sau đó có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

3. Toà án cấp sơ thẩm trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng sau đó có quyết định của cơ quan có thẩm quyền đình chỉ điều tra vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

4. Đã có quyết định truy tố bị can nhưng Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội và bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật”

Continue reading →

MỘT TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

NICOLE SCHWAB VÀ ANIELA UNGURESAN (Quốc Dũng dịch)

Liệu có một tiêu chuẩn quốc tế cho bình đẳng giới? Và liệu chúng ta có thể áp dụng một tiêu chuẩn như vậy cho mọi công ty trên toàn thế giới để nam giới và nữ giới có cơ hội bình đẳng nhau?

Ngày nay, tại một vài quốc gia, chủ yếu ở châu Âu và Mỹ La tinh, đã bắt đầu triển khai các hệ thống chứng nhận có bao gồm một số khía cạnh của bình đẳng giới. Tuy nhiên, không có một tiêu chuẩn quốc tế nào được áp dụng cho các công ty lớn nhất trên thế giới xuyên suốt các quốc gia mà họ hoạt động.

Dựa vào những gì họ đạt được và tiềm năng của các công ty này – không chỉ bởi hàng trăm nghìn nam giới và nữ giới họ đang sử dụng, mà còn bởi họ có thể đóng vai trò thực hành tốt nhất – chúng tôi tin tưởng rằng một tiêu chuẩn quốc tế sẽ đem lại hiệu quả sâu rộng.

Với ý tưởng này chúng tôi đã phát triển một phương pháp để các công ty có thể có được sự hiểu biết toàn diện về mình trong vấn đề bình đẳng giới. Phương này có thể dùng như một công cụ quản lý đồng thời đóng hai vai trò là cơ sở cho việc thiết lập một tiêu chuẩn toàn cầu cho bình đẳng giới, và đánh giá các công ty về vấn đề này.

Các công ty đạt tiêu chuẩn sẽ được công nhận thông qua một nhãn hiệu toàn cầu về bình đẳng giới, nhãn hiệu này sẽ được đưa vào sử dụng trong tháng 1 năm 2011 bởi tổ chức của chúng tôi, Gender Equality Project.

Công cụ đánh giá của chúng tôi tập trung vào 5 lĩnh vực: Trả tiền bằng nhau cho các công việc tương đương, tuyển dụng và thăng tiến, đào tạo và tư vấn, và văn hóa tại công ty.

Trong từng lĩnh vực, chúng tôi không chỉ nắm bắt kết quả, mà cả những chính sách và thực tiễn đã chứng minh là có hiệu quả trong việc thúc đẩy bình đẳng giới nơi làm việc. Các công ty được đánh giá trên cả biện pháp định lượng và định tính.

Continue reading →

TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH: CÓ NÊN XỬ LẠI BẢN ÁN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO?

THANH TÙNG

Một vấn đề pháp lý được nhiều người quan tâm trước khi thông qua dự luật tố tụng hành chính là việc giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm những bản án hành chính đã hết thời hạn kháng nghị.

Cạnh đó, việc xem lại những bản án giám đốc thẩm của TAND Tối cao khi phát hiện có sai lầm nghiêm trọng cũng gây nhiều tranh cãi…

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính hiện hành quy định những bản án “có vấn đề” nhưng đã có hiệu lực pháp luật và hết thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm (một năm) thì không ai có quyền xem xét lại.

Kháng nghị án hết thời hiệu

Trong dự luật tố tụng hành chính sắp được thông qua đã bổ sung thủ tục khi gặp những bản án này, viện trưởng VKSND Tối cao và chánh án TAND Tối cao được quyền kháng nghị giám đốc thẩm.

Theo Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Phạm Quý Tỵ, quy định mới này rất tiến bộ, khắc phục được sai sót của các bản án hành chính mà trước nay pháp luật chưa trao cơ hội xem xét lại, cải thiện được tình trạng đương sự bức xúc khiếu nại kéo dài, gay gắt.

