GIAO DỊCH BIẾN TƯỚNG LIÊN QUAN ĐẾN HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN BỊ VÔ HIỆU DO YẾU TỐ GIẢ TẠO

LS. NGUYỄN TRINH ĐỨC – Công ty Luật IPIC GROUP

Giao dịch  biến tướng liên quan đến hợp đồng vay tài sản:

Sự phát triển kinh tế của Việt Nam tác động đến nhu cầu về vay vốn cho hoạt động sản xuất và các nhu cầu về tiêu dùng tăng lên làm cho hoạt động vay tài sản phát triển rất sôi động. Tuy nhiên, thời gian qua đã phát sinh nhiều biến tướng của hoạt động cho vay của các cá nhân, tổ chức (trừ hoạt động của các Ngân Hàng) dẫn tới một thực trạng đáng lo ngại cho những người đi vay và cho xã hội. Các tổ chức, cá nhân cho vay tiền với lãi suất rất cao được tính theo ngày, hoặc theo tháng (3% đến 7 % một tháng).

Bên đi vay thường rơi vào tình trạng cần tiền gấp để thực hiện một nghĩa vụ không thể trị hoãn nên họ phải chấp nhận việc vay tiền với lãi suất cao đồng thời với những rủi ro trong việc giao kết. Bên cho vay ngoài ký kết hợp đồng cho vay thì còn yêu cầu thỏa thuận thêm hợp đồng mua bán nhà, hoặc bất động sản có công chứng kèm theo với giá chuyển nhượng thấp hơn nhiều giá trị thực tế, mục đích việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng là đảm bảo bên vay thực hiện hợp đồng vay. Đây là một biến tướng mà bên cho vay sử dụng khi bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và thanh toán tiền lãi thì bên cho vay yêu bên vay thực hiện hợp đồng chuyển nhượng. Trong trường hợp này sẽ tồn tại song song Hợp đồng cho vay và Hợp đồng mua bán nhà ở hoặc mua bán bất động sản (hợp đồng mua bán tài sản).

Đây là vấn đề diễn ra khá phổ biến ở hoạt động cho vay hiện nay, nó tiềm ẩn nhiều nguy cơ về an ninh cũng như gây thiệt hại nặng nề tài sản cho bên đi vay.  Vì vậy, làm rõ vấn đề pháp lý của hai hợp đồng trên có ý nghĩa quan trong không chỉ đối với bên cho vay và bên vay mà còn có ý nghĩa thực tiễn giải quyết những tranh chấp đối với các giao dịch cho vay trên.
Quy định của pháp luật liên quan
Đối với hợp đồng cho vay: Theo quy định điều 471 Bộ Luật Dân sự “Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”. Chủ thể tham gia cho vay tài sản (trên thực tế chủ yếu là vay tiền) có thể là cá nhân hoặc tổ chức, hình thức hợp đồng vay có thể bằng văn bản hoặc thỏa thuận bằng miệng (pháp luật không hạn chế hình thức hợp đồng), lãi suất trong hợp đồng vay theo sự thỏa thuận của các bên. Như vậy đối với hoạt động cho vay trên là đúng quy định của pháp luật.

Đối với giao dịch mua bán nhà ở, bất động sản được xác lập giữa bên cho vay và bên vay:

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 2289/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 13 THÁNG 7 NĂM 2011 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ XẾP LƯƠNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG THUỘC DANH MỤC CHỨC DANH NGHỀ, CÔNG VIỆC ĐẶC BIỆT NẶNG NHỌC, ĐỘC HẠI, NGUY HIỂM

Kính gửi:

Tổng công ty Khoáng sản – Vinacomin

Trả lời công văn số 996/TKS-LĐTL ngày 06 tháng 6 năm 2011 của Tổng công ty Khoáng sản – Vinacomin về việc xếp lương theo danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm làm căn cứ giải quyết chế độ đối với người lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Tại Nghị định số 26/CP ngày 23 tháng 5 năm 1993 của Chính phủ quy định tạm thời chế độ tiền lương mới trong các doanh nghiệp, công nhân vận hành thiết bị lọc bụi điện, lọc túi (trong đó có vận hành, sửa chữa thiết bị thu bụi kim loại màu trong buồng bụi tĩnh điện) xếp lương theo nhóm III, thang lương A2: Luyện kim, hóa chất, địa chất, đo đạc cơ bản.

2. Tại Quyết định số 1629/LĐTBXH-QĐ ngày 26 tháng 12 năm 1996 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về việc ban hành tạm thời danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, chức danh nghề, công việc Vận hành, sửa chữa thiết bị thu bụi kim loại màu trong buồng bụi tĩnh điện thuộc danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, điều kiện lao động loại V, nhóm ngành cơ khí – luyện kim.

3. Công ty Kim loại màu Thái Nguyên (nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Kim loại màu Thái Nguyên) xếp lương đối với Ông Trần Lưu Linh, làm công việc vận hành, sửa chữa thiết bị thu bụi kim loại màu trong buồng tĩnh điện theo nhóm II, thang lương A2 nêu trên trong giai đoạn từ tháng 4 năm 1993 đến tháng 11 năm 2003 là không đúng với quy định.

Đề nghị Tổng công ty Khoáng sản – Vinacomin, căn cứ các quy định nêu trên làm việc với Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Nguyên để giải quyết chế độ hưu trí đối với Ông Trần Lưu Linh theo đúng quy định./.

Continue reading

TRANH CHẤP ĐẤT CHƯA QUA HÒA GIẢI, TÒA XỬ SAO?

LS. NGUYỄN HỒNG HÀ  – Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa

Bằng thủ tục hòa giải bắt buộc tại UBND xã, phường trong giải quyết tranh chấp đất đai, dường như ở Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng dân sự không chỉ có Tòa án nhân dân…??? – CIVILLAWINFOR

Thay vì đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ kiện, tòa nên yêu cầu đương sự tiến hành hòa giải tại UBND cấp xã và chờ kết quả để tiếp tục giải quyết hay đình chỉ.

Những năm gần đây, trong thực tiễn xét xử của ngành tòa án đã xảy ra không ít vụ đương sự khởi kiện tranh chấp đất, tòa sơ thẩm thụ lý rồi mới phát hiện ra tranh chấp đó chưa qua thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã. Để sửa sai, mỗi tòa lại xử lý một kiểu…

Theo quy định, kể từ ngày 1-7-2004 (ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành), tòa án chỉ thụ lý, giải quyết tranh chấp đất đai nếu tranh chấp đó đã được hòa giải không thành tại UBND cấp xã. Trường hợp đương sự nộp đơn khởi kiện mà tranh chấp đó chưa qua hòa giải tại UBND cấp xã thì tòa trả lại đơn khởi kiện và hướng dẫn họ thực hiện theo quy định tại Điều 135, 136 Luật Đất đai năm 2003.

Lỡ thụ lý, mỗi tòa sửa sai một kiểu

Những năm gần đây, trong thực tiễn xét xử của ngành tòa án đã xảy ra không ít vụ đương sự khởi kiện tranh chấp đất, tòa sơ thẩm thụ lý rồi mới phát hiện ra tranh chấp đó chưa qua thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã.

