TRANH CHẤP NHÃN HIỆU GIỮA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC[1]

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

1. Dẫn nhập

Trong một phần của bài tham luận Quản lý tài sản trí tuệ trong các trường đại học có đào tạo về kinh tế và quản lý tại Hội thảo khoa học quốc gia Đổi mới hoạt động khoa học và công nghệ để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực về kinh tế – quản trị kinh doanh trong các trường đại học phục vụ phát triển kinh tế – xã hội[2] do Trường Đại học Kinh tế Quốc dân tổ chức tại Hà Nội vào ngày 25.01.2010, tác giả đã nêu sơ bộ về nhãn hiệu của các cơ sở giáo dục và đào tạo ở Việt Nam. Đồng thời, tác giả đã cảnh báo về khả năng xảy ra tranh chấp nhãn hiệu giữa các cơ sở giáo dục và đào tạo ở Việt Nam.

Ngày 07.08.2010 lời cảnh báo trên đã thành hiện thực, khi Trường Đại học Đông Á (Đà Nẵng) đã có Đơn khiếu nại gửi Trường Đại học Công nghệ Đông Á (Bắc Ninh), Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam và đồng gửi các cơ quan báo chí về việc Trường Đại học Công nghệ Đông Á xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu “Đại học Đông Á” do Trường Đại học Đông Á (Đà Nẵng) là chủ sở hữu.

Nhận thấy rằng đây là một vấn đề cần nghiên cứu để hạn chế, đi đến chấm dứt tình trạng tranh chấp về nhãn hiệu giữa các trường đại học và cũng góp phần để các trường đại học khẳng định tài sản trí tuệ của mình trong thời kỳ hội nhập quốc tế, tác giả đã tiến hành khảo sát tổng thể các nhãn hiệu của các trường đại học tại Việt Nam.

Để có tư liệu viết bài này, chúng tôi đã sử dụng các nguồn thông tin: 1. Công báo Sở hữu công nghiệp do Cục SHTT phát hành; 2. Một số văn bản hành chính do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành; 3. Các tin tức thời sự đăng trên báo chí hoặc trên Internet. Cũng cần nhắc lại là các nguồn thông tin này thuộc đối tượng loại trừ không được bảo hộ quyền tác giả theo điều 15 Luật SHTT.

2. Khái quát về nhãn hiệu – đối tượng của quyền SHTT

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, đối tượng của quyền SHTT bao gồm: quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá, quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý, quyền đối với giống cây trồng.

Continue reading

NHỮNG LỖI DOANH NGHIỆP THƯỜNG GẶP TRONG QUÁ TRÌNH YÊU CẦU BẢO HỘ NHÃN HIỆU[1]

TS. TRẦN VĂN HẢI – – Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Dẫn nhập

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp không những phải quan tâm đến công tác tổ chức sản xuất, kinh doanh mà còn phải quan tâm đến việc xây dựng, bảo vệ, quảng bá để nâng cao uy tín thương hiệu của mình.

Thương hiệu là yếu tố quan trọng làm nên giá trị của một doanh nghiệp. Có nhiều định nghĩa khác nhau về thương hiệu, nhưng có thể nói thương hiệu của một doanh nghiệp được hình thành bởi nhiều thành tố thuộc tài sản vô hình, như nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, giải pháp hữu ích, uy tín của doanh nghiệp, hình ảnh của doanh nghiệp… Trong các thành tố vừa nêu thì nhãn hiệu là thành tố quan trọng nhất, nó là các dấu hiệu tác động trực tiếp đến giác quan của người tiêu dùng, như nhìn thấy (cấu trúc từ ngữ, màu sắc, hình khối… của nhãn hiệu), nghe thấy (cách phát âm nhãn hiệu), liên tưởng đến (ý nghĩa của nhãn hiệu, ví dụ: hoa hướng dương – sunflower, ánh dương – sunlight…).

Nhãn hiệu đối với doanh nghiệp quan trọng như vậy, nhưng rất tiếc đa số doanh nghiệp lại thường mắc các lỗi dẫn đến đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu bị từ chối, hậu quả là những doanh nghiệp này mất cơ hội kinh doanh, tốn phí thời gian chờ đợi vô ích và sau nữa tốn kém về kinh phí.