Đồng tình, một thẩm phán TAND tỉnh Bình Dương nhận xét đưa quy định trên vào dự luật là rất cần thiết. Thực tế có nhiều trường hợp đơn đề nghị xem xét giám đốc thẩm của đương sự gửi từ rất sớm nhưng người có thẩm quyền chưa kiểm tra được ngay, khi phát hiện sai sót thì đã hết thời hạn kháng nghị khiến quyền lợi chính đáng của đương sự bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Continue reading →

PHIÊN TÒA LƯU ĐỘNG: TỒN TẠI HAY KHÔNG TỒN TẠI?

legal2 THS. ĐINH THẾ HƯNG – Viện Nhà nước và Pháp luật

Tại sân kho hợp tác xã, tại trụ sở UBND xã có khi chỉ là bãi đất trống…phía trên hội đồng xét xử trang nghiêm làm việc, phía dưới dân chúng đủ các thành phần kẻ đứng người ngồi đủ tư thế chăm chú xem toà xét xử. Thỉnh thoảng có vỗ tay hoặc ồ lên phản đối…Đó chính là quang cảnh thường thấy của các phiên toà xét xử lưu động. Mỗi người đến xem phiên toà lưu động với mục đích khác nhau nhưng phần nhiều là có mục đích thoả chí tò mò và xem mặt bị cáo.

Không ai có thể phủ nhận hiệu quả mà các phiên toà lưu động đã mang lại trong thời gian qua. Với những phiên toà này, toà án không chỉ thực hiện được chức năng xét xử mà còn còn đem đến cho dân chúng cơ hội để hiểu biết pháp luật, từ đó đạt được mục đích giáo dục phòng ngừa chung . Ở mức độ nào đó, xét xử lưu động còn thể hiện tính công khai minh bạch, dân chủ của hoạt động tư pháp trong một nhà nước văn minh. Các phiên toà lưu động càng được đánh giá cao hơn khi đặt nó trong bối cảnh các toà án địa phương còn gặp nhiều khó khăn về kinh phí, nhân lực, địa hình, địa lý…để đưa công lý tiếp cận gần dân hơn. Tuy nhiên, trong một nhà nước pháp quyền mà chúng ta đang hướng tới- một nhà nước mà tự do và phẩm giá con người cho dù họ là người bị buộc tội, được đưa lên hàng đầu thì có lẽ phải đặt ra vấn đề nên hay không nên duy trì các phiên toà lưu động?

Trước hết, xét xử lưu động là việc toà án đưa vu án ra xét xử (tổ chức phiên toà) công khai không phải tại công đường mà thường tại nơi tội phạm được thực hiện hoặc nơi có tranh chấp xảy ra , nơi bị cáo, các đương sự cư trú… Cũng giống như các phiên toà bình thường, bị cáo bị xét xử bằng phiên toà lưu động vẫn phải chịu TNHS theo quy định của pháp luật nếu họ có tội. Nhưng bên cạnh các quy định của pháp luật, bị cáo bị xét xử lưu động dường như còn phải chịu sự buộc tội, một sức ép nặng nề khác từ phía đám đông với vô số các quy phạm xã hội như đạo đức, cộng đồng, dòng họ, tôn giáo mà nếu xét xử tại công đường họ không phải chịu. Lý luận chung về pháp luật đã chỉ ra rằng các quy phạm đạo đức, tôn giáo…có sức mạnh điều chỉnh không kém các quy phạm pháp luật. Nhất là, không phải lúc nào các quy phạm xã hội và pháp luật cũng đồng nhất. Có những hành vi ở phương diện pháp luật thì không phạm tội nhưng ở phương diện đạo đức thì không phải vậy và ngược lại nhất là pháp luật trong xã hội phương Đông như Việt Nam. Chính vì vậy , trên thực tế , nhiều bị cáo cho rằng đưa họ về xét xử tại quê hương bản quán trước anh em họ hàng… là một hình phạt khủng khiếp không kém gì hình phạt tù. Ngay cả những người thân của họ cũng phải chịu sức ép ghê gớm từ dư luận nhiều khi làm đảo lộn mọi mối quan hệ mà họ đang có mà nếu chỉ xét xử tại công đường thì nỗi đau này có lẽ được giảm đi ít nhiều. Chính vì vậy, xét xử lưu động nhiều khi không phải công việc của Hội đồng xét xử nữa mà hao hao một kiểu xét xử tập thể mà nhiều nước Hồi giáo đang áp dụng. Còn nhớ cách đây không lâu nhiều tờ báo đã có bài về việc gia đình một bị cáo chạy chọt toà án để không phải xét xử lưu động. Ở mức độ nào đó đây là sự phản ứng tiêu cực trước việc bị xét xử ở quê. Đó là chưa kể đến việc vì lý do tuyên truyền, phòng ngừa, giáo dục răn đe…mà các hình phạt cho các bị cáo khi xét xử lưuu động hình như được các thẩm phán tuyên “nặng tay” hơn tay hơn.