Khi lỡ gặp phải trường hợp này, có tòa đã áp dụng khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự để ban hành quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ kiện và chuyển hồ sơ hoặc hướng dẫn đương sự tiến hành hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp. Nếu UBND xã, phường, thị trấn hòa giải thành thì tòa ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trường hợp UBND xã, phường, thị trấn hòa giải không thành, đương sự vẫn tranh chấp và yêu cầu tòa giải quyết thì căn cứ vào Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự, tòa án tiếp tục giải quyết vụ án.

Ngược lại, có tòa xác định việc tranh chấp đất đai chưa qua thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã thuộc trường hợp chưa có đủ điều kiện khởi kiện. Từ đó, tòa áp dụng khoản 2 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự để ban hành quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ kiện. Đến lúc này, đương sự muốn được tòa giải quyết thì phải chủ động về UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp yêu cầu tiến hành hòa giải tranh chấp. Sau khi có kết quả hòa giải không thành của UBND cấp xã, đương sự phải khởi kiện bằng một vụ án khác.

Continue reading

BÀN VỀ LẠM DỤNG KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

THANH TÙNG

1. Kháng nghị chuyện đã rõ

Bản án của tòa cấp dưới tuyên rõ rành rành nhưng vẫn bị kháng nghị giám đốc thẩm tới lui.

Mỗi năm, TAND Tối cao tiếp nhận hơn chục ngàn đơn khiếu nại giám đốc thẩm. Trong bối cảnh quá tải, xem xét không xuể vì nhân sự của tòa có hạn lại xuất hiện nhiều vụ việc được quan tâm lạ lùng, khi mà lý do kháng nghị rất lặt vặt, không thuyết phục…

Tháng 2-2009, ông LVQ, ngụ quận 7 (TP.HCM) viết biên nhận rồi đưa cho ông VVC 1,7 tỉ đồng để nhờ ông này trả tiền chuyển quyền sử dụng đất cho bà B. Đến ngày đi chứng thực hợp đồng chuyển nhượng, ông Q. té ngửa khi phát hiện ông C. chưa hề đưa tiền cho bà B. như đã hứa.

Sự thật rành rành, cứ đòi hủy án

Hoàn tất việc chuyển nhượng đất, ông Q. khởi kiện ông C. ra TAND quận 5 (TP.HCM) để đòi lại tiền. Biết mình bị kiện, ông C. bèn mang 1,7 tỉ đồng giao cho bà B. để chứng tỏ mình đã hoàn thành lời hứa với ông Q.

Tháng 5-2010, xử sơ thẩm, TAND quận 5 đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Q. với lý do ông C. chờ đến sau khi bị kiện mới thực hiện lời hứa là có lỗi hoàn toàn. Khi chuyện đã rồi, ông C. mới đưa tiền thì ông phải tự liên hệ với bà B. để lấy lại. Xử phúc thẩm, TAND TP cũng tuyên y án sơ thẩm.

Sau đó Chi cục Thi hành án dân sự quận 5 tổ chức thi hành án theo yêu cầu của ông Q. Ông C. cũng đã nộp được 600 triệu đồng. Đầu năm 2011, Chi cục Thi hành án dân sự quận 5 ủy thác cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè tiếp tục thi hành án số tiền còn lại.

Đùng một cái, ngày 1-3, Phó Chánh án TAND Tối cao Từ Văn Nhũ có văn bản yêu cầu hoãn thi hành án ba tháng để TAND Tối cao có thời gian xem xét đơn khiếu nại giám đốc thẩm của ông C. Đúng ba tháng sau, vị phó chánh án này đã ký quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, đề nghị Tòa Dân sự TAND Tối cao xử theo hướng hủy cả hai bản án sơ, phúc thẩm.

Continue reading

CÔNG ĐIỆN SỐ 1120/CĐ-TTg NGÀY 09 THÁNG 07 NĂM 2011 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ NGUY CƠ LẠM PHÁT CAO, BẤT ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ ĐÃ TRỞ THÀNH THÁCH THỨC LỚN NHẤT ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ NƯỚC TA NĂM 2011

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Điện:

– Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ;
– Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
– Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc các Tập đoàn kinh tế, các Tổng công ty nhà nước.

Sáu tháng đầu năm 2011, nền kinh tế nước ta tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn, thách thức mới: tăng trưởng kinh tế có xu hướng chậm lại, chỉ số giá tiêu dùng mặc dù có xu hướng giảm dần nhưng đang ở mức cao; mặt bằng lãi suất vẫn còn ở mức cao, làm khó khăn cho sản xuất, kinh doanh … Nguy cơ lạm phát cao, bất ổn kinh tế vĩ mô đã trở thành thách thức lớn nhất đối với nền kinh tế nước ta trong năm 2011.

Trong những ngày đầu tháng 7, ở một số địa phương đã xảy ra tình trạng giá lương thực, thực phẩm tăng cao, gây ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân cũng như mục tiêu kiềm chế lạm phát của Chính phủ. Để đạt được mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức khoảng 15 – 17% như đã báo cáo Ban Chấp hành Trung ương và Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

a) Tăng cường công tác quản lý giá cả, thị trường; chỉ đạo các cơ quan chức năng tập trung triển khai quyết liệt các biện pháp kiểm tra, kiểm soát giá cả, thị trường, không để xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng, tăng giá bất hợp lý, tùy tiện; kiểm soát chặt chẽ việc tuân thủ quy định pháp luật về quản lý giá trên địa bàn.

b) Chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh các mặt hàng thiết yếu, nhất là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, bảo đảm cho nhu cầu tiêu dùng và tăng thu nhập cho nhân dân.

c) Xử lý kiên quyết, kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về giá, nhất là việc lợi dụng chủ trương của Nhà nước về điều hành giá một số mặt hàng theo cơ chế thị trường để tăng giá bất hợp lý, đưa tin thất thiệt, gây tâm lý hoang mang trên địa bàn.

d) Phối hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị – xã hội và các đoàn thể trên địa bàn xây dựng các biện pháp phù hợp để khuyến khích, động viên các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân kinh doanh trên địa bàn tích cực hưởng ứng chủ trương kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội đã nêu trong Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2011 của Chính phủ.

Continue reading

NỢ CÔNG VIỆT NAM–NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN BÀN THÊM

TS. LÊ PHAN DIỆU THẢO & NGUYỄN THẢO PHƯƠNG – Đại học Ngân hàng TP.Hồ Chí Minh

Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008), nợ công và khủng hoảng nợ công đã trở thành thuật ngữ phổ biến trong các bản tin kinh tế nói chung và tài chính nói riêng. Trong thời gian gần đây, nợ công không chỉ là nỗi lo lắng của chính phủ mà còn là sự quan tâm của cả cộng đồng. Thật vậy, Zimbabwe – quốc gia có tỷ lệ lạm phát khủng khiếp cũng chính là nước có tỷ lệ nợ công trên GDP cao nhất thế giới. Mối liên kết giữa các thành viên trong EU đang bị đe đe dọa bởi khủng hoảng nợ công. Tháng 4/2011, nội các của Chính phủ Mỹ bất đồng vì nợ công. Tại Việt Nam, theo World Factbook của CIA (Central Intelligence Agency), tỷ lệ nợ công so với GDP năm 2009 là 52,30% và Việt Nam hiện đang xếp thứ 44 trong 129 quốc gia về nợ công (bảng 1).

