NGHỊ ĐỊNH SỐ 64/2011/NĐ-CP NGÀY 28 THÁNG 7 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH VIỆC THI HÀNH BIỆN PHÁP BẮT BUỘC CHỮA BỆNH

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Bộ luật Hình sự năm 1999, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2009;

Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003;

Căn cứ Luật Thi hành án hình sự năm 2010;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh theo quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Thi hành án hình sự.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, trách nhiệm trong thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh, cá nhân bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh (gọi chung là người bị bắt buộc chữa bệnh) và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong việc thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh theo quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự.

Điều 3. Nguyên tắc thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh

1. Tuân thủ quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan; bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

2. Kết hợp giữa quản lý với điều trị, chăm sóc, phục hồi sức khỏe cho người bị bắt buộc chữa bệnh.

3. Bảo đảm tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người bị bắt buộc chữa bệnh và ngăn ngừa họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.

Điều 4. Kinh phí bảo đảm cho việc thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh

1. Kinh phí bảo đảm cho thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh do ngân sách nhà nước cấp, bao gồm: kinh phí đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị, phương tiện phục vụ cho việc điều trị y tế và quản lý người bị bắt buộc chữa bệnh; lập hồ sơ, trưng cầu giám định, tổ chức đưa người vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh tâm thần, truy tìm người bị bắt buộc chữa bệnh bỏ trốn; chế độ ăn, mặc, ở, chăm sóc, điều trị y tế cho người bị bắt buộc chữa bệnh, giải quyết trường hợp người bị bắt buộc chữa bệnh chết.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 61/2011/NĐ-CP NGÀY 26 THÁNG 7 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 135/2004/NĐ-CP NGÀY 10 THÁNG 6 NĂM 2004 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH VỀ CHẾ ĐỘ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP ĐƯA VÀO CƠ SỞ CHỮA BỆNH, TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ SỞ CHỮA BỆNH THEO PHÁP LỆNH XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ CHẾ ĐỘ ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN, NGƯỜI TỰ NGUYỆN VÀO CƠ SỞ CHỮA BỆNH

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Phòng, chống ma túy ngày 09 tháng 12 năm 2000; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống ma túy ngày 03 tháng 6 năm 2008;

Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 4 năm 2008;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 135/2004/NĐ-CP ngày 10 tháng 6 năm 2004 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động của cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng đối với người chưa thành niên, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh như sau:

1. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 1 như sau:

“2. Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Luật Phòng, chống ma túy và cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính được gọi chung trong Nghị định này là Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội.

Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội là đơn vị sự nghiệp công lập; tổ chức và hoạt động theo các quy định của pháp luật hiện hành về đơn vị sự nghiệp công lập.”

2. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 2 như sau:

“1. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên thuộc các trường hợp sau đây mà có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thì bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh từ 01 năm đến 02 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về việc sử dụng trái phép chất ma túy;

b) Đã được giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định;

c) Đã được cai nghiện ma túy tại gia đình hoặc cai nghiện ma túy tại cộng đồng.”

3. Sửa đổi, bổ sung Điều 3 như sau:

Continue reading

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ: ĐÒI BỒI HOÀN TIỀN THUÊ LUẬT SƯ, ĐƯỢC KHÔNG?

PHAN THƯƠNG

Tòa buộc bên thua kiện phải bồi hoàn tiền thuê luật sư cũng là một cách răn đe các vi phạm tương tự, tránh việc kiện tụng tào lao?

Hiện nay ra tòa, không ít trường hợp đương sự yêu cầu phía bên kia phải bồi hoàn chi phí thuê luật sư, người đại diện. Hầu hết các tòa đều bác yêu cầu này nhưng cá biệt cũng có tòa chấp nhận với những lập luận còn tranh cãi…

Gần đây nhất, tháng 3-2011, trong một vụ kiện, TAND quận 1 (TP.HCM) đã bác yêu cầu phản tố đòi bồi thường 120 triệu đồng phí thuê luật sư, thuê người đại diện theo ủy quyền của phía bị đơn đối với nguyên đơn.

Tòa: Nơi bác, nơi chấp nhận

Trong vụ này, nguyên đơn là một giảng viên Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM đã kiện hiệu trưởng và chủ tịch công đoàn đòi bồi thường 108 triệu đồng, công khai xin lỗi… vì cho rằng họ xúc phạm danh dự của mình. Sau đó, hiệu trưởng và chủ tịch công đoàn cùng phản tố, yêu cầu nguyên đơn phải bồi hoàn 120 triệu đồng phí thuê luật sư, thuê người đại diện mà họ phải bỏ ra.