Continue reading →

MỘT SỐ KINH NGHIỆM VÀ THÔNG LỆ QUỐC TẾ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

PGS.TS. HOÀNG VĂN HẢI & Th.S. TRẦN THỊ HỒNG LIÊN

Quản trị tốt được coi là tiêu chuẩn quan trọng của các doanh nghiệp. Chúng tôi sẽ giới thiệu một số kinh nghiệp quốc tế về phát triển, nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng quản trị và một số biện pháp đo lường chất lượng quản trị doanh nghiệp.

Đặt vấn đề

Quản trị tốt được coi là tiêu chuẩn quan trọng của các doanh nghiệp ở các nước thực hiện kinh tế thị trường đã lâu cũng như tại các nước đang chuyển đổi nền kinh tế. Theo nghiên cứu của hãng tư vấn McKinsey tiến hành với hơn 200 nhà đầu tư ở 31 nước thì có tới 3/4 số nhà đầu tư sẵn sàng chi phí thêm để có được bộ máy điều hành chất lượng hiệu quả. Tập đoàn Credit Lyonnais Securities Asia (CLSA) đóng trụ sở ở Hồng Kông cũng cho rằng, mối quan tâm lớn nhất của giới đầu tư đối với một doanh nghiệp là chất lượng quản trị.
Ở Việt Nam, với xu hướng phát triển của các doanh nghiệp gắn với huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán thì vấn đề nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp lại càng có ý nghĩa rất quan trọng.
Trong khuôn khổ quản trị doanh nghiệp (công ty), cấu trúc – hoạt động của hội đồng quản trị và đánh giá chất lượng quản trị doanh nghiệp là hai chủ đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi lẽ, lịch sử của quản trị doanh nghiệp không gì khác ngoài lịch sử của sự phát triển và hoàn thiện chức năng của hội đồng quản trị và chất lượng hoạt động của hội đồng này là một yếu tố quan trọng quyết định chất lượng quản trị doanh nghiệp nói chung.
1.    Hội đồng quản trị và quản trị doanh nghiệp: Sự hình thành và phát triển
Trong tác phẩm Sự giàu có của các quốc gia vào năm 1776, Adam Smith đã cho thấy ông hiểu về vấn đề quản trị công ty, cho dù ông chưa biết tới khái niệm này. Mặc dù những khám phá lý thuyết về quản trị công ty còn tương đối mơi mẻ, nhưng sự thực thi quản trị công ty lại là một hành động cổ xưa. Các vấn đề quản trị xuất hiện khi nào các các công ty có một đời sống riêng bên ngoài đời sống của các chủ sở hữu, khi nào quyền sở hữu một doanh nghiệp được tách rời khỏi quyền quản trị doanh nghiệp đó.
Vào năm 1604, công ty đầu tiên ra đời mang tên “Dutch – East – India Company”. Tiếp sau đó, trong suốt hai thế kỷ 17 và thế kỷ 18 là thời kỳ phát triển và thịnh vượng của các công ty độc quyền nhà nước.

