CÔNG ĐIỆN SỐ 1120/CĐ-TTg NGÀY 09 THÁNG 07 NĂM 2011 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ NGUY CƠ LẠM PHÁT CAO, BẤT ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ ĐÃ TRỞ THÀNH THÁCH THỨC LỚN NHẤT ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ NƯỚC TA NĂM 2011

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Điện:

– Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ;
– Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
– Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc các Tập đoàn kinh tế, các Tổng công ty nhà nước.

Sáu tháng đầu năm 2011, nền kinh tế nước ta tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn, thách thức mới: tăng trưởng kinh tế có xu hướng chậm lại, chỉ số giá tiêu dùng mặc dù có xu hướng giảm dần nhưng đang ở mức cao; mặt bằng lãi suất vẫn còn ở mức cao, làm khó khăn cho sản xuất, kinh doanh … Nguy cơ lạm phát cao, bất ổn kinh tế vĩ mô đã trở thành thách thức lớn nhất đối với nền kinh tế nước ta trong năm 2011.

Trong những ngày đầu tháng 7, ở một số địa phương đã xảy ra tình trạng giá lương thực, thực phẩm tăng cao, gây ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân cũng như mục tiêu kiềm chế lạm phát của Chính phủ. Để đạt được mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức khoảng 15 – 17% như đã báo cáo Ban Chấp hành Trung ương và Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

a) Tăng cường công tác quản lý giá cả, thị trường; chỉ đạo các cơ quan chức năng tập trung triển khai quyết liệt các biện pháp kiểm tra, kiểm soát giá cả, thị trường, không để xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng, tăng giá bất hợp lý, tùy tiện; kiểm soát chặt chẽ việc tuân thủ quy định pháp luật về quản lý giá trên địa bàn.

b) Chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh các mặt hàng thiết yếu, nhất là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, bảo đảm cho nhu cầu tiêu dùng và tăng thu nhập cho nhân dân.

c) Xử lý kiên quyết, kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về giá, nhất là việc lợi dụng chủ trương của Nhà nước về điều hành giá một số mặt hàng theo cơ chế thị trường để tăng giá bất hợp lý, đưa tin thất thiệt, gây tâm lý hoang mang trên địa bàn.

d) Phối hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị – xã hội và các đoàn thể trên địa bàn xây dựng các biện pháp phù hợp để khuyến khích, động viên các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân kinh doanh trên địa bàn tích cực hưởng ứng chủ trương kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội đã nêu trong Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2011 của Chính phủ.

Continue reading

NỢ CÔNG VIỆT NAM–NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN BÀN THÊM

TS. LÊ PHAN DIỆU THẢO & NGUYỄN THẢO PHƯƠNG – Đại học Ngân hàng TP.Hồ Chí Minh

Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008), nợ công và khủng hoảng nợ công đã trở thành thuật ngữ phổ biến trong các bản tin kinh tế nói chung và tài chính nói riêng. Trong thời gian gần đây, nợ công không chỉ là nỗi lo lắng của chính phủ mà còn là sự quan tâm của cả cộng đồng. Thật vậy, Zimbabwe – quốc gia có tỷ lệ lạm phát khủng khiếp cũng chính là nước có tỷ lệ nợ công trên GDP cao nhất thế giới. Mối liên kết giữa các thành viên trong EU đang bị đe đe dọa bởi khủng hoảng nợ công. Tháng 4/2011, nội các của Chính phủ Mỹ bất đồng vì nợ công. Tại Việt Nam, theo World Factbook của CIA (Central Intelligence Agency), tỷ lệ nợ công so với GDP năm 2009 là 52,30% và Việt Nam hiện đang xếp thứ 44 trong 129 quốc gia về nợ công (bảng 1).

THỰC TRẠNG NỢ CÔNG TẠI VIỆT NAM

Về quy mô nợ công

Theo công bố của Tạp chí Kinh tế The Economist, tỷ lệ nợ công năm 2010 của Việt Nam là 50,935 tỷ USD tương đương 51,6% GDP. Mặc dù tỷ lệ nợ này vẫn nằm trong tầm kiểm soát (dưới 50%/GDP) nhưng nó quá cao so với mức phổ biến ở các nền kinh tế đang phát triển (từ 30-40%) và với thực trạng nợ công của một số nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc (17,4%), Indonesia (26,5%).

