CÔNG VĂN SỐ 2289/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 13 THÁNG 7 NĂM 2011 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ XẾP LƯƠNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG THUỘC DANH MỤC CHỨC DANH NGHỀ, CÔNG VIỆC ĐẶC BIỆT NẶNG NHỌC, ĐỘC HẠI, NGUY HIỂM

Kính gửi:

Tổng công ty Khoáng sản – Vinacomin

Trả lời công văn số 996/TKS-LĐTL ngày 06 tháng 6 năm 2011 của Tổng công ty Khoáng sản – Vinacomin về việc xếp lương theo danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm làm căn cứ giải quyết chế độ đối với người lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Tại Nghị định số 26/CP ngày 23 tháng 5 năm 1993 của Chính phủ quy định tạm thời chế độ tiền lương mới trong các doanh nghiệp, công nhân vận hành thiết bị lọc bụi điện, lọc túi (trong đó có vận hành, sửa chữa thiết bị thu bụi kim loại màu trong buồng bụi tĩnh điện) xếp lương theo nhóm III, thang lương A2: Luyện kim, hóa chất, địa chất, đo đạc cơ bản.

2. Tại Quyết định số 1629/LĐTBXH-QĐ ngày 26 tháng 12 năm 1996 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về việc ban hành tạm thời danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, chức danh nghề, công việc Vận hành, sửa chữa thiết bị thu bụi kim loại màu trong buồng bụi tĩnh điện thuộc danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, điều kiện lao động loại V, nhóm ngành cơ khí – luyện kim.

3. Công ty Kim loại màu Thái Nguyên (nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Kim loại màu Thái Nguyên) xếp lương đối với Ông Trần Lưu Linh, làm công việc vận hành, sửa chữa thiết bị thu bụi kim loại màu trong buồng tĩnh điện theo nhóm II, thang lương A2 nêu trên trong giai đoạn từ tháng 4 năm 1993 đến tháng 11 năm 2003 là không đúng với quy định.

Đề nghị Tổng công ty Khoáng sản – Vinacomin, căn cứ các quy định nêu trên làm việc với Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Nguyên để giải quyết chế độ hưu trí đối với Ông Trần Lưu Linh theo đúng quy định./.

Continue reading

TRANH CHẤP ĐẤT CHƯA QUA HÒA GIẢI, TÒA XỬ SAO?

LS. NGUYỄN HỒNG HÀ  – Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa

Bằng thủ tục hòa giải bắt buộc tại UBND xã, phường trong giải quyết tranh chấp đất đai, dường như ở Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng dân sự không chỉ có Tòa án nhân dân…??? – CIVILLAWINFOR

Thay vì đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ kiện, tòa nên yêu cầu đương sự tiến hành hòa giải tại UBND cấp xã và chờ kết quả để tiếp tục giải quyết hay đình chỉ.

Những năm gần đây, trong thực tiễn xét xử của ngành tòa án đã xảy ra không ít vụ đương sự khởi kiện tranh chấp đất, tòa sơ thẩm thụ lý rồi mới phát hiện ra tranh chấp đó chưa qua thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã. Để sửa sai, mỗi tòa lại xử lý một kiểu…

Theo quy định, kể từ ngày 1-7-2004 (ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành), tòa án chỉ thụ lý, giải quyết tranh chấp đất đai nếu tranh chấp đó đã được hòa giải không thành tại UBND cấp xã. Trường hợp đương sự nộp đơn khởi kiện mà tranh chấp đó chưa qua hòa giải tại UBND cấp xã thì tòa trả lại đơn khởi kiện và hướng dẫn họ thực hiện theo quy định tại Điều 135, 136 Luật Đất đai năm 2003.

Lỡ thụ lý, mỗi tòa sửa sai một kiểu

Những năm gần đây, trong thực tiễn xét xử của ngành tòa án đã xảy ra không ít vụ đương sự khởi kiện tranh chấp đất, tòa sơ thẩm thụ lý rồi mới phát hiện ra tranh chấp đó chưa qua thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã.