Continue reading →

TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG NAM Á: ĐI TÌM GIẢI PHÁP HÒA BÌNH VÀ CÔNG LÝ DỰA TRÊN CHỨNG CỨ LỊCH SỬ VÀ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ

VŨ QUANG VIỆT

Tóm tắt phương pháp luận và kết quả chính của nghiên cứu

Bài viết này không còn là bản nháp, nhưng vẫn chỉ có thể coi là bản đúc kết tạm trong quá trình nghiên cứu về một vấn đề rất phức tạp. Như bất cứ một nghiên cứu mang tính khoa học nào, nó dựa trên các thông tin hiện có và các sự kiện được giới chuyên gia đánh giá là đáng tin cậy, và như thế trong tương lai khi có thêm các thông tin được đánh giá là đáng tin cậy, các đúc kết tạm ở bài này có thể thay đổi.

Bài viết này dựa trên quá trình nghiên cứu của tác giả được trình bày và trao đổi tại hai hội thảo về tranh chấp Biển Nam Trung Hoa (mà tác giả đề nghị nên gọi là biển Đông Nam Á), đã được trình bày ngày 18 tháng 11 năm 2009 tại Council on Southeast Asian Center, Yale University và ngày 25 tháng 3 năm 2010 tại Center for Vietnamese Philosophy, Culture, & Society, Temple University.

Tác giả cám ơn Giáo Sư Ngô Vĩnh Long và Giáo sư Trần Hữu Dũng đã đóng góp nhiều ý kiến cũng như tham gia tổ chức các cuộc hội thảo trên. Thời gian sau hai Hội thảo trên, tác giả cũng nhận được nhiều ý kiến và thông tin mới từ nhiều người, đặc biệt là bạn Nguyễn Tuân ở Ý và Dương Danh Huy ở Anh, Hồ Bạch Thảo ở Mỹ, Nguyễn Ngọc Giao ở Pháp qua đó tác giả đã điều chỉnh lại những sai sót trước đây. Mới nhất tác giả cũng tiếp cận được thêm một vài nghiên cứu (chưa phải hết) của anh Phạm Hoàng Quân ở Việt Nam, và cố gắng đưa vào bài này. Cũng xin cám ơn cô Phương Loan ở Vietnamnet đã giúp dịch bài tiếng Anh mà tác giả trình bày ở Temple University để sử dụng trong bài viết này. Tuy vậy phải nói những đúc kết trong bài viết là ý kiến riêng của tác giả, không một ai trong những người được nêu tên ở trên có trách nhiệm gì về chúng, thậm chí có người còn không đồng ý.

Bất cứ một cuộc tranh chấp nào mang tính quốc gia đều nhạy cảm. Người viết có thể chọn quan điểm của quốc gia mình để trình bày và diễn dịch sự kiện nhằm ủng hộ chủ quyền của nước mình và bác bỏ sự kiện và diễn dịch của nước khác. Cách tiếp cận này ở mức độ tốt nhất vừa đòi hỏi việc sưu tầm sự kiện chính xác, có nguồn gốc rõ ràng, vừa tìm cách sử dụng công pháp quốc tế nhằm thuyết phục người đọc, dư luận quốc tế, coi họ như những ông quan tòa có tri thức, sẵn sàng tìm hiểu sự việc và không thiên vị. Dù thế nào thì cách tiếp cận như vậy cũng không khách quan vì người viết sẽ chỉ trưng ra những cái có lợi cho mình và đào sâu vào những cái bất lợi cho địch. Cho đến nay, không có quyển sách nào vượt hơn được quyển sách Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands của bà luật sư Monique Chemillier-Gendreau, gồm nhiều tài liệu đáng tin cậy, lập luận chặt chẽ dựa vào công pháp quốc tế, có lợi cho Việt Nam. Bà Chemillier viết có thể dưới tư cách một người bạn Việt Nam, một người vì công lý hoặc cũng có thể coi là với tư cách một luật sư bảo vệ khách hàng của mình. Trước tòa án công lý, có thể bà ấy sẽ thắng nhiều điểm cho Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề tranh chấp hiện nay đâu chỉ liên quan đến luật, mà thực chất là cuộc tranh chấp quyền lực ngày càng đi dần đến bạo lực ở mức độ dữ dội hơn, làm mất an ninh của khu vực và có thể của thế giới, và trước tiên là an ninh của Việt Nam.

