THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM

TS. ĐINH VĂN ÂN -  Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW

1. Bối cảnh và khái niệm

Đường lối đổi mới kinh tế theo hướng thị trường đã đuợc chính thức khẳng định từ Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), khi thông qua kế hoạch cải cách kinh tế theo hướng “đổi mới”. Đường lối này sau đó đã được thể chế hóa trong Hiến pháp (1992) và được tiếp tục phát triển trong các văn kiện của các Đại hội Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ Việt Nam về “phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN”. Để cụ thể hóa đường lối chính trị này, Chính phủ và nhân dân Việt nam những năm qua đã có những nỗ lực không ngừng nhằm hình thành một hệ thống thể chế kinh tế mới: thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.

ở Việt Nam, thể chế kinh tế thị trường hiện được hiểu là một bộ phận cấu thành của hệ thống thể chế xã hội, tồn tại song trùng với các bộ phận khác như thể chế chính trị, thể chế gia đình, thể chế văn hóa; thể chế tôn giáo, v.v.. Các yếu tố cấu thành của hệ thống thể chế đó bao gồm: (i) các quy tắc, chuẩn mực (rules and norms) về hành vi kinh tế diễn ra trên thị trường; (ii) bản thân các bên tham gia thị trường với tư cách là các chủ thể thị trường (market actors); (iii) cách thức tổ chức thực hiện các quy tắc, chuẩn mực thị trường, nhằm đạt được mục tiêu, hay kết quả mà các bên tham gia thị trường mong muốn; và (vi) hệ thống các thực thể thị trường vật chất, tức là bản thân các “thị trường”- với tư cách là các địa điểm, là “sân chơi”, là các đầu mối giao dịch, nơi hàng hóa, dịch vụ được trao đổi trên cơ sở cung cầu, quy định của “luật chơi” (Bảng 1).

Việc Việt nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN xuất phát từ thực tế là mô hình kinh tế CNXH cổ điển, đặc trưng bởi hệ thống kinh tế kế hoạch hoá tập trung, sau nhiều thập kỷ tồn tại, đã tỏ ra không còn sức sống và khả năng tự phát triển nội sinh về mặt kinh tế. Trong khi đó, kinh tế thị trường với tư cách là một phương thức sản xuất, đã được chứng minh là có thể được sử dụng nhằm phục vụ cho sự phát triển và thịnh vượng chung của các quốc gia, dân tộc, chứ không phải chỉ là tài sản riêng của CNTB. Tuy nhiên, thực tế phát triển của các nền kinh tế thị trường (nhất là các nước theo mô hình kinh tế thị trường “thuần chủng”) ngày càng cho thấy rõ chính trong quá trình phát triển của mình, kinh tế thị trường luôn luôn tiềm ẩn những nguy cơ thất bại, bởi nó tỏ ra mâu thuẫn sâu sắc với các giá trị truyền thống, 1àm tăng tính bất ổn của xã hội và khoét sâu hố ngăn cách giầu – nghèo. Vì vậy, vai trò Nhà nước như một chủ thể xã hội sáng tạo và hùng mạnh để quản lý các quá trình kinh tế vĩ mô, nhằm hạn chế những khuyết tật của thị trường, đáp ứng yêu cầu phát triển, cần phải được khai thác có hiệu quả. Vì vậy, các thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam được xây dựng và thực thi chính là nhằm mục đích làm cho “thị trường” và “Nhà nước” trở thành hai yếu tố bổ sung cho nhau, chứ không phải thay thế, loại trừ nhau.

Bảng 1: Các yếu tố cấu thành thể chế kinh tế thị trường.

Các yếu tố

Nội dung

¨ Các quy tắc tạo thành “luật chơi” kinh tế thị trường

o Khung luật pháp về kinh tế;

o Các quy tắc, chuẩn mực xã hội về/ hoặc liên quan đến kinh tế, kể các các quy tắc hay chuẩn mực phi chính thức;

¨ Các chủ thể tham gia “trò chơi” kinh tế thị trường

o Các cơ quan quản lí nhà nước về kinh tế;

o Doanh nghiệp;

o Các tổ chức thuộc “xã hội dân sự”, cộng đồng dân cư và người dân;

¨ Các cơ chế thực thi các “luật chơi kinh tế” trên thị trường

o Cơ chế bổ sung giữa Thị trường và Nhà nước;

o Cơ chế phân cấp quản lí kinh tế;

o Cơ chế phối hợp;

o Cơ chế tham gia; v.v.