Ngoài ra, cũng theo The Economist, mức nợ công tính trên đầu người của Việt Nam năm 2010 là 580,91 USD. Nếu so sánh với 713,6 USD (Trung Quốc), 743 USD (Indonesia), 4.184 USD (Malaysia), 1.071 USD (Philippines), 2.064 USD (Thái Lan) thì đây là con số không cao. Tuy nhiên, nếu so mức nợ công bình quân đầu người của Việt Nam vào năm 2001 xấp xỉ 112 USD; thì trong vòng 10 năm, con số này đã tăng gấp 5 lần. Với thực trạng tỷ lệ tiết kiệm nội địa khoảng 27% GDP trong khi mức đầu tư toàn xã hội mỗi năm khoảng 42% GDP tại Việt Nam hiện nay, thì chắc chắn con số này sẽ tiếp tục gia tăng trong những năm tới.

Về cơ cấu nợ công

Trước hết về hình thức vay nợ:

Theo Luật Quản lý nợ công Việt Nam 2009, nợ công bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Với cách tính này, nợ Chính phủ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nợ công của Việt Nam. Cụ thể, tỷ lệ nợ công năm 2009 Việt Nam là 52,6%/GDP, nợ Chính phủ là 41,9%, nợ Chính phủ bảo lãnh là 9,8%, nợ chính quyền địa phương là 0,8%. Con số tương tự của năm 2010 lần lượt là 56,6%, 44,3%, 11,36% và 0,94% (biểu đồ 1).

Continue reading

HỢP ĐỒNG REPO CHỨNG KHOÁN VÀ VIỆC SỬA ĐỔI CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG CHUỘC LẠI TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

TS. NGUYỄN THỊ THU VÂN & TS. TRẦN THỊ THU HÀ – Khoa Tài chính, kế toán, Đại học Hòa Bình

1. Đầu năm 2007, khi thị trường chứng khoán (TTCK) đang sôi động, tính thanh khoản cao, nhiều Công ty chứng khoán (CTCK) đã chào bán một dịch vụ mới cho các nhà đầu tư tại Việt Nam là dịch vụ repo chứng khoán. Hầu hết các CTCK đều quảng bá rầm rộ dịch vụ này với lợi thế hấp dẫn là khách hàng có thể có được một khoản tiền lớn hơn so với dịch vụ cho vay cầm cố chứng khoán mà thủ tục lại đơn giản, thuận tiện, nhanh gọn.

Tuy nhiên, sau năm 2007, TTCK Việt Nam lao dốc liên tục. Nhiều CTCK trước đó đã cho khách hàng repo đến giới hạn nguy hiểm và vì vậy, đã tự đẩy mình vào bờ vực phá sản khi cho khách hàng repo tới hàng ngàn tỷ đồng. Trước tình hình đó, ngày 27/5/2008, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã có Công văn số 990/UBCK-QLKD yêu cầu các CTCK phải dừng ký mới các hợp đồng repo cổ phiếu. Yêu cầu này được đưa ra sau khi VN-Index mất gần 100 điểm trong vòng một tháng. Công văn này ra đời là do UBCKNN lo sợ TTCK sẽ giảm sâu hơn nữa từ những tác động của hoạt động thế chấp, cầm cố và repo chứng khoán. Sang đầu năm 2009, khi TTCK có dấu hiệu phục hồi, các CTCK rục rịch khởi động lại dịch vụ repo.

Trên thực tế, dù trong thời gian qua, hợp đồng repo chứng khoán đã được nhiều CTCK triển khai mạnh, nhưng một quy chế pháp lý cho loại hợp đồng này vẫn chưa được thiết lập. Bởi vậy, việc ký kết các hợp đồng repo trên TTCK hiện đang ở trong tình trạng mạnh ai nấy làm, không theo một “quy chuẩn” pháp lý nào. Chính vì chưa có bất cứ một hướng dẫn nào từ cơ quan có thẩm quyền, nên các CTCK đã tự soạn sẵn những hợp đồng repo với tính chất như một hợp đồng mẫu, trong đó thiết kế những điều khoản có lợi cho mình để các nhà đầu tư ký. Hệ quả là khi xảy ra tranh chấp, nhà đầu tư (trong đó có không ít nhà đầu tư nhỏ lẻ, ít vốn, ít kinh nghiệm, thiếu thông tin) sẽ là người bị thua thiệt. Vì vậy, trong một động thái thận trọng, cuối tháng 5/2009, một lần nữa UBCKNN lại có công văn yêu cầu các CTCK không được ký mới các hợp đồng repo. Được biết, từ vài năm nay, Bộ Tài chính đang dự kiến ban hành một thông tư hướng dẫn giao dịch mua bán lại chứng khoán nhưng cho đến nay, dự thảo này vẫn chưa được thông qua.

Continue reading