Continue reading →

PHẢI THẬT SỰ LÀ VIỆC CỦA DÂN, DO DÂN VÀ VÌ DÂN

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Vedan chấp nhận bồi thường thiệt hại như mức TP. HCM, Bà rịa-Vũng tàu và Đồng Nai yêu cầu là một tin mừng. Nhưng điều đáng mừng nhất là niềm tin của người dân. Người bị thiệt hại trong vụ Vedan đã bước đầu tin rằng có thể sử dụng pháp luật để tự bảo vệ chính mình và họ không đơn độc. Niềm tin đó chắc chắn sẽ được củng cố hơn nữa thông qua qúa trình xét xử với một bản án thích đáng của Tòa án. Ngược lại, xử lý không thấu tình đạt lý việc ký kết thỏa thuận bồi thường thiệt hại (TTBTTH) ngoài con đường Tòa án với Vedan và sau đó là quá trình chi trả khoản tiền bồi thường cho người bị thiệt hại, rất có thể sẽ làm mất đi niềm tin quí giá mà chúng ta vừa có được đó.

Người dân sẽ mất lòng tin vào khả năng tự bảo vệ mình bằng pháp luật, nếu họ không thấy đây là việc của mình, mình là chủ thể, là người có toàn quyền chủ động giải quyết chuyện bồi thường mà phải hoàn toàn phụ thuộc vào các cơ quan Nhà nước. Khởi đầu, khi bị thiệt hại, theo thói quen, họ không đến Tòa án, hay đến thẳng Vedan, mà đến cầu cứu Hội nông dân (Hội ND) giải quyết, Hội ND xin ý kiến chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền cấp trên rồi mới nhân danh nông dân chỉ đạo họ: kiện, không kiện, thương lượng, rầm rộ khởi kiện, rồi sẽ là phong trào rút đơn kiện nữa sao? Hãy để người dân tự quyết định việc bồi thường đúng như đây là công việc của họ.

Trước hết, họ phải là người có quyền quyết định ai sẽ là người thay mặt mình ký TTBTTH. Hội ND không được pháp luật công nhận có tư cách pháp nhân, cũng không được tất cả người bị thiệt hại ký giấy ủy quyền, nên không thể đủ tư cách pháp lý ký kết TTBTTH. Chỉ Nhà nước, trong tư cách người đại diện quyền lợi chung của xã hội, của cộng đồng, mới có tư cách pháp lý ký kết Thỏa thuận BTTT với Vedan. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố là đại diện Nhà nước tại địa phương sẽ phải là người trực tiếp ký kết Thỏa thuận này. Vedan có thể muốn ký với Hội ND, để khi điều kiện cho phép, ban giám đốc mới hoặc một pháp nhân mới tiếp thu Vedan sẽ tuyên bố Thỏa thuận vô hiệu vì đối tác ký Thỏa thuận không có quyền đại diện người bị thiệt hại. Tuy nhiên, vì Hội ND không có quyền đại diện nên bất cứ người bị thiệt hại nào- dù đã nhận tiền từ TTBTTH- vẫn có quyền khởi kiện Vedan. Trong trường hợp này, ngay cả khi chính quyền không ủng hộ và Tòa án Việt nam không nhận đơn kiện thì người bị thiệt hại vẫn có quyền khởi kiện Vedan tại nước nó đăng ký pháp nhân hoặc tại nước Vedan có trụ sở chính. Vedan sẽ phải rất chú ý đến yếu tố “Của Dân” này.