¨ Các “sân chơi kinh tế” hay hệ thống các “thị trường cứng”

o Thị trường hàng hóa;

o thị trường vốn,

o thị trường lao động,

o thị trường bất động sản,

o v.v.

Phần dưới đây sẽ trình bày ngắn gọn về thực trạng quá trình hình thành và hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam trong những năm gần đây.

Continue reading

VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

TS. LÊ XUÂN BÁ – VIỆN QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, để có thể cạnh tranh và đứng vững trên thị trường, Việt Nam đã và đang phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, kết hợp nội lực với ngoại lực để phát triển nhanh hơn. Tuy nhiên, trong giới nghiên cứu và lý luận hiện vẫn còn nhiều tranh luận xung quanh vị trí, vai trò của từng thành phần trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.[1] Bài viết này nhằm mục đích góp thêm tiếng nói vào diễn đàn tranh luận đó. Bài viết được trình bày theo 4 phần, trong đó: phần 1 điểm lại những chủ trương chính sách về phát triển các thành phần kinh tế của Nhà nước ta; phần 2 phân tích và đánh giá vị trí vai trò của từng thành phần kinh tế hiện nay; phần 3 dự báo xu hướng phát triển trong thời gian tới và nêu lên một số định hướng chính sách; và phần cuối là kết luận.

Để đánh giá vai trò của các thành phần kinh tế, bài viết sẽ xem xét từng thành phần trong việc huy động và sử dụng các nguồn lực sản xuất (vốn, lao động, đất đai, khoa học công nghệ, v.v.), đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và thu ngân sách nhà nước và vai trò trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Việc dự báo xu hướng phát triển sẽ căn cứ vào quá trình phát triển của các thành phần kinh tế trong thời gian qua, bối cảnh và xu hướng phát triển đất nước trong thời gian tới. Bài viết sử dụng những số liệu thống kê công bố chính thức và nhiều kết quả nghiên cứu khác về các lĩnh vực liên quan. Tuy nhiên, hiện nay, những số liệu thống kê theo cả 6 thành phần kinh rất hạn chế nên việc đánh giá khó có thể đầy đủ và hoàn toàn chính xác. Trong các chỉ tiêu đánh giá, chỉ có chỉ tiêu tỷ trọng của từng thành phần kinh tế trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là được tính toán theo 6 thành phần kinh tế, các chỉ tiêu khác chỉ tính theo 3 khu vực kinh tế là kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài quốc doanh và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Thậm chí, khái niệm về từng thành phần kinh tế trong các chỉ tiêu không hoàn toàn trùng nhau. Chính vì vậy, bài viết này không có tham vọng đánh giá một cách chính xác tuyệt đối mức độ đóng góp của từng thành phần vào phát triển kinh tế. Thay vào đó, bài viết này chỉ cố gắng nêu lên một số nhận định về vị trí, vai trò của từng thành phần kinh tế trong mối tương quan so sánh với vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế khác.

1- Chủ trương và chính sách phát triển các thành phần kinh tế

Quan niệm về các thành phần kinh tế ở nước ta có sự thay đổi cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Trước năm 1986 chỉ có hai thành phần kinh tế được công nhận chính thức, đó là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể. Đến Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), khi bắt đầu bước vào xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, Nhà nước chính thức xác nhận các thành phần kinh tế (bao gồm kinh tế xã hội chủ nghĩa gồm khu vực quốc doanh và khu vực tập thể cùng với bộ phận kinh tế gia đình gắn liền với thành phần đó và các thành phần kinh tế khác gồm: kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc tiểu số ở Tây Nguyên và các vùng núi cao khác). Cũng những thành phần kinh tế đó, Đại hội Đảng VII (1991) và VIII (1996) đã phân định thành 5 thành phần (bao gồm: kinh tế quốc doanh/kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể/HTX, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân). Đại hội Đảng IX (2001) đã bổ sung thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Văn kiện của Đại hội IX đã khẳng định rõ "Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân"[2].