THỰC TRẠNG NỢ CÔNG TẠI VIỆT NAM

Về quy mô nợ công

Theo công bố của Tạp chí Kinh tế The Economist, tỷ lệ nợ công năm 2010 của Việt Nam là 50,935 tỷ USD tương đương 51,6% GDP. Mặc dù tỷ lệ nợ này vẫn nằm trong tầm kiểm soát (dưới 50%/GDP) nhưng nó quá cao so với mức phổ biến ở các nền kinh tế đang phát triển (từ 30-40%) và với thực trạng nợ công của một số nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc (17,4%), Indonesia (26,5%).

Ngoài ra, cũng theo The Economist, mức nợ công tính trên đầu người của Việt Nam năm 2010 là 580,91 USD. Nếu so sánh với 713,6 USD (Trung Quốc), 743 USD (Indonesia), 4.184 USD (Malaysia), 1.071 USD (Philippines), 2.064 USD (Thái Lan) thì đây là con số không cao. Tuy nhiên, nếu so mức nợ công bình quân đầu người của Việt Nam vào năm 2001 xấp xỉ 112 USD; thì trong vòng 10 năm, con số này đã tăng gấp 5 lần. Với thực trạng tỷ lệ tiết kiệm nội địa khoảng 27% GDP trong khi mức đầu tư toàn xã hội mỗi năm khoảng 42% GDP tại Việt Nam hiện nay, thì chắc chắn con số này sẽ tiếp tục gia tăng trong những năm tới.

Về cơ cấu nợ công

Trước hết về hình thức vay nợ:

Theo Luật Quản lý nợ công Việt Nam 2009, nợ công bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Với cách tính này, nợ Chính phủ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nợ công của Việt Nam. Cụ thể, tỷ lệ nợ công năm 2009 Việt Nam là 52,6%/GDP, nợ Chính phủ là 41,9%, nợ Chính phủ bảo lãnh là 9,8%, nợ chính quyền địa phương là 0,8%. Con số tương tự của năm 2010 lần lượt là 56,6%, 44,3%, 11,36% và 0,94% (biểu đồ 1).

Continue reading

HỢP ĐỒNG REPO CHỨNG KHOÁN VÀ VIỆC SỬA ĐỔI CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG CHUỘC LẠI TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

TS. NGUYỄN THỊ THU VÂN & TS. TRẦN THỊ THU HÀ – Khoa Tài chính, kế toán, Đại học Hòa Bình

1. Đầu năm 2007, khi thị trường chứng khoán (TTCK) đang sôi động, tính thanh khoản cao, nhiều Công ty chứng khoán (CTCK) đã chào bán một dịch vụ mới cho các nhà đầu tư tại Việt Nam là dịch vụ repo chứng khoán. Hầu hết các CTCK đều quảng bá rầm rộ dịch vụ này với lợi thế hấp dẫn là khách hàng có thể có được một khoản tiền lớn hơn so với dịch vụ cho vay cầm cố chứng khoán mà thủ tục lại đơn giản, thuận tiện, nhanh gọn.

Tuy nhiên, sau năm 2007, TTCK Việt Nam lao dốc liên tục. Nhiều CTCK trước đó đã cho khách hàng repo đến giới hạn nguy hiểm và vì vậy, đã tự đẩy mình vào bờ vực phá sản khi cho khách hàng repo tới hàng ngàn tỷ đồng. Trước tình hình đó, ngày 27/5/2008, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã có Công văn số 990/UBCK-QLKD yêu cầu các CTCK phải dừng ký mới các hợp đồng repo cổ phiếu. Yêu cầu này được đưa ra sau khi VN-Index mất gần 100 điểm trong vòng một tháng. Công văn này ra đời là do UBCKNN lo sợ TTCK sẽ giảm sâu hơn nữa từ những tác động của hoạt động thế chấp, cầm cố và repo chứng khoán. Sang đầu năm 2009, khi TTCK có dấu hiệu phục hồi, các CTCK rục rịch khởi động lại dịch vụ repo.

Trên thực tế, dù trong thời gian qua, hợp đồng repo chứng khoán đã được nhiều CTCK triển khai mạnh, nhưng một quy chế pháp lý cho loại hợp đồng này vẫn chưa được thiết lập. Bởi vậy, việc ký kết các hợp đồng repo trên TTCK hiện đang ở trong tình trạng mạnh ai nấy làm, không theo một “quy chuẩn” pháp lý nào. Chính vì chưa có bất cứ một hướng dẫn nào từ cơ quan có thẩm quyền, nên các CTCK đã tự soạn sẵn những hợp đồng repo với tính chất như một hợp đồng mẫu, trong đó thiết kế những điều khoản có lợi cho mình để các nhà đầu tư ký. Hệ quả là khi xảy ra tranh chấp, nhà đầu tư (trong đó có không ít nhà đầu tư nhỏ lẻ, ít vốn, ít kinh nghiệm, thiếu thông tin) sẽ là người bị thua thiệt. Vì vậy, trong một động thái thận trọng, cuối tháng 5/2009, một lần nữa UBCKNN lại có công văn yêu cầu các CTCK không được ký mới các hợp đồng repo. Được biết, từ vài năm nay, Bộ Tài chính đang dự kiến ban hành một thông tư hướng dẫn giao dịch mua bán lại chứng khoán nhưng cho đến nay, dự thảo này vẫn chưa được thông qua.

Continue reading

CẦN TÁCH BẠCH CHỦ THỂ HỢP ĐỒNG TRONG GIAO DỊCH THẾ CHẤP VÀ BẢO LÃNH

LƯ QUANG VINH

Việc xác định đúng chủ thể trong giao dịch hợp đồng dân sự là hết sức cần thiết. Giúp dễ thực hiện hợp đồng cũng như xác định quan hệ tranh chấp (nếu có) sau này. Trong thời gian qua, do việc vận dụng ngôn ngữ pháp lý không rõ ràng tại các tổ chức tín dụng đã vô tình tiếp sức cho các phần tử cơ hội lừa đảo.

Đơn cử là những vụ tranh chấp có liên quan đến hoạt động thế chấp, vay vốn trên địa bàn Hà Nội, cũng như những vụ "gom sổ đỏ" của hàng nghìn hộ dân ở một số tỉnh để đi thế chấp chiếm đoạt tiền vay. Sự việc nổi cộm đến mức Ls. Trương Thanh Đức – Chủ tịch công ty luật Basico đã bút chiến qua bài viết “Đúng, sai của ủy quyền thế chấp” đăng trên Tạp chí thị trường tài chính tiền tệ, số ra tháng 3/2011 để phản bác lại bài viết “Hợp đồng ủy quyền, những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật” đăng trên tạp chí T. của tác giả N.V.B – Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Theo đó, Thẩm phán B nêu lên một vụ án “Ông Th. uỷ quyền cho ông D. được dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Th. để cầm cố, thế chấp vay vốn tại một Chi nhánh Ngân hàng ở thành phố Q”. Ông D. không trả được nợ vay và đã bị kết tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên các cấp Toà đã quyết định phát mại tài sản thế chấp của ông Th. để thu nợ cho ngân hàng.