Continue reading →

THÔNG BÁO SỐ 165/TB-BTNMT NGÀY 10 THÁNG 8 NĂM 2010 CỦA BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VỀ KẾT QUẢ CUỘC HỌP GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO NGƯỜI DÂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN HỮU HẠN VEDAN VIỆT NAM

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 3469/VPCP-KGVX ngày 27 tháng 5 năm 2009 và Công văn số 4857/VPCP-KGVX ngày 13 tháng 7 năm 2010 của Văn phòng Chính phủ về việc báo cáo tình hình giải quyết bồi thường thiệt hại cho người dân của Công ty Cổ phần hữu hạn Vedan Việt Nam (sau đây gọi tắt là Công ty Vedan), ngày 09 tháng 8 năm 2010 tại Trụ sở Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức cuộc họp để tiếp tục giải quyết vụ việc nêu trên có lý, có tình theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Tham dự cuộc họp có đại diện lãnh đạo và chuyên viên của các cơ quan: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hội Nông dân Việt Nam, Ủy ban nhân dân các tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh, Viện Môi trường và Tài nguyên thuộc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh và Công ty Vedan. Sau khi nghe báo cáo của Tổng cục Môi trường và Công ty Vedan; ý kiến phát biểu thẳng thắn, cởi mở, có lý, có tình của Hội Nông dân Việt Nam, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và cơ quan có liên quan, các thành viên tham dự cuộc họp thống nhất kết luận như sau:

1. Trong thời gian qua, các cơ quan Trung ương và địa phương đã giải quyết vụ việc vi phạm pháp luật của Công ty Vedan một cách có tình, có lý, có trách nhiệm theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ việc, các cơ quan có liên quan đều khuyến khích tạo điều kiện để Công ty Vedan tiếp tục hoạt động có hiệu quả ở Việt Nam, đồng thời kiên quyết yêu cầu Công ty sớm bồi thường thỏa đáng cho người dân.

2. Hoan nghênh thiện chí và cố gắng của Công ty Vedan trong việc khắc phục hậu quả vi phạm và bồi thường thiệt hại thỏa đáng cho người dân, cụ thể Công ty Vedan đã thống nhất bồi thường thiệt hại cho người dân của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là 53.619.640.205 đồng và thành phố Hồ Chí Minh là 45.748.200.057 đồng. Riêng tỉnh Đồng Nai do Tỉnh chưa thống nhất được số thiệt hại cụ thể nên Công ty Vedan sẽ làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai để thống nhất mức bồi thường thiệt hại cho người dân trước ngày 13 tháng 8 năm 2010. Số tiền bồi thường nêu trên là số tiền bồi thường cho toàn bộ người dân bị thiệt hại của 03 tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh trên lưu vực sông Thị Vải từ thời điểm hiện nay trở về trước và các người dân bị thiệt hại của 03 tỉnh, thành phố này sẽ không khởi kiện Công ty Vedan ra tòa án. Do niên độ tài chính, Công ty Vedan đề nghị sẽ thanh toán tiền bồi thường làm 02 đợt: Đợt 01 sẽ chuyển 50% số tiền bồi thường cho mỗi địa phương trong vòng 07 ngày và Đợt 2 sẽ chuyển từ ngày 10 đến ngày 14 tháng 01 năm 2011 (số tiền thanh toán Đợt 2 sẽ được bảo lãnh của Ngân hàng để đảm bảo việc thanh toán theo quy định).

Continue reading →

NGHỊ ĐỊNH SỐ 85/2010/NĐ-CP NGÀY 2 THÁNG 8 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Chứng khoán ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 08 tháng 3 năm 2007 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 4 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức phạt, thẩm quyền xử phạt và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) cố ý hoặc vô ý vi phạm quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định này, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó.

Điều 3. Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính

1. Mọi vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay. Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật.

Continue reading →

NGHỊ ĐỊNH SỐ 84/2010/NĐ-CP NGÀY 2 THÁNG 8 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 14/2007/NĐ-CP NGÀY 19 THÁNG 01 NĂM 2007 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT CHỨNG KHOÁN

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Chứng khoán ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 01 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán, như sau:

1. Sửa đổi Điều 1 như sau:

“Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán về chào bán chứng khoán ra công chúng, công ty đại chúng, niêm yết chứng khoán, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ và công ty đầu tư chứng khoán.”