Trong phiên sơ thẩm, yêu cầu phản tố của phía bị đơn đã bị TAND quận 1 bác với lập luận: Việc các bị đơn thuê luật sư, thuê người đại diện tham gia tố tụng không phải là việc làm theo quy định bắt buộc của pháp luật đối với cá nhân họ.

Trái với phán quyết trên, ở một vụ án khác, TAND tỉnh Tiền Giang lại buộc bên thua kiện phải bồi hoàn phí thuê luật sư cho bên thắng kiện.

Cho rằng mình bị nhái thương hiệu, năm 2010, Công ty TP kiện Công ty TG ra TAND tỉnh Tiền Giang, yêu cầu chấm dứt hành vi sản xuất, xuất khẩu loại bánh gây tranh chấp, thu hồi toàn bộ lượng bánh đã xuất khẩu, bán tại Mỹ. Ngoài ra, Công ty TP còn yêu cầu Công ty TG phải thanh toán hơn 153 triệu đồng chi phí mà họ bỏ ra thuê luật sư tham gia vụ kiện. Xử sơ thẩm, TAND tỉnh Tiền Giang đã chấp thuận yêu cầu khởi kiện của Công ty TP. Về phần phí luật sư, tòa nhận định khoản phí này của Công ty TP là hợp lý, cần thiết, cần chấp nhận.

Luật quy định sao?

Thực tiễn xét xử án dân sự hiện nay, hầu hết các tòa đều bác yêu cầu đòi bồi hoàn phí thuê luật sư, bởi cho rằng đó không phải là chi phí hợp lý bắt buộc mà bên thua kiện phải trả cho người thắng kiện.Theo nhiều thẩm phán, yêu cầu bồi hoàn phí thuê luật sư là một dạng đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, phải áp dụng Bộ luật Dân sự 2005 và Nghị quyết 03/2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao để giải quyết.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1201/BXD-QLN NGÀY 20 THÁNG 07 NĂM 2011 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ XÁC ĐỊNH GIÁ THUÊ MUA NHÀ Ở XÃ HỘI TẠI CHUNG CƯ ĐÔNG HƯNG II, QUẬN 12, TPHCM

Kính gửi:

Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh

Bộ Xây dựng nhận được công văn số 3889/SXD-QLN&CS ngày 31/5/2011 của Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh đề nghị hướng dẫn xác định giá thuê mua nhà ở xã hội tại chung cư Đông Hưng II tại Quận 12. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Trường hợp việc triển khai thực hiện dự án chung cư Đông Hưng II, Quận 12 để làm quỹ nhà ở xã hội của thành phố được thực hiện trước khi Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 26/3/2010 và Bộ Xây dựng ban hành Thông tư số 16/2010/TT-BXD ngày 30/9/2010 thì giá cho thuê mua nhà ở xã hội được thực hiện theo các quy định của Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở, Thông tư số 05/2006/TT-BXD ngày 01/9/2006 của Bộ Xây dựng, cụ thể như sau:

1. Về số tiền phải nộp lần đầu:

Theo quy định tại Điều 54 của Luật Nhà ở người được thuê mua nhà ở xã hội phải thanh toán lần đầu 20% giá trị của nhà ở thuê mua. Quy định này là để việc thanh toán phù hợp với khả năng chi trả của các đối tượng thuê mua nhà ở xã hội. Do đó, người được thuê mua nhà ở xã hội phải thanh toán lần đầu theo đúng tỷ lệ quy định của Luật Nhà ở.

2. Về cách tính lãi suất bảo toàn vốn:

Bộ Xây dựng thống nhất với kiến nghị đề xuất của Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh về cách tính với lãi suất bảo toàn vốn là 6%, không tính lãi suất bảo toàn vốn đối với phần giá trị nhà phải nộp lần đầu tiên, giá thuê mua được tính lãi suất trên số dư giảm dần sau mỗi kỳ thanh toán. Đề nghị Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh có văn bản xin ý kiến hướng dẫn của Bộ Tài Chính về lãi suất bảo toàn vốn và cách tính cụ thể để thực hiện.