Continue reading

GIA ĐÌNH VỚI CHỨC NĂNG GIÁO DỤC TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA

PGS.TS. NGUYỄN LINH KHIẾU

Gia đình là tế bào của xã hội, đồng thời cũng là một thiết chế xã hội. Gia đình vừa tạo dựng nên xã hội, lại vừa biến đổi cùng sự biến đổi của xã hội. Trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam, cùng với sự biến đổi mạnh mẽ của cả xã hội, gia đình cũng đang biến đổi một cách toàn diện. Do sự thay đổi các quan hệ và các hệ thống giá trị xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa nên vấn đề thực hiện chức năng giáo dục của gia đình cũng đang đứng trước rất nhiều cơ hội và thách thức. 

Gia đình với chức năng giáo dục

Gia đình là môi trường nguyên thủy mỗi con người sinh ra và trưởng thành. Là một nhóm xã hội đặc biệt, gia đình được hình thành một cách tự nhiên bởi quan hệ hôn nhân và huyết thống, mọi thành viên gia đình cùng chung sống và có chung ngân sách. Bài học đầu tiên mỗi chúng ta học trên cuộc đời này là trong gia đình. Giáo dục gia đình thực sự là một sự nghiệp diễn ra liên tục trong suốt cả cuộc đời mỗi con người. Giáo dục gia đình đó là sự tác động một cách kiên trì, thường xuyên, tổng thể và sâu sắc của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách mỗi con người. Quan niệm, thái độ, lối sống, cách ứng xử, hành vi đạo đức, tính cách, năng lực, công việc, sự nghiệp… của cha mẹ để lại dấu ấn sâu nặng đối với con cái mỗi gia đình. Nó tạo nên sản phẩm mà dân gian gọi là “giỏ nhà ai quai” nhà ấy.

Giáo dục gia đình chủ yếu được thực hiện bằng tình cảm và đó là nền giáo dục vừa toàn diện, vừa cụ thể và mang tính cá biệt cao. Toàn diện là bởi giáo dục gia đình hướng tới thúc đẩy sự phát triển đầy đủ mọi phẩm chất con người. Cụ thể là vì giáo dục gia đình không mang tính chung chung, trừu tượng mà nhằm vào mỗi cá nhân cụ thể và nhằm xây dựng, phát triển những phẩm chất, năng lực cụ thể của từng người. Giáo dục gia đình mang tính cá biệt là do đối tượng là những cá thể đặc thù, riêng biệt. Đối với mỗi cá nhân cụ thể đó thì phải có phương pháp, cách thức và nội dung giáo dục riêng, cụ thể, cá biệt mới phù hợp và chỉ có như thế mới mang lại hiệu quả của giáo dục gia đình. Như thế, có thể nói giáo dục gia đình là một dạng giáo dục đặc biệt của xã hội loài người.

Giáo dục gia đình được thực hiện thông qua cách thức tổ chức đời sống gia đình, quá trình tổ chức các hoạt động của trẻ và cơ bản là dựa trên nền tảng căn bản là sự gương mẫu, sự nêu gương của các bậc cha, mẹ. Dĩ nhiên, giáo dục gia đình thường sử dụng các phương pháp đơn giản như: khuyên bảo, thuyết phục, đó là vừa dạy vừa dỗ vừa phân tích, diễn giải, chỉ bảo, khuyên nhủ; tập luyện, xây dựng thói quen, tạo lập nếp sống nền nếp tốt đẹp; cổ vũ, khích lệ, khen thưởng kịp thời những cố gắng, những thành tích đạt được dù là rất nhỏ; và, kỷ luật, răn đe, trừng phạt nghiêm khi trẻ có sai trái, không nghe lời… Tuy nhiên, các phương pháp này thường được mỗi gia đình sử dụng một cách linh hoạt và mềm dẻo rất khác nhau tùy thuộc vào môi trường gia đình cũng như đối tượng, mục đích giáo dục.

Continue reading