Qua đó, Thẩm phán B đã cho rằng, có một loạt vấn đề đã bị nhận thức và áp dụng sai pháp luật trong vụ việc này như: Hợp đồng uỷ quyền sai trái; Hợp đồng tín dụng vi phạm pháp luật và có sự nhập nhằng giữa hợp đồng cầm cố, thế chấp và bảo lãnh. Ls. Đức lại đặt vấn đề: Chẳng lẽ, một vấn đề cơ bản và rõ ràng như hợp đồng uỷ quyền, mà từ chủ sở hữu cho đến phòng công chứng, từ ngân hàng cho đến một loạt cơ quan pháp luật tiến hành tố tụng là công an, viện kiểm sát và toà án mấy cấp, đều nhầm lẫn, sai trái (!?).

Cuộc bút chiến thú vị này bắt đầu từ lập luận của thẩm phán B cho rằng: ông D đã lợi dụng hợp đồng ủy quyền có chứng thực để vay tiền cho D thay vì cho Th. Ls. Đức phản bác: Thế chấp có thể được hiểu là một trong những quyền định đoạt khác đối với tài sản. Chủ sở hữu có thể trực tiếp thực hiện hoặc uỷ quyền cho người khác thực hiện quyền đó. Và kết luận, trong trường hợp này, đương nhiên ông Th. được uỷ quyền ký hợp đồng thế chấp và đã nhân danh ông D. ký hợp đồng thế chấp với ngân hàng để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ vay của mình.

Continue reading

TRÍ THỨC VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI VÀ ĐẠI HỌC VIỆT NAM

TRẦN HỮU DŨNG – Giáo sư Kinh tế học giảng dạy tại Đại học Wright State tại Dayton, Ohio, Mỹ.

Ngoài những “trách nhiệm” mà người Việt Nam ở nước ngoài có thể cảm thấy đối với nền đại học trong nước, còn một sự thật này: không gì đem lại hạnh phúc hơn khi thấy việc mình làm có ảnh hưởng đến người khác, nhất là lớp trẻ.

Có thể khẳng định rằng, dù ít dù nhiều, ai mang dòng máu Việt Nam đều muốn nền giáo dục ở quê cha đất tổ, đặc biệt là giáo dục đại học, sáng sủa hơn. Những người sống trong môi trường đại học các nước tiên tiến, hầu như mỗi ngày khi đọc tin tức từ trong nước về thực trạng giáo dục Việt Nam, thường phải chép miệng thở dài… Sự trăn trở này không chỉ xuất phát từ tình yêu với quê hương (hay, rộng hơn, từ sự bức xúc trước những chênh lệch giữa các xã hội tiền tiến và hậu tiến) mà, gần gũi hơn, còn từ ký ức về thời trẻ, nhớ lại sự ham muốn học hỏi trong hoàn cảnh vô cùng thiếu thốn của chính mình. Rồi, so sánh với ngày hôm nay, khi đã “công thành danh toại” thì chính người trí thức ấy lại phục vụ cho nền giáo dục của nước người, cho những sinh viên ngoại quốc! Đó chẳng là, phần nào, một sự bội phản hay sao?

1. Nhưng, dù có nóng lòng vì lương tâm, vì sở nguyện, chúng ta phải nhận rằng việc “vực dậy” nền đại học Việt Nam khó xảy ra trong dăm ba năm nữa. Đó là một công trình cần kế hoạch, quyết tâm, và kiên trì, không thể thực hiện bằng những khẩu hiệu êm tai, những chỉ tiêu không thực tế. Cải cách giáo dục, ở bất cứ quốc gia nào, bao giờ cũng đòi hỏi những nỗ lực trường kỳ, không ngừng nghỉ. Ở nước ta hiện nay thì những suy kém về giáo dục – nhất là ở cấp đại học – quá đỗi trầm trọng, thể chế lại quá cứng nhắc, ù lì, và chưa có dấu hiệu nào cho thấy sự ù lì này sẽ giảm đi trong thời gian trước mắt. Về phần họ, hầu hết trí thức Việt Nam ở hải ngoại đều đang đầu tắt mặt tối lo cho sự nghiệp của mình, hoặc đã vào khoảng đời mà năng lực sức khoẻ của họ không còn nhiều nữa. Như vậy, gác qua một bên những vấn đề to tát như “vai trò trí thức trong thời kỳ toàn cầu hoá”, v.v. (mà người viết bài này đã đề cập trong nhiều bài khác (2)), câu hỏi thực tế cho những người trí thức gốc Việt ở hải ngoại ưu tư đến tiền đồ dân tộc là làm thế nào để kết hợp công việc cá nhân, đời sống thực tế của họ, với cố gắng, trong chừng mực có thể, phát triển nền đại học của quê hương mình, cho con em mình.
Vì sự đa dạng của ngành nghề, về cường độ của ước muốn, tầm mức của khả năng, không thể lập ra một hình mẫu nào cho sự đóng góp của trí thức Việt Nam ở nước ngoài vào sự phát triển của đại học trong nước. Tuy nhiên, có một bộ phận của tập thể trí thức này, gồm những người đã hoặc đang giảng dạy ở các trường đại học, làm việc cho các viện nghiên cứu ở nước ngoài, mà kỳ vọng vào sự đóng góp của họ đối với Việt Nam là cao nhất và khả năng của họ cũng là thiết thực nhất. Bài này sẽ tập trung vào những người ấy.

Continue reading

MỘT SỐ VƯỚNG MẮC KHI ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NGOẠI HỐI HIỆN NAY

THS. NGUYỄN THÙY TRANG -  Tổng công ty Công nghiệp hóa chất mỏ – Vinacomi

Thực hiện Nghị quyết số 02/2011/NQ-CP ngày 9/1/2011, Nghị quyết số 11/2011/NQ-CP ngày 01/3/2011 của Chính phủ, Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 1/3/2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, năm 2011, các hoạt động giao dịch, niêm yết, thanh toán, quảng cáo của người cư trú, người không cư trú trên lãnh thổ Việt Nam đã, đang và sẽ được siết chặt quản lý theo đúng các quy định về quản lý ngoại hối của Nhà nước. Nhưng, quản lý như thế nào, xử lý ra làm sao vẫn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi.

Chấn chỉnh việc sử dụng đồng tiền Việt Nam, ngăn chặn tình trạng đô la hóa nên được xem xét từ gốc, đó là các quy định của pháp luật, sau đó là việc thực thi và vận dụng các quy định đó trên thực tế. Trong bối cảnh kinh tế thị trường mở cửa, giao dịch thông thương giữa các quốc gia ngày càng mở rộng, đồng tiền Việt Nam đang chịu sức ép nặng nề của vấn đề lạm phát và mất giá, để đối phó với các quy định pháp luật về ngoại hối, nhiều doanh nghiệp đã lựa chọn những phương thức khá “linh hoạt” nhằm bảo toàn giá trị nguồn tiền của mình trong các giao dịch vốn và giao dịch vãng lai.

