TẠI SAO NGƯỜI TA THÍCH DANH XƯNG?

NGUYỄN VĂN TUẤN

Đối với cuộc sống, người ta không thể lấy học hàm, học vị để trả lời câu hỏi: Tôi là ai? CIVILLAWINFOR

Tôi khổ tâm nhất là chuyện danh xưng, hay phải nói đúng hơn là “vấn đề danh xưng”. Tôi thỉnh thoảng viết báo và không bao giờ sử dụng đến danh xưng, thế nhưng những người biên tập vẫn chêm vào những danh xưng trước tên tôi, làm tôi rất khổ với Ba tôi lúc sinh tiền. Ba tôi mỗi lần đọc được một bài báo với tên tôi tác giả và có kèm theo mấy chữ nhí nhố trước tên là ông nói xa nói gần rằng có người hám danh, thiếu tự tin, nên dùng đến những danh hiệu phù phiếm. Tôi biết Ba tôi nói ai, và tôi thấy mình oan lắm. Có nhiều người như tôi, không bao giờ dùng danh xưng trước tên mình, nhưng vì ban biên tập thêm vào để — nói theo họ — là tăng trọng lượng của bài báo! Tôi không hiểu tại sao ý kiến của một giáo sư hay tiến sĩ phải có trọng lượng hơn ý kiến của một người bán vé số? Thật là vô lí! Người khôn nói 100 điều cũng có ít nhất một điều dại dột, còn người dại dột nói 100 điều chắc cũng có ít nhất là 1 điều khôn. Ý kiến phải bình đẳng.

Nhưng trong thực tế thì ở Việt Nam, danh xưng đóng vai trò quan trọng, hay rất quan trọng. Có một lần, khi về làm việc ở một tỉnh thuộc vùng miền Tây, sau bài nói chuyện tôi được một vị cao tuổi ân cần trao cho một danh thiếp với dòng chữ tiếng Anh: “Senior Doctor Tran V. …”. Đây là lần đầu tiên tôi thấy một danh xưng như thế trong đời. Tìm hiểu một hồi tôi mới biết ông là một cựu quan chức cao cấp trong ngành y tế của thành phố (đã nghỉ hưu), nhưng vẫn còn giữ chức vụ gì đó trong một hiệp hội chuyên môn. Tôi nghĩ danh xưng “Senior Doctor” (có lẽ nên dịch là “Bác sĩ cao cấp” hay nôm na hơn là “Bác sĩ đàn anh”). Nhưng tại sao lại cần một danh xưng phân biệt “giai cấp” như thế? Tôi đoán có lẽ vị đồng nghiệp này muốn phân biệt mình với “đám” bác sĩ đàn em chăng?

Một lần khác, khi xem qua chương trình hội nghị tôi thấy ban tổ chức viết tên diễn giả bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Những người có danh xưng tiếng Việt ví dụ như “TS BS Trần Thị …” được dịch sang tiếng Anh là “Dr. Dr. Tran Thi …”. Tôi không khỏi cười thầm trong bụng vì chưa thấy nơi nào trên thế giới có cách viết lạ lùng như thế. Tôi sợ nhất là trong hội nghị có đồng nghiệp ngoại quốc mà họ đọc được cái danh xưng “Dr Dr” này chắc tôi tìm lỗ mà chui xuống không kịp quá! Tôi đề nghị cách viết “đơn giản” hơn là chỉ “Dr” thôi là đủ, nhưng cũng phải vài phút thảo luận người ta mới chịu đề nghị này!

Tôi vẫn còn giữ một danh thiếp khác với dòng chữ: “Dr Specialist II Nguyễn M”. Một anh bạn người Úc tôi có lần tình cờ thấy danh thiếp trên bàn nên thắc mắc hỏi tôi “Specialist II” là gì vậy. Lúc đó tôi cũng chẳng biết, nên đành nói: “I have no idea”, nhưng tôi nói thêm rằng tôi đoán đó là bác sĩ chuyên khoa gì cấp 2 gì đó. Anh bạn đồng nghiệp cười nói mỉa mai (rất dễ ghét) rằng: ước gì tao cũng được cấp II nhỉ?

