ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ: ĐÒI BỒI HOÀN TIỀN THUÊ LUẬT SƯ, ĐƯỢC KHÔNG?

PHAN THƯƠNG

Tòa buộc bên thua kiện phải bồi hoàn tiền thuê luật sư cũng là một cách răn đe các vi phạm tương tự, tránh việc kiện tụng tào lao?

Hiện nay ra tòa, không ít trường hợp đương sự yêu cầu phía bên kia phải bồi hoàn chi phí thuê luật sư, người đại diện. Hầu hết các tòa đều bác yêu cầu này nhưng cá biệt cũng có tòa chấp nhận với những lập luận còn tranh cãi…

Gần đây nhất, tháng 3-2011, trong một vụ kiện, TAND quận 1 (TP.HCM) đã bác yêu cầu phản tố đòi bồi thường 120 triệu đồng phí thuê luật sư, thuê người đại diện theo ủy quyền của phía bị đơn đối với nguyên đơn.

Tòa: Nơi bác, nơi chấp nhận

Trong vụ này, nguyên đơn là một giảng viên Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM đã kiện hiệu trưởng và chủ tịch công đoàn đòi bồi thường 108 triệu đồng, công khai xin lỗi… vì cho rằng họ xúc phạm danh dự của mình. Sau đó, hiệu trưởng và chủ tịch công đoàn cùng phản tố, yêu cầu nguyên đơn phải bồi hoàn 120 triệu đồng phí thuê luật sư, thuê người đại diện mà họ phải bỏ ra.

Trong phiên sơ thẩm, yêu cầu phản tố của phía bị đơn đã bị TAND quận 1 bác với lập luận: Việc các bị đơn thuê luật sư, thuê người đại diện tham gia tố tụng không phải là việc làm theo quy định bắt buộc của pháp luật đối với cá nhân họ.

Trái với phán quyết trên, ở một vụ án khác, TAND tỉnh Tiền Giang lại buộc bên thua kiện phải bồi hoàn phí thuê luật sư cho bên thắng kiện.

Cho rằng mình bị nhái thương hiệu, năm 2010, Công ty TP kiện Công ty TG ra TAND tỉnh Tiền Giang, yêu cầu chấm dứt hành vi sản xuất, xuất khẩu loại bánh gây tranh chấp, thu hồi toàn bộ lượng bánh đã xuất khẩu, bán tại Mỹ. Ngoài ra, Công ty TP còn yêu cầu Công ty TG phải thanh toán hơn 153 triệu đồng chi phí mà họ bỏ ra thuê luật sư tham gia vụ kiện. Xử sơ thẩm, TAND tỉnh Tiền Giang đã chấp thuận yêu cầu khởi kiện của Công ty TP. Về phần phí luật sư, tòa nhận định khoản phí này của Công ty TP là hợp lý, cần thiết, cần chấp nhận.

Luật quy định sao?

Thực tiễn xét xử án dân sự hiện nay, hầu hết các tòa đều bác yêu cầu đòi bồi hoàn phí thuê luật sư, bởi cho rằng đó không phải là chi phí hợp lý bắt buộc mà bên thua kiện phải trả cho người thắng kiện.Theo nhiều thẩm phán, yêu cầu bồi hoàn phí thuê luật sư là một dạng đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, phải áp dụng Bộ luật Dân sự 2005 và Nghị quyết 03/2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao để giải quyết.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1201/BXD-QLN NGÀY 20 THÁNG 07 NĂM 2011 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ XÁC ĐỊNH GIÁ THUÊ MUA NHÀ Ở XÃ HỘI TẠI CHUNG CƯ ĐÔNG HƯNG II, QUẬN 12, TPHCM

Kính gửi:

Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh

Bộ Xây dựng nhận được công văn số 3889/SXD-QLN&CS ngày 31/5/2011 của Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh đề nghị hướng dẫn xác định giá thuê mua nhà ở xã hội tại chung cư Đông Hưng II tại Quận 12. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Trường hợp việc triển khai thực hiện dự án chung cư Đông Hưng II, Quận 12 để làm quỹ nhà ở xã hội của thành phố được thực hiện trước khi Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 26/3/2010 và Bộ Xây dựng ban hành Thông tư số 16/2010/TT-BXD ngày 30/9/2010 thì giá cho thuê mua nhà ở xã hội được thực hiện theo các quy định của Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở, Thông tư số 05/2006/TT-BXD ngày 01/9/2006 của Bộ Xây dựng, cụ thể như sau:

1. Về số tiền phải nộp lần đầu:

Theo quy định tại Điều 54 của Luật Nhà ở người được thuê mua nhà ở xã hội phải thanh toán lần đầu 20% giá trị của nhà ở thuê mua. Quy định này là để việc thanh toán phù hợp với khả năng chi trả của các đối tượng thuê mua nhà ở xã hội. Do đó, người được thuê mua nhà ở xã hội phải thanh toán lần đầu theo đúng tỷ lệ quy định của Luật Nhà ở.

