TRANH CHẤP VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ: KIỆN BỒI THƯỜNG BỨC TRANH

HOÀNG YẾN

Chủ nhân bức tranh sơn dầu đòi bồi thường 200 triệu đồng, còn bên kia bảo việc kiện tụng trên là phi lý.

Ngày 3-6, ông L., ngụ huyện Bình Chánh (TP.HCM) đã nộp đơn khởi kiện, đòi ông K. bồi thường 200 triệu đồng do đã làm bẩn bức tranh sơn dầu của mình …

Bức tranh bị bẩn

Theo hồ sơ, ông L. có bức tranh “Dáng Huế” vẽ một thiếu nữ Huế mặc áo dài trắng cầm cành hoa sen, được giới trong nghề nhận định rất giá trị.

Ngày 9-4, qua giới thiệu, ông K. tìm đến thỏa thuận mua với giá khoảng 128 triệu đồng. Tuy nhiên, trước khi trả tiền, ông muốn mượn bức tranh trong một tuần để đem đi nhờ người thẩm định. Ông L. đồng ý và buộc ông K. phải trả 5 triệu đồng cho việc mượn tranh.

Sau một tuần, ông K. đem trả lại do không thích tranh này và chỉ trả 5 triệu đồng tiền mượn tranh. Mở bức tranh ra xem lại, ông L. phát hiện một góc tranh bị vấy bẩn và tranh có một số hạt màu lốm đốm. Ông nhất quyết không nhận lại tranh và yêu cầu ông K. phải mua lại bức tranh trên như giá thỏa thuận ban đầu…

Phải trả lại nguyên bản…

Hai bên tranh cãi mãi mà vẫn không thống nhất nên ông L. phải gửi đơn đến tòa một quận ở TP.HCM phân xử. Ông L. yêu cầu tòa buộc ông K. đền lại bức tranh y nguyên bản ban đầu, nếu không đền được ông K. phải bồi thường thiệt hại khoảng 200 triệu đồng. Bởi ngoài giá trị 128 triệu đồng mà đôi bên đã đồng ý mua bán, ông còn bị tổn thất về tinh thần do bức tranh là tài sản quý mà cha ông đã để lại cho gia đình…

Ngược lại, phía ông K. cho rằng yêu cầu đòi bồi thường của ông L. là hết sức phi lý. Bức tranh ông hoàn trả là nguyên vẹn. Ông L. bảo ông làm nó vấy bẩn là không chính xác. Vết vấy bẩn trên tranh có từ khi nào ông không rõ và không phải do ông gây ra. Ông yêu cầu tòa đưa bức tranh đi thẩm định giá phần thiệt hại đồng thời nếu có cơ sở chứng minh ông làm hư bức tranh thì ông mới bồi thường. Cuối cùng ông khẳng định thêm, giá trị bức tranh không thể nào lên tới 128 triệu đồng.

Continue reading

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ TRONG HỢP ĐỒNG

TRẦN VIỆT ANH – Công ty Luật TNHH Baker&McKenzie

Để thực hiện mục tiêu “Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng theo hướng tôn trọng thoả thuận của các bên giao kết hợp đồng, không trái với đạo đức xã hội, không xâm phạm trật tự công cộng, phù hợp với tập quán, thông lệ thương mại quốc tế”1, các nội dung sửa đổi, bổ sung pháp luật về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005) đã nhận được sự quan tâm nhiệt tình của các cơ quan, tổ chức và giới luật học. Bài viết nêu lên những bất cập và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện chế định trách nhiệm dân sự (TNDS) trong hợp đồng hay TNDS do vi phạm hợp đồng.

1. Bất cập trong thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về trách nhiệm dân sự trong hợp đồng

Trong thực tiễn áp dụng pháp luật hợp đồng và công tác xét xử của Tòa án hiện nay, xuất hiện một số tồn tại, vướng mắc liên quan đến áp dụng các quy định về TNDS do vi phạm hợp đồng như sau:

– Với vai trò là BLDS thống nhất, BLDS 2005 đã đặt những nền tảng cơ bản nhằm điều chỉnh các quan hệ dân sự theo các quy tắc chung, mà quan hệ hợp đồng là một trong số đó. Mặc dù vậy, vẫn tồn tại những quy định mâu thuẫn nhau của Luật Thương mại 2005 và BLDS 2005 liên quan đến vấn đề hợp đồng.

Ví dụ, về trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH), theo BLDS 2005, có bốn căn cứ để xác định trách nhiệm BTTH: có hành vi vi phạm, có lỗi của bên vi phạm, có thiệt hại thực tế xảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại. Còn trong Luật Thương mại 2005 lại không quy định yếu tố lỗi là một căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH.

Về căn cứ miễn trách nhiệm vi phạm nghĩa vụ hợp đồng cũng tồn tại một vài điểm chưa thống nhất. Nếu BLDS chỉ đặt ra hai căn cứ miễn trách nhiệm là sự kiện bất khả kháng và lỗi của bên bị vi phạm (còn lại là trường hợp miễn trách nhiệm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng) thì Luật Thương mại 2005 lại quy định bốn trường hợp là căn cứ miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm tại Điều 294 bao gồm: các trường hợp miễn trách nhiệm do các bên thỏa thuận, sự kiện bất khả kháng, hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia và hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.

Continue reading