Không nghi ngờ gì nữa: người Việt rất sính dang xưng. Những gì Dạ Lan viết đều đúng, nhưng … chưa đủ. Còn nhiều chuyện cười ra nước mắt về những nhầm lẫn về danh xưng (honorific), tước hiệu, và nghề nghiệp ở Việt Nam mà tôi từng chứng kiến trong các hội nghị. Nghe những lời giới thiệu dài lòng thòng như “Giáo sư, tiến sĩ, nhà giáo nhân dân, anh hùng lao động, bác sĩ Nguyễn Văn …” nó khôi hài làm sao!

Tôi vẫn tự hỏi tại sao người ta thích danh xưng trước tên mình? Kinh nghiệm của tôi, khi tiếp xúc với những người hay sử dụng danh xưng cho thấy họ thường dùng danh xưng với những động cơ sau đây:

Continue reading

CÁC QUY ĐỊNH VỀ GIÁM HỘ TRONG QUAN HỆ DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Tác giả viết bài này vào thời điểm năm 2004

THÁI CÔNG KHANH

Trong pháp luật thực định Việt Nam có những qui định về vấn đề giám hộ trong các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài, nhất là trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, cụ thể là: Theo khoản 1, 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài giải quyết việc giám hộ có yếu tố nước ngoài; Theo khoản 3 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình, Toà án nhân dân cấp tỉnh giải quyết tranh chấp việc giám hộ có yếu tố nước ngoài; theo khoản 1 Điều 106 Luật Hôn nhân và gia đình, việc giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được thực hiện tại Việt Nam, tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài phải tuân theo pháp luật Việt Nam; theo Điều 5 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch, việc đăng ký và quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài được thực hiện theo qui định của Nghị định này. Theo Điều 75 Nghị định này, việc đăng ký nhận giám hộ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài được thực hiện theo pháp luật Việt Nam.

Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy những qui định trên đây bộc lộ một số nhược điểm về nguyên tắc, về nội dung, về sử dụng từ ngữ, về kỹ thuật xây dựng văn bản… Mặt khác, trong thực tế, từ trước tới nay Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cũng như cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài (dưới đây gọi tắt là Đại sứ quán) chưa hề giải quyết một việc giám hộ, mà người giám hộ hoặc người được giám hộ là công dân Việt Nam. Tuy nhiên, việc nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các qui định về giám hộ trong các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài là rất cần thiết, đặc biệt trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay.

1. Các điều kiện của người giám hộ và người được giám hộ:

a. Căn cứ vào những qui định của Bộ luật Dân sự.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự, người giám hộ và người được giám hộ phải cùng cư trú trong một phường, xã, thị trấn với mục đích là để có điều kiện thực hiện nghĩa vụ giám hộ, và để chính quyền phường, xã, thị trấn giám sát việc thực hiện giám hộ theo pháp luật đã qui định. Như vậy, rõ ràng là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài không thể làm người giám hộ cho công dân Việt Nam đang sinh sống tại Việt Nam.

Continue reading

CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN: SAO LẠI “PHÙ THỦNG” TÙY NGHI?

LƯ QUANG VINH

Sau hai năm áp dụng, Luật thuế thu nhập cá nhân vẫn chưa thực sự đi vào thực tiễn cuộc sống. Chính phủ và các bộ, ngành chưa tìm ra giải pháp hoàn thiện trong việc áp dụng luật thuế này. Từ tiêu chí “thu”, rồi “giãn”, “giảm”, “hoãn” đến nay lại quay về điểm xuất phát là “miễn” thuế thu nhập cá nhân (TNCN) với đối tượng bậc 1 cho đến hết 31/12/2011.

Loay hoay với bài toán thuế TNCN, Bộ Tài chính dự thảo kiến nghị Quốc hội điều chỉnh về thuế TNCN, trong đó có ba nội dung:

– Thứ nhất, miễn 5% thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ cổ tức của nhà đầu tư chứng khoán (trừ cổ tức ngân hàng, tổ chức tín dụng);

– Thứ hai, miễn thuế đối với thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng chứng khoán của cá nhân (20% trên thu nhập hoặc 0,1% trên giá trị chuyển nhượng) do thị trường chứng khoán đang rất khó khăn, nhà đầu tư không có thu nhập;

– Thứ ba, miễn thuế đối với những người ở bậc 1 tương đương 9 triệu đồng, độc thân. Đây là nhóm người khó khăn nhất trong những người phải nộp thuế, và số thuế được giãn trong 1 tháng tối đa 250.000 đồng/người.

Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng đề xuất không tính thuế giá trị gia tăng (VAT) đối với suất ăn giữa ca trong trường hợp doanh nghiệp tự nấu cho người lao động, kể cả trường hợp doanh nghiệp khác nấu suất ăn giữa ca bán cho công nhân tại địa điểm nhà máy, trụ sở doanh nghiệp. Doanh nghiệp được khấu trừ VAT đầu vào trong trường hợp tự nấu hoặc mua suất ăn của doanh nghiệp cung ứng. Đây là đề xuất chặt chẽ, chi tiết đến lòng vòng khó hiểu.

Cái vòng lẫn quẩn nêu trên cho thấy các nhà hoạch định chính sách còn khá lúng túng trong việc giải quyết quốc kế dân sinh. Một chính sách có định hướng bao giờ cũng mang tính ổn định và ngược lại chứ không thể “phù thủng” tùy nghi. Điều này đặt trọng trách rất nặng lên các nhà hoạch định chính sách cũng như các cơ quan giám sát dân cử. Điểm lại quá trình xây dựng và áp dụng từ năm 2007 đến nay cho thấy, sự ra đời của luật thuế TNCN trong thời gian qua là chưa thật sự chín muồi bởi hai lý do:

Continue reading

SÁU VẤN ĐỀ CẢNH BÁO SAI PHẠM VỀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA

HOÀNG QUỐC HÙNG – Phó Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp

Công tác bán đấu giá tài sản (BĐGTS) theo Nghị định 17/2010/NĐ-CP  ngày 04/3/2010  được đánh giá là một hoạt động đang được xã hội hoá mạnh mẽ, từng bước đi vào cuộc sống với nhiều hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên, các địa phương vẫn gặp khó khăn trong việc triển khai do nhiều lý do khách quan và chủ quan khác nhau. Trong công tác thanh tra chuyên ngành về bán đấu giá tài sản, Thanh tra Bộ đã phát hiện ra một số vấn đề sai phạm do cố ý và vô ý đã, đang và sẽ gây ra hậu quả pháp lý khó lường. Để phòng ngừa các sai phạm có thể xảy ra, tác giả xin nêu một số vấn đề đã xảy ra trong thực tế và các giải pháp phòng ngừa, khắc phục các sai phạm đó.

Vấn đề thứ nhất: Hiện tượng thông đồng dìm giá, “quân xanh, quân đỏ” trong bán đấu giá tài sản.

Để ngăn chặn và chủ động phòng ngừa hành vi thông đồng, dìm giá của người tham gia đấu giá  tài sản thì cần phải nắm rõ thủ đoạn thông đồng, dìm giá:

Thủ đoạn thứ nhất: Có sự tham gia của người bán đấu giá tài sản. Trong trường hợp này thì người bán đấu giá tài sản sẽ chủ động bàn bạc với một số người thông đồng, dìm giá và đặt ra các quy định, nội quy bán đấu giá tài sản. Nội dung của nội quy bán đấu giá tài sản thông thường sẽ quy định tổ chức bán đấu giá tài sản làm 2 hoặc 3 vòng, giá khởi điểm của vòng 2 phải bằng giá đã trả cao nhất của vòng 1 cộng với một bước giá, giá khởi điểm của vòng 3 phải bằng giá đã trả cao nhất của vòng 2 cộng với một bước giá. Lúc này sẽ có ít nhất 2 người thông đồng với nhau, một người sẽ trả giá khởi điểm, sau đó, người kia sẽ trả mức giá rất cao để không có người nào trả giá tiếp theo. Vòng 1 kết thúc với kết quả người trả giá cao nhất và người trả giá liền kề có giá chênh lệch rất lớn. Khi vào vòng 2 đấu gía, người trả giá cao nhất của vòng 1 sẽ trả giá phạm quy (tức là giá thấp hơn giá khởi điểm của vòng 2 theo nội quy đấu giá). Như vậy người trả giá cao nhất vòng 1 sẽ bị phạm quy. Do có thông đồng của người tổ chức bán đấu giá nên tổ chức bán đấu giá đã “linh hoạt vận dụng” trả lại tiền cọc cho người phạm quy và cho người trả giá còn lại của vòng 1 được trúng đấu giá. Cuối cùng người trả giá cao nhất (là quân xanh) lại không được trúng và người trả giá thấp nhất lại được trúng đấu giá (chủ yếu là loại tài sản tịch thu để xử lý vi phạm hành chính).