2. Về cách tính lãi suất bảo toàn vốn:

Bộ Xây dựng thống nhất với kiến nghị đề xuất của Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh về cách tính với lãi suất bảo toàn vốn là 6%, không tính lãi suất bảo toàn vốn đối với phần giá trị nhà phải nộp lần đầu tiên, giá thuê mua được tính lãi suất trên số dư giảm dần sau mỗi kỳ thanh toán. Đề nghị Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh có văn bản xin ý kiến hướng dẫn của Bộ Tài Chính về lãi suất bảo toàn vốn và cách tính cụ thể để thực hiện.

3. Về thời gian thuê mua:

Thực hiện theo quy định tại Điều 58 của Nghị định số 90/2006/NĐ-CP, thời gian thuê mua nhà ở xã hội theo quy định của Ủy ban nhân dân thành phố nhưng không thấp hơn 15 năm và không vượt quá 20 năm đối với các trường hợp ký hợp đồng trước thời điểm Nghị định số 71/2010/NĐ-CP có hiệu lực thi hành. Trường hợp ký hợp đồng sau thời điểm Nghị định số 71/2010/NĐ-CP có hiệu lực thi hành thì có thể áp dụng thời gian thuê mua tối thiểu là 10 năm.

4. Về cách xác định hệ số phân bổ theo tầng cao:

Bộ Xây dựng đã có hướng dẫn chung về phương pháp xác định giá thuê, thuê mua nhà ở xã hội (đầu tư từ nguồn vốn ngân sách) tại Thông tư số 05/2006/TT-BXD ngày 01/11/2006 (cũng như Thông tư số 16/2010/TT-BXD ngày 01/9/2010). Theo đó, Sở Xây dựng có thể nghiên cứu, đề xuất phương án tính toán cụ thể (trong đó có việc xác định hệ số phân bổ theo tầng cao) khi tính giá cho thuê mua nhà ở xã hội để Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế.

Continue reading

CHÍNH SÁCH ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM

PGS.TS. TRẦN THỊ MINH CHÂU – Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Đất nông nghiệp là tài sản quý giá nhất, nguồn lực quyết định để người nông dân tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Trong nhiều năm, Đảng và Nhà nước đã có những nỗ lực hỗ trợ nông dân tiếp cận quyền sử dụng đất đai. Tuy nhiên, cho đến nay, quyền sử dụng đất của nông dân và vấn đề bảo hộ nông dân giữ quyền sử dụng đất cả với tư cách tư liệu sản xuất, lẫn tư cách tài sản đang tồn đọng nhiều vấn đề.

Thực trạng chính sách đất nông nghiệp hiện nay ở nước ta

Chính sách đất nông nghiệp hiện nay ở nước ta là kết quả của quá trình xây dựng trên quan điểm đổi mới trong một thời gian dài. Khởi điểm của quá trình đổi mới đó là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988 về giao quyền tự chủ cho hộ nông dân, Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương (khóa VI) tháng 11-1988 về giao đất cho hộ nông dân.

Cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, Nhà nước đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp lý xác định chế độ, chính sách đối với đất nông nghiệp, trong đó nổi bật là Luật Đất đai ban hành năm 1993 (được liên tục sửa đổi vào các năm sau này, nhất là Luật Đất đai sửa đổi năm 2003), Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất (năm 1999), Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp (năm 2000, thay cho thuế nông nghiệp). Nội dung cơ bản của chính sách đất nông nghiệp của Nhà nước Việt Nam hiện nay thể hiện qua chế độ sở hữu đất nông nghiệp, chính sách giá đất của Nhà nước, chính sách tích tụ và tập trung đất nông nghiệp, chính sách thuế đất nông nghiệp và chính sách bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp.

a – Chế độ sở hữu đất nông nghiệp

Chế độ sở hữu đất nông nghiệp ở Việt Nam được phân chia thành hai quyền: quyền sở hữu và quyền sử dụng. Hai quyền ấy được phân cho hai chủ thể khác nhau là Nhà nước (đại diện cho chủ sở hữu toàn dân) và người sử dụng, chủ yếu là nông dân.

Chế độ sở hữu đất đai đặc biệt của Việt Nam đã đưa đến một số hệ quả:

– Ở Việt Nam đã hình thành hai thị trường đất đai: thị trường cấp I là thị trường giao dịch giữa Nhà nước và người sử dụng đất (với nhiều chế độ khác nhau, như giao đất có thu tiền, không thu tiền; giao đất có thời hạn khác nhau; cho thuê đất…); thị trường cấp II là thị trường giao dịch giữa những người sử dụng đất nông nghiệp với nhau. Thị trường cấp I được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ về đối tượng được giao đất, giá giao đất, thời hạn giao đất và mục đích sử dụng đất. Thị trường cấp II là thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo mục đích đã được Nhà nước quy định, hoạt động tự phát, Nhà nước chỉ đứng ra cung cấp các dịch vụ pháp lý cần thiết cho giao dịch và thu thuế. Trong thực tế, thị trường cấp II chưa được tổ chức quy củ và chưa có dịch vụ thích ứng nên hạn chế khả năng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp của nông dân.

Continue reading