Khi lỡ gặp phải trường hợp này, có tòa đã áp dụng khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự để ban hành quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ kiện và chuyển hồ sơ hoặc hướng dẫn đương sự tiến hành hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp. Nếu UBND xã, phường, thị trấn hòa giải thành thì tòa ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trường hợp UBND xã, phường, thị trấn hòa giải không thành, đương sự vẫn tranh chấp và yêu cầu tòa giải quyết thì căn cứ vào Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự, tòa án tiếp tục giải quyết vụ án.

Ngược lại, có tòa xác định việc tranh chấp đất đai chưa qua thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã thuộc trường hợp chưa có đủ điều kiện khởi kiện. Từ đó, tòa áp dụng khoản 2 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự để ban hành quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ kiện. Đến lúc này, đương sự muốn được tòa giải quyết thì phải chủ động về UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp yêu cầu tiến hành hòa giải tranh chấp. Sau khi có kết quả hòa giải không thành của UBND cấp xã, đương sự phải khởi kiện bằng một vụ án khác.

Continue reading

BÀN VỀ LẠM DỤNG KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

THANH TÙNG

1. Kháng nghị chuyện đã rõ

Bản án của tòa cấp dưới tuyên rõ rành rành nhưng vẫn bị kháng nghị giám đốc thẩm tới lui.

Mỗi năm, TAND Tối cao tiếp nhận hơn chục ngàn đơn khiếu nại giám đốc thẩm. Trong bối cảnh quá tải, xem xét không xuể vì nhân sự của tòa có hạn lại xuất hiện nhiều vụ việc được quan tâm lạ lùng, khi mà lý do kháng nghị rất lặt vặt, không thuyết phục…

Tháng 2-2009, ông LVQ, ngụ quận 7 (TP.HCM) viết biên nhận rồi đưa cho ông VVC 1,7 tỉ đồng để nhờ ông này trả tiền chuyển quyền sử dụng đất cho bà B. Đến ngày đi chứng thực hợp đồng chuyển nhượng, ông Q. té ngửa khi phát hiện ông C. chưa hề đưa tiền cho bà B. như đã hứa.

Sự thật rành rành, cứ đòi hủy án

Hoàn tất việc chuyển nhượng đất, ông Q. khởi kiện ông C. ra TAND quận 5 (TP.HCM) để đòi lại tiền. Biết mình bị kiện, ông C. bèn mang 1,7 tỉ đồng giao cho bà B. để chứng tỏ mình đã hoàn thành lời hứa với ông Q.

Tháng 5-2010, xử sơ thẩm, TAND quận 5 đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Q. với lý do ông C. chờ đến sau khi bị kiện mới thực hiện lời hứa là có lỗi hoàn toàn. Khi chuyện đã rồi, ông C. mới đưa tiền thì ông phải tự liên hệ với bà B. để lấy lại. Xử phúc thẩm, TAND TP cũng tuyên y án sơ thẩm.

Sau đó Chi cục Thi hành án dân sự quận 5 tổ chức thi hành án theo yêu cầu của ông Q. Ông C. cũng đã nộp được 600 triệu đồng. Đầu năm 2011, Chi cục Thi hành án dân sự quận 5 ủy thác cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè tiếp tục thi hành án số tiền còn lại.

Đùng một cái, ngày 1-3, Phó Chánh án TAND Tối cao Từ Văn Nhũ có văn bản yêu cầu hoãn thi hành án ba tháng để TAND Tối cao có thời gian xem xét đơn khiếu nại giám đốc thẩm của ông C. Đúng ba tháng sau, vị phó chánh án này đã ký quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, đề nghị Tòa Dân sự TAND Tối cao xử theo hướng hủy cả hai bản án sơ, phúc thẩm.

Continue reading