Continue reading

NHỮNG BẤT CẬP CỦA CÁC QUY ĐỊNH CHUYỂN ĐỔI CÔNG TY CỔ PHẦN THÀNH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN

THS. HOÀNG ANH TUẤN – Văn phòng Luật sư Biển Bắc

Chuyển đổi hình thức công ty là một trong những phương thức để tổ chức lại công ty bảo đảm cho sự phát triển của công ty đáp ứng được các mục tiêu của nhà đầu tư, yêu cầu của thị trường, cũng như yêu cầu của pháp luật. Theo pháp luật doanh nghiệp hiện hành, công ty cổ phần có thể chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên. Vấn đề này đã được đề cập đến một cách khá cụ thể bởi Nghị định số 139/2007/NĐ-CP và Nghị định số 102/2010/NĐ-CP hiện hành. Tuy nhiên, nội dung hướng dẫn của các Nghị định này không những không tạo thuận lợi cho việc chuyển đổi hình thức công ty từ công ty cổ phần sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, mà còn làm cho việc chuyển đổi như vậy khó khăn hơn rất nhiều. Bài viết này sẽ phân tích các khiếm khuyết như vậy.

1. Khiếm khuyết của quy định pháp luật Việt Nam về chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty TNHH một thành viên

Điều 154 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Công ty trách nhiệm hữu hạn có thể được chuyển đổi thành công ty cổ phần hoặc ngược lại. Thủ tục chuyển đổi được quy định như sau: Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc Đại hội đồng cổ đông thông qua quyết định chuyển đổi và Điều lệ công ty chuyển đổi. Quyết định chuyển đổi phải có các nội dung chủ yếu về tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty được chuyển đổi; tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty chuyển đổi; thời hạn và điều kiện chuyển tài sản, phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty được chuyển đổi thành tài sản, cổ phần, trái phiếu, phần vốn góp của công ty chuyển đổi; phương án sử dụng lao động; thời hạn thực hiện chuyển đổi”.

Xét một cách đơn thuần, các quy định này đã thể hiện sự thông thoáng đảm bảo quyền tự do chuyển đổi hình thức công ty. Chỉ cần một quyết định của đại hội đồng cổ đông là có thể chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty TNHH một thành viên. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có các khiếm khuyết như sau:

Thứ nhất, pháp luật không đề cập nhiều đến điều kiện chuyển đổi, dẫn đến không ít các khó khăn khi thực hiện. Có thể nhìn thấy chúng qua ví dụ sau. Khi thành lập công ty cổ phần, các cổ đông thống nhất đăng ký vốn điều lệ là 100 tỷ. Bốn cổ đông sáng lập của công ty cam kết góp 20% bằng 20 tỷ và đã góp đủ. Khi thực hiện việc chuyển đổi thành công ty TNHH nhiều thành viên, giá trị công ty được xác định là 15 tỷ. Trong quyết định chuyển đổi xác định tổng số vốn góp của 4 thành viên là 15 tỷ, theo đó điều lệ công ty chuyển đổi cũng thể hiện vốn điều lệ là 15 tỷ. Và, vấn đề khúc mắc xảy ra khi nộp hồ sơ chuyển đổi, cơ quan đăng ký kinh doanh yêu cầu giải trình việc giảm vốn điều lệ từ 100 tỷ xuống 15 tỷ (trước khi Nghị định số 43/2010/NĐ-CP có hiệu lực vốn điều lệ của công ty cổ phần bao gồm cả cổ phần chào bán). Các nghi vấn đặt ra là công ty đã tìm cách làm giảm trách nhiệm, dẫn đến việc chuyển đổi khó có thể được thực hiện.

Continue reading