1. Các quy định pháp luật hiện hành

Từ các quy định của Pháp lệnh và Nghị định về quản lý ngoại hối… Điều 22, Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 ngày 13/12/2005 của Ủy ban Thường vụ quốc hội (sau đây gọi tắt là PL số 28)

“Quy định hạn chế sử dụng ngoại hối: Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các giao dịch với tổ chức tín dụng, các trường hợp thanh toán thông qua trung gian gồm thu hộ, ủy thác, đại lý và các trường hợp cần thiết khác được Thủ tướng Chính phủ cho phép”.

Điều 29, Nghị định 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/006 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Ngoại hối quy định “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối trừ các trường hợp sau: …”. Tiếp sau đó, là 12 trường hợp được phép giao dịch bằng ngoại hối. Nếu tổ chức, cá nhân không thuộc 12 trường hợp đã được liệt kê sẽ phải tuân thủ các quy định của pháp luật về ngoại hối.

Continue reading

VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP CỦA VIỆC THẾ CHẤP BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG

ĐOÀN THÁI SƠN – Vụ Pháp chế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Luật Đất đai được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2004. Luật Đất đai ra đời có một ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần phát triển kinh tế xã hội, nâng cao hiệu lực quản lý đất đai, khuyến khích việc sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn lực đất đai; bảo vệ các quyền của người sử dụng đất.

Sau gần 7 năm triển khai thực hiện, nhìn chung, các quy định của Luật Đất đai đã đi vào cuộc sống, nhiều quy định của Luật Đất đai 2003 đã được thực tiễn kiểm nghiệm là đúng đắn và phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội ở Việt Nam, đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ. Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn luật đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho người sử dụng đất thực hiện các quyền của mình đối với đất đai, trong đó có quyền được thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự nói chung và nghĩa vụ trả nợ cho các tổ chức tín dụng (TCTD) nói riêng. Tuy nhiên, qua gần 07 năm thực hiện, các quy định của Luật Đất đai 2003, đặc biệt các quy định về thế chấp bằng quyền sử dụng đất cũng đã bộc lộ một số bất cập, vướng mắc ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các tổ chức, cá nhân liên quan. Để góp phần làm rõ thực trạng của việc thi hành Luật Đất đai 2003, bài viết dưới đây xin được đề cập (i) Các vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện các quy định về thế chấp bằng quyền sử dụng đất của Luật Đất đai; và (ii) Đề xuất một số kiến nghị hoàn chỉnh các quy định này trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai 2003.

I. Những bất cập, vướng mắc nảy sinh trong quá trình thực hiện các quy định về thế chấp bằng quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai 2003

Qua gần 7 năm thực hiện, các quy định về thế chấp bằng quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai đã bộc lộ một số bất cập, vướng mắc, không phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, do các giao dịch liên quan đến đất đai ngày càng đa dạng, phức tạp hơn; một số quy định chưa rõ ràng dẫn đến cách hiểu không thống nhất và khó thực hiện; một số quy định trong các văn bản pháp luật có liên quan cùng điều chỉnh về bất động sản chưa có sự thống nhất; một số quy định chưa tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện các quyền của người sử dụng đất…, cụ thể như sau:

1. Về việc nhận thế chấp quyền sử dụng đất được Nhà nước cấp cho hộ gia đình. Theo quy định của Luật Đất đai, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thể được Nhà nước cấp cho cá nhân, vợ chồng hoặc hộ gia đình. Trên thực tế, việc nhận thế chấp quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình của các TCTD gặp nhiều khó khăn vì pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể xác định các thành viên của hộ gia đình dẫn đến cách hiểu, áp dụng khác nhau trên thực tiễn, ảnh hưởng đến quyền lợi của tổ chức tín dụng nhận thế chấp loại đất này.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 57/2011/NĐ-CP NGÀY 07 THÁNG 7 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ CHẾ ĐỘ PHỤ CẤP CÔNG VỤ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về chế độ phụ cấp công vụ đối với cán bộ, công chức, người hưởng lương hoặc phụ cấp quân hàm từ ngân sách nhà nước làm việc trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, ở xã, phường, thị trấn và lực lượng vũ trang.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Cán bộ, công chức, người hưởng lương hoặc phụ cấp quân hàm từ ngân sách nhà nước quy định tại Điều 1 Nghị định này, bao gồm:

a) Cán bộ theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức;

b) Công chức theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức và các Điều 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 và 12 Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ quy định những người là công chức (không bao gồm công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập);

c) Cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức và Điều 3 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã;

d) Người làm việc theo hợp đồng lao động quy định tại Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2000 của Chính phủ về thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp (không bao gồm người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập);

đ) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ và công nhân, viên chức quốc phòng, lao động hợp đồng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam;

e) Sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương, hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ có thời hạn; công nhân, nhân viên công an và lao động hợp đồng thuộc Công an nhân dân;

g) Người làm công tác cơ yếu trong tổ chức cơ yếu.

2. Đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này đã được xếp lương hoặc phụ cấp quân hàm theo quy định tại các văn bản sau đây:

a) Nghị quyết số 730/2004/NQ-UBTVQH11 ngày 30 tháng 9 năm 2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc phê chuẩn bảng lương chức vụ, bảng phụ cấp chức vụ đối với cán bộ lãnh đạo của Nhà nước; bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ ngành Tòa án, ngành Kiểm sát;

Continue reading

TRUNG QUỐC TIẾN CÔNG TRÊN BIỂN NAM TRUNG HOA (BIỂN ĐÔNG): CHIẾN LƯỢC VÀ MỤC TIÊU

SHIGEO HIRAMATSU – Người dịch: Vũ Quang Việt

Đường giao thông trên Biển Nam Trung Hoa (người Việt gọi là Biển Đông) có vai trò sinh tử không những đối với hải trình thương mại mà còn đối với an ninh chiến lược. Điều này quá rõ ràng đối với các nước trong khu vực Đông Á có ý muốn xác lập chủ quyền trong vùng, nhưng cũng đúng cả với những nước ở xa hơn mà hoạt động trong vùng sẽ ảnh hưởng tới như Nhật Bản, Nam Triều Tiên, và Mỹ. Qua việc theo dõi các hoạt động của hải quân Trung Quốc trên Biển Nam Trung Hoa trong mười năm qua, Shigeo Hiramatsu, Giáo sư môn Khoa học Xã hội tại Đại học Kyorin, xem xét trong bài này lịch sử hải quân Trung Quốc trong khuôn khổ an ninh vùng Đông Á. Ông ta đánh giá là trước các kế hoạch tăng cường khả năng hải quân của Trung Quốc, rất cần thiết có một quan hệ liên kết chặt chẽ Mỹ-Nhật và vai trò tích cực hơn của Nhật trong vùng nhằm ngăn ngừa việc các cuộc đụng độ nhỏ biến thành lớn trong khu vực Biển Nam Trung Hoa.