2. Bổ sung Điều 3a sau Điều 3 như sau:

“Điều 3a. Quy định chung về việc chào bán chứng khoán ra công chúng

1. Tổ chức, cá nhân không được chào bán chứng khoán ra công chúng trong các trường hợp sau:

a) Doanh nghiệp không đủ điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng theo quy định tại Điều 12 Luật Chứng khoán;

b) Chào bán chứng khoán ra công chúng để thành lập doanh nghiệp; trừ các trường hợp quy định tại khoản 4 và 5 Điều 4 Nghị định này.

2. Việc đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng phải do tổ chức phát hành thực hiện, trừ các trường hợp sau:

Continue reading →

AI VI PHẠM LUẬT CẠNH TRANH TRONG VỤ K+?

GST.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Chiếm vị trí thống lĩnh thị trường (mà độc quyền chỉ là trường hợp đặc biệt khi không còn đối thủ cạnh tranh), vẫn luôn là mục tiêu và động lực của doanh nghiệp (DN) , vì ở vị thế này, họ có thể dễ dàng đạt lợi nhuận tối ưu nhất. Cuộc chạy đua giành vị trí thống lĩnh thị trường (TLTT) cũng góp phần thúc đẩy cạnh tranh hiệu quả. Vì vậy, không ai cấm DN có vị trí TLTT cả. Luật Cạnh tranh (LCT) chỉ cấm hành vi lạm dụng vị trí TLTT và không cho phép hình thành vị trí TLTT nào có nguy cơ lạm dụng cao.

Việt nam chưa có định nghĩa thế nào là „Vị trí TLTT“. Theo cách nhìn của Tòa án Châu Âu-được hầu hết các nước phát triển đồng tình- một cách tổng quát nhất, thì đó là vị trí quyền lực (sức mạnh) trên thị trường của một doanh nghiệp cho phép nó cản trở việc duy trì sự cạnh tranh thực sự trên thị trường liên quan. Luật CT của ta chỉ nêu 02 yếu tố để coi một DN có vị trí TLTT là có thị phần từ 30% trở lên, hoặc có khả năng gây hạn chế CT.

Để tham gia thị trường tiêu thụ, DN- trong tư cách người chào hàng- trước hết luôn tìm cách có được những lợi thế cạnh tranh của người bán hàng sao cho chỉ mình họ là người có nguồn hàng duy nhất. Đó có thể là nhượng quyền thương mại (Franchie), độc quyền phân phối, độc quyền sử dụng, khai thác quyền tác giả, quyền Sở hữu Công Nghiệp,v…v. Như K+ mua độc quyền phát hành tác phẩm là các chương trình quay hình giải ngoại hạng Anh; như Megastar mua độc quyền phân phối, kinh doanh các tác phẩm điện ảnh Mỹ, như một số công ty dược phẩm mua patent sản xuất độc quyền thuốc đặc trị tại Việt nam. Nói chung, những độc quyền như vậy chỉ bảo vệ họ không bị cạnh tranh bởi các đối thủ khác (người bán) cũng muốn được phân phối chính các sản phẩm này và họ được bảo vệ trước hết bởi Luật Sở hữu Trí tuệ. Nhưng trên thị trường tiêu thụ, độc quyền đó không phải là một bảo đảm để người tiêu dùng chỉ mua sản phẩm của họ mà không mua các sản phẩm khác có tính năng tương tự, có thể thay thế, để đáp ứng như cầu của mình.

Continue reading →

CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SANG LOẠI HÌNH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN: CÒN NGUYÊN VẸN “NHỮNG NÚT THẮT”

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Tư vấn VFAM Việt Nam

Sự kiện hàng ngàn doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được cấp tốc chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên theo Nghị định số 25/2010/NĐ-CP (NĐ25) đã và đang… chìm dần với thông tin: về cơ bản đã về đích đúng hạn. Song, các DNNN sau khi chuyển đổi sẽ như thế nào? Mạnh hơn, giẫm chân tại chỗ hay yếu đi? Đó là những câu hỏi không thể bỏ qua.