Bài viết này sử dụng các tài liệu do Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) quản lý về việc đăng ký nhãn hiệu, thẩm định hình thức, thẩm định nội dung, cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hoặc ra thông báo từ chối bảo hộ nhãn hiệu… đồng thời chúng tôi cũng sử dụng các tài liệu có liên quan đến các doanh nghiệp Nghệ An, với mục đích giúp các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp Nghệ An nói riêng nhận biết các lỗi đã gặp trong quá trình yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu, qua đó tránh các lỗi này để nâng cao khả năng được sở hữu hợp pháp nhãn hiệu của riêng mình nhằm tạo những lợi thế trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Để thống nhất cách hiểu thuật ngữ, chúng tôi dẫn định nghĩa của Luật SHTT: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1067/BXD-QLN NGÀY 01 THÁNG 07 NĂM 2011 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ VƯỚNG MẮC TRONG GIẢI QUYẾT NHÀ Ở CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI

Kính gửi:

Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng

Bộ Xây dựng nhận được Công văn số 768/CTUBND-HC ngày 24/5/2011 của UBND tỉnh Sóc Trăng đề nghị hướng dẫn về giải quyết nhà, đất liên quan đến người Việt Nam đã xuất cảnh, định cư hợp pháp ở nước ngoài. Bộ Xây dựng nhận thấy, tại Công văn này, UBND tỉnh Sóc Trăng mới đề nghị hướng xử lý chung mà chưa nêu cụ thể những vướng mắc trong giải quyết nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Vì vậy, Bộ Xây dựng chỉ có thể trả lời về nguyên tắc như sau:

1. Trường hợp người Việt Nam đã xuất cảnh và định cư hợp pháp ở nước ngoài còn đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (nay gọi là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) nếu thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam (theo quy định tại Điều 1 Luật số 34/2009/QH12 ngày 18/6/2009 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai) thì được công nhận quyền sở hữu đối với nhà ở đó. Chủ sở hữu nhà ở là người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quyền bán, tặng cho, để thừa kế nhà ở cho tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định tại Điều 129 Luật Nhà ở và Điều 2 Luật số 34/2009/QH12).

Trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó.

2. Đối với những trường hợp nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài có liên quan đến các giao dịch dân sự về nhà ở trước ngày 01/7/1991 thì áp dụng quy định tại Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27/7/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để giải quyết. Trường hợp có vướng mắc trong việc áp dụng Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11, đề nghị UBND tỉnh Sóc Trăng có văn bản gửi Bộ Tư pháp để được hướng dẫn thực hiện theo thẩm quyền.

Đề nghị UBND tỉnh Sóc Trăng nghiên cứu, đối chiếu các trường hợp nhà ở cụ thể của người Việt Nam định cư ở nước ngoài với quy định pháp luật để giải quyết./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Trần Nam

CÔNG VĂN SỐ 2058/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 28 THÁNG 6 NĂM 2011 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI HƯỚNG DẪN XỬ LÝ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG KHI HAI DOANH NGHIỆP GÓP VỐN ĐỂ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP MỚI

Kính gửi:

Tổng công ty Bưu chính Việt Nam

Trả lời công văn số 1087/BCVN-TCLĐ ngày 10/6/2011 của Tổng công ty Bưu chính Việt Nam về việc thực hiện hợp đồng lao động khi góp vốn vào Ngân hàng thương mại cổ phần Liên Việt, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Về việc giải quyết chế độ đối với người lao động khi Tổng công ty Bưu chính Việt Nam góp vốn với Ngân hàng thương mại cổ phần Liên Việt bằng giá trị Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện (đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc Tổng công ty Bưu chính Việt Nam) để thành lập Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt thì việc giải quyết chế độ đối với người lao động được thực hiện theo quy định tại Điều 31 của Bộ luật Lao động và Điều 6 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ.

2. Theo trình bày tại công văn số 1087/BCVN-TCLĐ thì Ngân hàng thương mại cổ phần Liên Việt sẽ tiếp nhận nguyên trạng toàn bộ số lao động của Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện sang làm việc tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt, như vậy sau khi bàn giao, Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt có trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động mà Tổng công ty Bưu chính Việt Nam đã ký đối với người lao động hoặc người lao động và Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt có thể thỏa thuận thay đổi nội dung hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 33 của Bộ luật Lao động.

3. Trước thời điểm chuyển giao sang Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt mà người lao động làm việc tại Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện thực hiện chấm dứt hợp đồng đã ký với Tổng công ty Bưu chính Việt Nam theo đúng quy định tại Điều 36, 37, 38 của Bộ luật Lao động thì Tổng công ty Bưu chính Việt Nam có trách nhiệm giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Lao động, Nghị định số 44/2003/NĐ-CP, Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ.

4. Đối với người lao động sau khi đã bàn giao sang Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt mà bị mất việc làm hoặc thôi việc tại thì Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt thì Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt có trách nhiệm giải quyết chế độ thôi việc theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Lao động; mất việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động (thời gian tính trả trợ cấp thôi việc, mất việc làm bao gồm cả thời gian người lao động đã làm việc tại Công ty Dịch vụ Tiết kiệm bưu điện trước đây).

Continue reading