Biển Nam Trung Hoa (người Việt gọi là Biển Đông) là một vùng biển rộng lớn có tầm quan trọng thiết thân đối với Nhật, đặc biệt đối với an ninh trong việc chuyển năng lượng.  Một khối lượng hàng hoá khổng lồ, kể cả dầu lửa từ vùng Cận Đông, đi qua các đường biển trên Biển Nam Trung Hoa.  Khoảng 1.1 tỷ tấn hàng hoá đi lại hàng năm tới Nhật qua eo biển Malacca, Biển Nam Trung Hoa và eo Bashi. 900 triệu tấn nhập vào Nhật và khoảng 200 triệu tấn xuất từ Nhật. Tức là vào khoảng 3 triệu tấn hàng và 15 con tầu trọng tải 200 ngàn tấn hàng ngày đi qua khu biển này. Chỉ nói tới dầu thô không thôi, Nhật sử dụng 238,37 triệu tấn hàng năm, tương đương với 650 ngàn tấn hàng ngày, tức là 3,3 con tầu trọng tải 200 ngàn tấn. 90% dầu lửa chuyển qua eo Malacca, Biển Nam Trung Hoa và eo Bashi.

Lực lượng Tự vệ Biển Nhật (gọi tắt là LLTVBN) được trang bị 100 chiếc máy bay tuần tiễu chống tầu ngầm P3C, cho phép Nhật trở thành một nước hàng đầu thế giới về khả năng chống tầu ngầm.  Khả năng của LLTVBN cũng hơn hẳn lực lượng hải quân Trung Quốc (gọi tắt là HQTQ). Mặc dù một trong những nhiệm vụ của LLTVBN là bảo vệ đường giao thông trên biển, nó bị hạn chế vào việc bảo vệ khu vực 1000 hải lý từ đất liền của Nhật. Theo hướng tây nam, nó không đi quá Đài Loan.  LLTVBN không có nhiệm vụ bảo vệ đường biển vượt khỏi Đài Loan và phải dựa vào hải quân Mỹ. Tuy nhiên, việc tiến công của HQTQ vào vùng Biển Nam Trung Hoa trong thập kỷ qua đã tới mức mà Nhật không thể tiếp tục làm ngơ, lấy lý do là nó không có khả năng can thiệp trực tiếp vào an ninh khu vực Biển Nam Trung Hoa.

Trước tiên khu biển thuộc Việt Nam, rồi thì Phi-líp-pin

Vào tháng 3 năm 1988, hải quân Trung Quốc và Việt Nam đụng độ nhau trên một nhóm đá ngầm nhỏ tý (nhóm Chigua) thuộc quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) và khu biển chung quanh. Đụng độ quân sự có nguyên nhân từ việc Trung Quốc cho dựng dấu ghi trên 6 nhóm đá ngầm ở trong vùng nhằm xác định chủ quyền, mặc dù Việt Nam cũng đã tuyên bố xác định chủ quyền ở đó. Hơn nữa, Trung Quốc cho xây cái mà họ gọi là “đài quan sát biển” (marine observatory) trên một trong những nhóm đá có tranh chấp về chủ quyền. Cái lều cao này thật ra là làm bằng ống sắt và những tấm bạt mà chúng sẽ biến đi khi thủy triều lên, được coi là tiền đồn an ninh biển. Sau đó, họ xây một toà nhà tám góc đúc sẵn, được chống đỡ bằng cột. Rồi 2, 3 năm sau họ cho xây lên một công sự quân sự giống như một tầu chiến.

Continue reading

TRANH CHẤP NHÃN HIỆU GIỮA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC[1]

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

1. Dẫn nhập

Trong một phần của bài tham luận Quản lý tài sản trí tuệ trong các trường đại học có đào tạo về kinh tế và quản lý tại Hội thảo khoa học quốc gia Đổi mới hoạt động khoa học và công nghệ để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực về kinh tế – quản trị kinh doanh trong các trường đại học phục vụ phát triển kinh tế – xã hội[2] do Trường Đại học Kinh tế Quốc dân tổ chức tại Hà Nội vào ngày 25.01.2010, tác giả đã nêu sơ bộ về nhãn hiệu của các cơ sở giáo dục và đào tạo ở Việt Nam. Đồng thời, tác giả đã cảnh báo về khả năng xảy ra tranh chấp nhãn hiệu giữa các cơ sở giáo dục và đào tạo ở Việt Nam.

Ngày 07.08.2010 lời cảnh báo trên đã thành hiện thực, khi Trường Đại học Đông Á (Đà Nẵng) đã có Đơn khiếu nại gửi Trường Đại học Công nghệ Đông Á (Bắc Ninh), Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam và đồng gửi các cơ quan báo chí về việc Trường Đại học Công nghệ Đông Á xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu “Đại học Đông Á” do Trường Đại học Đông Á (Đà Nẵng) là chủ sở hữu.

Nhận thấy rằng đây là một vấn đề cần nghiên cứu để hạn chế, đi đến chấm dứt tình trạng tranh chấp về nhãn hiệu giữa các trường đại học và cũng góp phần để các trường đại học khẳng định tài sản trí tuệ của mình trong thời kỳ hội nhập quốc tế, tác giả đã tiến hành khảo sát tổng thể các nhãn hiệu của các trường đại học tại Việt Nam.

Để có tư liệu viết bài này, chúng tôi đã sử dụng các nguồn thông tin: 1. Công báo Sở hữu công nghiệp do Cục SHTT phát hành; 2. Một số văn bản hành chính do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành; 3. Các tin tức thời sự đăng trên báo chí hoặc trên Internet. Cũng cần nhắc lại là các nguồn thông tin này thuộc đối tượng loại trừ không được bảo hộ quyền tác giả theo điều 15 Luật SHTT.

2. Khái quát về nhãn hiệu – đối tượng của quyền SHTT

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, đối tượng của quyền SHTT bao gồm: quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá, quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý, quyền đối với giống cây trồng.

Continue reading

NHỮNG LỖI DOANH NGHIỆP THƯỜNG GẶP TRONG QUÁ TRÌNH YÊU CẦU BẢO HỘ NHÃN HIỆU[1]

TS. TRẦN VĂN HẢI – – Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Dẫn nhập

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp không những phải quan tâm đến công tác tổ chức sản xuất, kinh doanh mà còn phải quan tâm đến việc xây dựng, bảo vệ, quảng bá để nâng cao uy tín thương hiệu của mình.

Thương hiệu là yếu tố quan trọng làm nên giá trị của một doanh nghiệp. Có nhiều định nghĩa khác nhau về thương hiệu, nhưng có thể nói thương hiệu của một doanh nghiệp được hình thành bởi nhiều thành tố thuộc tài sản vô hình, như nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, giải pháp hữu ích, uy tín của doanh nghiệp, hình ảnh của doanh nghiệp… Trong các thành tố vừa nêu thì nhãn hiệu là thành tố quan trọng nhất, nó là các dấu hiệu tác động trực tiếp đến giác quan của người tiêu dùng, như nhìn thấy (cấu trúc từ ngữ, màu sắc, hình khối… của nhãn hiệu), nghe thấy (cách phát âm nhãn hiệu), liên tưởng đến (ý nghĩa của nhãn hiệu, ví dụ: hoa hướng dương – sunflower, ánh dương – sunlight…).