Nhìn vào thực tế có thể thấy, việc các DNNN chuyển thành công ty TNHH một thành viên theo NĐ25 vừa qua, thực chất chỉ là tạo ra những chiếc “bình mới” cho một “chất rượu” cũ mà thôi.

Các DNNN sau khi chuyển đổi sẽ chưa (hoặc không) có sự thay đổi đáng kể nào về quản trị doanh nghiệp – khâu quyết định đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Nhận định trên là dựa vào chính những quy định trong NĐ25.

Các công ty TNHH một thành viên ra đời từ NĐ25 phải được gọi đúng tên là công ty TNHH nhà nước một thành viên. Bởi lẽ, Nhà nước vẫn là chủ sở hữu 100% vốn điều lệ của những công ty đó.

Cụm từ “Nhà nước một thành viên” đã được sử dụng để đặt tên cho một số DNNN trước đây. Song, trong lần chuyển đổi này, cụm từ trên đã không được sử dụng để tránh vi phạm nguyên tắc “thương mại không phân biệt đối xử” – một trong những nguyên tắc cơ bản của WTO mà Việt Nam là thành viên. Vì “Nhà nước vẫn là chủ sở hữu 100% vốn điều lệ” cho nên các “nút thắt” trong công tác quản trị các DNNN vẫn còn nguyên vẹn đối với các công ty TNHH một thành viên hình thành sau chuyển đổi.

Các “nút thắt” đó chính là những câu hỏi đang rất cần được giải đáp một cách thỏa đáng.

Ai là chủ sở hữu của công ty?

Điều 3 NĐ25 quy định: “Nhà nước là chủ sở hữu đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do mình nắm giữ toàn bộ vốn điều lệ. Chính phủ thống nhất tổ chức thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ toàn bộ vốn điều lệ”. Song, nhà nước luôn luôn là một danh từ chung, không chỉ cụ thể là ai. Vì vậy, trong trường hợp này, chủ sở hữu vẫn không được xác định.

Continue reading →

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT: CHUNG SỐNG TRƯỚC NGÀY 3 THÁNG 1 NĂM 1987 LÀ HÔN NHÂN THỰC TẾ?

TÙNG CHI

Theo Tòa Dân sự TAND Tối cao, hiện nhiều thẩm phán đang có cách hiểu khác nhau khi vận dụng Điều 3 Nghị quyết 35 năm 2000 của Quốc hội.

Có người nói nam nữ cứ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 là hôn nhân thực tế, có người lại bảo phải đủ điều kiện kết hôn mới được công nhận…

Một ví dụ tiêu biểu đã được đưa ra: Ông A chung sống với bà B nhiều năm, đã có con chung và tài sản chung. Đến năm 1970, ông A lấy thêm vợ lẽ là bà C (có tổ chức cưới hỏi), sau đó sống với bà C. Năm 2002, ông A xin ly hôn bà C. Vậy quan hệ giữa ông và bà C có phải là hôn nhân thực tế hay không?

Chỉ cần chung sống như vợ chồng?

Những thẩm phán theo cách hiểu thứ nhất cho rằng trong trường hợp này, quan hệ giữa ông A và bà C vẫn được công nhận là hôn nhân thực tế dù vừa vi phạm về hình thức (không đăng ký kết hôn) vừa vi phạm về nội dung (ông A đã có vợ hợp pháp là bà B).

Các thẩm phán lý giải: Theo Điều 3 Nghị quyết 35, hai bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 (ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực) nhưng không đăng ký kết hôn thì được tòa công nhận là vợ chồng khi ly hôn. Như vậy, điều khoản trên không hề quy định nam nữ sống với nhau như vợ chồng phải có đủ điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình.

Vì luật không quy định nên các thẩm phán cho rằng chỉ cần điều kiện duy nhất là hai bên chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 thì công nhận họ là vợ chồng mà không cần điều kiện gì khác. Luật pháp không bắt buộc mà chỉ khuyến khích họ đi đăng ký kết hôn nên giả sử họ không đăng ký thì thực chất họ vẫn có mối quan hệ vợ chồng.

Continue reading →