Nhãn hiệu đối với doanh nghiệp quan trọng như vậy, nhưng rất tiếc đa số doanh nghiệp lại thường mắc các lỗi dẫn đến đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu bị từ chối, hậu quả là những doanh nghiệp này mất cơ hội kinh doanh, tốn phí thời gian chờ đợi vô ích và sau nữa tốn kém về kinh phí.

Bài viết này sử dụng các tài liệu do Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) quản lý về việc đăng ký nhãn hiệu, thẩm định hình thức, thẩm định nội dung, cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hoặc ra thông báo từ chối bảo hộ nhãn hiệu… đồng thời chúng tôi cũng sử dụng các tài liệu có liên quan đến các doanh nghiệp Nghệ An, với mục đích giúp các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp Nghệ An nói riêng nhận biết các lỗi đã gặp trong quá trình yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu, qua đó tránh các lỗi này để nâng cao khả năng được sở hữu hợp pháp nhãn hiệu của riêng mình nhằm tạo những lợi thế trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Để thống nhất cách hiểu thuật ngữ, chúng tôi dẫn định nghĩa của Luật SHTT: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1067/BXD-QLN NGÀY 01 THÁNG 07 NĂM 2011 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ VƯỚNG MẮC TRONG GIẢI QUYẾT NHÀ Ở CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI

Kính gửi:

Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng

Bộ Xây dựng nhận được Công văn số 768/CTUBND-HC ngày 24/5/2011 của UBND tỉnh Sóc Trăng đề nghị hướng dẫn về giải quyết nhà, đất liên quan đến người Việt Nam đã xuất cảnh, định cư hợp pháp ở nước ngoài. Bộ Xây dựng nhận thấy, tại Công văn này, UBND tỉnh Sóc Trăng mới đề nghị hướng xử lý chung mà chưa nêu cụ thể những vướng mắc trong giải quyết nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Vì vậy, Bộ Xây dựng chỉ có thể trả lời về nguyên tắc như sau:

1. Trường hợp người Việt Nam đã xuất cảnh và định cư hợp pháp ở nước ngoài còn đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (nay gọi là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) nếu thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam (theo quy định tại Điều 1 Luật số 34/2009/QH12 ngày 18/6/2009 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai) thì được công nhận quyền sở hữu đối với nhà ở đó. Chủ sở hữu nhà ở là người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quyền bán, tặng cho, để thừa kế nhà ở cho tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định tại Điều 129 Luật Nhà ở và Điều 2 Luật số 34/2009/QH12).

Trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó.

2. Đối với những trường hợp nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài có liên quan đến các giao dịch dân sự về nhà ở trước ngày 01/7/1991 thì áp dụng quy định tại Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27/7/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để giải quyết. Trường hợp có vướng mắc trong việc áp dụng Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11, đề nghị UBND tỉnh Sóc Trăng có văn bản gửi Bộ Tư pháp để được hướng dẫn thực hiện theo thẩm quyền.

Đề nghị UBND tỉnh Sóc Trăng nghiên cứu, đối chiếu các trường hợp nhà ở cụ thể của người Việt Nam định cư ở nước ngoài với quy định pháp luật để giải quyết./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Trần Nam

CÔNG VĂN SỐ 2058/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 28 THÁNG 6 NĂM 2011 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI HƯỚNG DẪN XỬ LÝ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG KHI HAI DOANH NGHIỆP GÓP VỐN ĐỂ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP MỚI

Kính gửi:

Tổng công ty Bưu chính Việt Nam

Trả lời công văn số 1087/BCVN-TCLĐ ngày 10/6/2011 của Tổng công ty Bưu chính Việt Nam về việc thực hiện hợp đồng lao động khi góp vốn vào Ngân hàng thương mại cổ phần Liên Việt, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Về việc giải quyết chế độ đối với người lao động khi Tổng công ty Bưu chính Việt Nam góp vốn với Ngân hàng thương mại cổ phần Liên Việt bằng giá trị Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện (đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc Tổng công ty Bưu chính Việt Nam) để thành lập Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt thì việc giải quyết chế độ đối với người lao động được thực hiện theo quy định tại Điều 31 của Bộ luật Lao động và Điều 6 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ.

2. Theo trình bày tại công văn số 1087/BCVN-TCLĐ thì Ngân hàng thương mại cổ phần Liên Việt sẽ tiếp nhận nguyên trạng toàn bộ số lao động của Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện sang làm việc tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt, như vậy sau khi bàn giao, Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt có trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động mà Tổng công ty Bưu chính Việt Nam đã ký đối với người lao động hoặc người lao động và Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt có thể thỏa thuận thay đổi nội dung hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 33 của Bộ luật Lao động.

3. Trước thời điểm chuyển giao sang Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt mà người lao động làm việc tại Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện thực hiện chấm dứt hợp đồng đã ký với Tổng công ty Bưu chính Việt Nam theo đúng quy định tại Điều 36, 37, 38 của Bộ luật Lao động thì Tổng công ty Bưu chính Việt Nam có trách nhiệm giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Lao động, Nghị định số 44/2003/NĐ-CP, Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ.

4. Đối với người lao động sau khi đã bàn giao sang Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt mà bị mất việc làm hoặc thôi việc tại thì Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt thì Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt có trách nhiệm giải quyết chế độ thôi việc theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Lao động; mất việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động (thời gian tính trả trợ cấp thôi việc, mất việc làm bao gồm cả thời gian người lao động đã làm việc tại Công ty Dịch vụ Tiết kiệm bưu điện trước đây).

Continue reading

THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM

TS. ĐINH VĂN ÂN -  Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW

1. Bối cảnh và khái niệm

Đường lối đổi mới kinh tế theo hướng thị trường đã đuợc chính thức khẳng định từ Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), khi thông qua kế hoạch cải cách kinh tế theo hướng “đổi mới”. Đường lối này sau đó đã được thể chế hóa trong Hiến pháp (1992) và được tiếp tục phát triển trong các văn kiện của các Đại hội Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ Việt Nam về “phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN”. Để cụ thể hóa đường lối chính trị này, Chính phủ và nhân dân Việt nam những năm qua đã có những nỗ lực không ngừng nhằm hình thành một hệ thống thể chế kinh tế mới: thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.

ở Việt Nam, thể chế kinh tế thị trường hiện được hiểu là một bộ phận cấu thành của hệ thống thể chế xã hội, tồn tại song trùng với các bộ phận khác như thể chế chính trị, thể chế gia đình, thể chế văn hóa; thể chế tôn giáo, v.v.. Các yếu tố cấu thành của hệ thống thể chế đó bao gồm: (i) các quy tắc, chuẩn mực (rules and norms) về hành vi kinh tế diễn ra trên thị trường; (ii) bản thân các bên tham gia thị trường với tư cách là các chủ thể thị trường (market actors); (iii) cách thức tổ chức thực hiện các quy tắc, chuẩn mực thị trường, nhằm đạt được mục tiêu, hay kết quả mà các bên tham gia thị trường mong muốn; và (vi) hệ thống các thực thể thị trường vật chất, tức là bản thân các “thị trường”- với tư cách là các địa điểm, là “sân chơi”, là các đầu mối giao dịch, nơi hàng hóa, dịch vụ được trao đổi trên cơ sở cung cầu, quy định của “luật chơi” (Bảng 1).

Việc Việt nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN xuất phát từ thực tế là mô hình kinh tế CNXH cổ điển, đặc trưng bởi hệ thống kinh tế kế hoạch hoá tập trung, sau nhiều thập kỷ tồn tại, đã tỏ ra không còn sức sống và khả năng tự phát triển nội sinh về mặt kinh tế. Trong khi đó, kinh tế thị trường với tư cách là một phương thức sản xuất, đã được chứng minh là có thể được sử dụng nhằm phục vụ cho sự phát triển và thịnh vượng chung của các quốc gia, dân tộc, chứ không phải chỉ là tài sản riêng của CNTB. Tuy nhiên, thực tế phát triển của các nền kinh tế thị trường (nhất là các nước theo mô hình kinh tế thị trường “thuần chủng”) ngày càng cho thấy rõ chính trong quá trình phát triển của mình, kinh tế thị trường luôn luôn tiềm ẩn những nguy cơ thất bại, bởi nó tỏ ra mâu thuẫn sâu sắc với các giá trị truyền thống, 1àm tăng tính bất ổn của xã hội và khoét sâu hố ngăn cách giầu – nghèo. Vì vậy, vai trò Nhà nước như một chủ thể xã hội sáng tạo và hùng mạnh để quản lý các quá trình kinh tế vĩ mô, nhằm hạn chế những khuyết tật của thị trường, đáp ứng yêu cầu phát triển, cần phải được khai thác có hiệu quả. Vì vậy, các thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam được xây dựng và thực thi chính là nhằm mục đích làm cho “thị trường” và “Nhà nước” trở thành hai yếu tố bổ sung cho nhau, chứ không phải thay thế, loại trừ nhau.

Bảng 1: Các yếu tố cấu thành thể chế kinh tế thị trường.

Các yếu tố

Nội dung

¨ Các quy tắc tạo thành “luật chơi” kinh tế thị trường

o Khung luật pháp về kinh tế;

o Các quy tắc, chuẩn mực xã hội về/ hoặc liên quan đến kinh tế, kể các các quy tắc hay chuẩn mực phi chính thức;

¨ Các chủ thể tham gia “trò chơi” kinh tế thị trường

o Các cơ quan quản lí nhà nước về kinh tế;

o Doanh nghiệp;

o Các tổ chức thuộc “xã hội dân sự”, cộng đồng dân cư và người dân;

¨ Các cơ chế thực thi các “luật chơi kinh tế” trên thị trường

o Cơ chế bổ sung giữa Thị trường và Nhà nước;

o Cơ chế phân cấp quản lí kinh tế;

o Cơ chế phối hợp;

o Cơ chế tham gia; v.v.

¨ Các “sân chơi kinh tế” hay hệ thống các “thị trường cứng”

o Thị trường hàng hóa;

o thị trường vốn,

o thị trường lao động,

o thị trường bất động sản,

o v.v.

Phần dưới đây sẽ trình bày ngắn gọn về thực trạng quá trình hình thành và hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam trong những năm gần đây.

Continue reading

VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

TS. LÊ XUÂN BÁ – VIỆN QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, để có thể cạnh tranh và đứng vững trên thị trường, Việt Nam đã và đang phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, kết hợp nội lực với ngoại lực để phát triển nhanh hơn. Tuy nhiên, trong giới nghiên cứu và lý luận hiện vẫn còn nhiều tranh luận xung quanh vị trí, vai trò của từng thành phần trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.[1] Bài viết này nhằm mục đích góp thêm tiếng nói vào diễn đàn tranh luận đó. Bài viết được trình bày theo 4 phần, trong đó: phần 1 điểm lại những chủ trương chính sách về phát triển các thành phần kinh tế của Nhà nước ta; phần 2 phân tích và đánh giá vị trí vai trò của từng thành phần kinh tế hiện nay; phần 3 dự báo xu hướng phát triển trong thời gian tới và nêu lên một số định hướng chính sách; và phần cuối là kết luận.

Để đánh giá vai trò của các thành phần kinh tế, bài viết sẽ xem xét từng thành phần trong việc huy động và sử dụng các nguồn lực sản xuất (vốn, lao động, đất đai, khoa học công nghệ, v.v.), đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và thu ngân sách nhà nước và vai trò trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Việc dự báo xu hướng phát triển sẽ căn cứ vào quá trình phát triển của các thành phần kinh tế trong thời gian qua, bối cảnh và xu hướng phát triển đất nước trong thời gian tới. Bài viết sử dụng những số liệu thống kê công bố chính thức và nhiều kết quả nghiên cứu khác về các lĩnh vực liên quan. Tuy nhiên, hiện nay, những số liệu thống kê theo cả 6 thành phần kinh rất hạn chế nên việc đánh giá khó có thể đầy đủ và hoàn toàn chính xác. Trong các chỉ tiêu đánh giá, chỉ có chỉ tiêu tỷ trọng của từng thành phần kinh tế trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là được tính toán theo 6 thành phần kinh tế, các chỉ tiêu khác chỉ tính theo 3 khu vực kinh tế là kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài quốc doanh và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Thậm chí, khái niệm về từng thành phần kinh tế trong các chỉ tiêu không hoàn toàn trùng nhau. Chính vì vậy, bài viết này không có tham vọng đánh giá một cách chính xác tuyệt đối mức độ đóng góp của từng thành phần vào phát triển kinh tế. Thay vào đó, bài viết này chỉ cố gắng nêu lên một số nhận định về vị trí, vai trò của từng thành phần kinh tế trong mối tương quan so sánh với vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế khác.

1- Chủ trương và chính sách phát triển các thành phần kinh tế

Quan niệm về các thành phần kinh tế ở nước ta có sự thay đổi cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Trước năm 1986 chỉ có hai thành phần kinh tế được công nhận chính thức, đó là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể. Đến Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), khi bắt đầu bước vào xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, Nhà nước chính thức xác nhận các thành phần kinh tế (bao gồm kinh tế xã hội chủ nghĩa gồm khu vực quốc doanh và khu vực tập thể cùng với bộ phận kinh tế gia đình gắn liền với thành phần đó và các thành phần kinh tế khác gồm: kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc tiểu số ở Tây Nguyên và các vùng núi cao khác). Cũng những thành phần kinh tế đó, Đại hội Đảng VII (1991) và VIII (1996) đã phân định thành 5 thành phần (bao gồm: kinh tế quốc doanh/kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể/HTX, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân). Đại hội Đảng IX (2001) đã bổ sung thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Văn kiện của Đại hội IX đã khẳng định rõ "Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân"[2].

Continue reading