3. Về thời gian thuê mua:

Thực hiện theo quy định tại Điều 58 của Nghị định số 90/2006/NĐ-CP, thời gian thuê mua nhà ở xã hội theo quy định của Ủy ban nhân dân thành phố nhưng không thấp hơn 15 năm và không vượt quá 20 năm đối với các trường hợp ký hợp đồng trước thời điểm Nghị định số 71/2010/NĐ-CP có hiệu lực thi hành. Trường hợp ký hợp đồng sau thời điểm Nghị định số 71/2010/NĐ-CP có hiệu lực thi hành thì có thể áp dụng thời gian thuê mua tối thiểu là 10 năm.

4. Về cách xác định hệ số phân bổ theo tầng cao:

Bộ Xây dựng đã có hướng dẫn chung về phương pháp xác định giá thuê, thuê mua nhà ở xã hội (đầu tư từ nguồn vốn ngân sách) tại Thông tư số 05/2006/TT-BXD ngày 01/11/2006 (cũng như Thông tư số 16/2010/TT-BXD ngày 01/9/2010). Theo đó, Sở Xây dựng có thể nghiên cứu, đề xuất phương án tính toán cụ thể (trong đó có việc xác định hệ số phân bổ theo tầng cao) khi tính giá cho thuê mua nhà ở xã hội để Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế.

Continue reading

CHÍNH SÁCH ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM

PGS.TS. TRẦN THỊ MINH CHÂU – Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Đất nông nghiệp là tài sản quý giá nhất, nguồn lực quyết định để người nông dân tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Trong nhiều năm, Đảng và Nhà nước đã có những nỗ lực hỗ trợ nông dân tiếp cận quyền sử dụng đất đai. Tuy nhiên, cho đến nay, quyền sử dụng đất của nông dân và vấn đề bảo hộ nông dân giữ quyền sử dụng đất cả với tư cách tư liệu sản xuất, lẫn tư cách tài sản đang tồn đọng nhiều vấn đề.

Thực trạng chính sách đất nông nghiệp hiện nay ở nước ta

Chính sách đất nông nghiệp hiện nay ở nước ta là kết quả của quá trình xây dựng trên quan điểm đổi mới trong một thời gian dài. Khởi điểm của quá trình đổi mới đó là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988 về giao quyền tự chủ cho hộ nông dân, Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương (khóa VI) tháng 11-1988 về giao đất cho hộ nông dân.

Cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, Nhà nước đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp lý xác định chế độ, chính sách đối với đất nông nghiệp, trong đó nổi bật là Luật Đất đai ban hành năm 1993 (được liên tục sửa đổi vào các năm sau này, nhất là Luật Đất đai sửa đổi năm 2003), Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất (năm 1999), Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp (năm 2000, thay cho thuế nông nghiệp). Nội dung cơ bản của chính sách đất nông nghiệp của Nhà nước Việt Nam hiện nay thể hiện qua chế độ sở hữu đất nông nghiệp, chính sách giá đất của Nhà nước, chính sách tích tụ và tập trung đất nông nghiệp, chính sách thuế đất nông nghiệp và chính sách bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp.

a – Chế độ sở hữu đất nông nghiệp

Chế độ sở hữu đất nông nghiệp ở Việt Nam được phân chia thành hai quyền: quyền sở hữu và quyền sử dụng. Hai quyền ấy được phân cho hai chủ thể khác nhau là Nhà nước (đại diện cho chủ sở hữu toàn dân) và người sử dụng, chủ yếu là nông dân.

Chế độ sở hữu đất đai đặc biệt của Việt Nam đã đưa đến một số hệ quả:

– Ở Việt Nam đã hình thành hai thị trường đất đai: thị trường cấp I là thị trường giao dịch giữa Nhà nước và người sử dụng đất (với nhiều chế độ khác nhau, như giao đất có thu tiền, không thu tiền; giao đất có thời hạn khác nhau; cho thuê đất…); thị trường cấp II là thị trường giao dịch giữa những người sử dụng đất nông nghiệp với nhau. Thị trường cấp I được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ về đối tượng được giao đất, giá giao đất, thời hạn giao đất và mục đích sử dụng đất. Thị trường cấp II là thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo mục đích đã được Nhà nước quy định, hoạt động tự phát, Nhà nước chỉ đứng ra cung cấp các dịch vụ pháp lý cần thiết cho giao dịch và thu thuế. Trong thực tế, thị trường cấp II chưa được tổ chức quy củ và chưa có dịch vụ thích ứng nên hạn chế khả năng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp của nông dân.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 69/BXD-QLN NGÀY 22 THÁNG 07 NĂM 2011 CỦA BỘ XÂY DỰNG HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 71/2010/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ

Kính gửi:

Sở Xây dựng tỉnh Quảng Ninh

Bộ Xây dựng nhận được công văn số 941/SXD-VLQLN ngày 17/6/2011 của Sở Xây dựng tỉnh Quảng Ninh đề nghị hướng dẫn việc xây dựng cơ chế, chính sách về nhà ở chung cư có mục đích sử dụng hỗn hợp. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Pháp luật hiện hành về nhà ở quy định nhiều hình thức phát triển nhà ở, trong đó có phát triển nhà ở thương mại, phát triển nhà ở xã hội, phát triển nhà ở công vụ. Việc phát triển nhà ở theo từng hình thức đã được quy định cụ thể (về đối tượng, điều kiện, trình tự, thủ tục, ưu đãi đầu tư, tiêu chuẩn thiết kế, quản lý sử dụng…) tại: Luật Nhà ở; Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở; Quyết định số 09/2008/QĐ-TTg ngày 11/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định nguyên tắc thiết kế và tiêu chuẩn sử dụng nhà ở công vụ; Thông tư số 16/2010/TT-BXD ngày 01/9/2010 của Bộ Xây dựng.

Theo đó, với mỗi hình thức phát triển nhà ở và nguồn vốn khác nhau thì được thực hiện theo các cơ chế, chính sách riêng, khác nhau. Do vậy, trường hợp kết hợp nhiều loại hình nhà ở (thương mại, công vụ, xã hội với nguồn vốn đầu tư khác nhau) trong cùng một dự án thì cần bố trí, phân định riêng rẽ các phần diện tích xây dựng của dự án sử dụng cho từng loại nhà ở này. Từ đó có thể áp dụng các cơ chế, chính sách cho từng loại theo quy định; tính toán tài chính và các nghĩa vụ, quyền lợi không thể tách rời được thực hiện trên nguyên tắc phân bổ theo tỷ lệ diện tích sàn xây dựng của từng loại nhà ở trên tổng diện tích sàn xây dựng của dự án; xây dựng mô hình, tổ chức quản lý sử dụng, bảo hành, bảo trì…(riêng cho từng loại nhà hoặc chung cho toàn dự án) đảm bảo quyền lợi cũng như trách nhiệm của người sử dụng theo đúng quy định.

Đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Quảng Ninh căn cứ, đề xuất để Ủy ban nhân tỉnh ban hành các quy định về phát triển nhà ở trên địa bàn tỉnh theo thẩm quyền./.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ: KIỆN BỒI THƯỜNG BỨC TRANH

HOÀNG YẾN

Chủ nhân bức tranh sơn dầu đòi bồi thường 200 triệu đồng, còn bên kia bảo việc kiện tụng trên là phi lý.

Ngày 3-6, ông L., ngụ huyện Bình Chánh (TP.HCM) đã nộp đơn khởi kiện, đòi ông K. bồi thường 200 triệu đồng do đã làm bẩn bức tranh sơn dầu của mình …

Bức tranh bị bẩn

Theo hồ sơ, ông L. có bức tranh “Dáng Huế” vẽ một thiếu nữ Huế mặc áo dài trắng cầm cành hoa sen, được giới trong nghề nhận định rất giá trị.

Ngày 9-4, qua giới thiệu, ông K. tìm đến thỏa thuận mua với giá khoảng 128 triệu đồng. Tuy nhiên, trước khi trả tiền, ông muốn mượn bức tranh trong một tuần để đem đi nhờ người thẩm định. Ông L. đồng ý và buộc ông K. phải trả 5 triệu đồng cho việc mượn tranh.

Sau một tuần, ông K. đem trả lại do không thích tranh này và chỉ trả 5 triệu đồng tiền mượn tranh. Mở bức tranh ra xem lại, ông L. phát hiện một góc tranh bị vấy bẩn và tranh có một số hạt màu lốm đốm. Ông nhất quyết không nhận lại tranh và yêu cầu ông K. phải mua lại bức tranh trên như giá thỏa thuận ban đầu…

Phải trả lại nguyên bản…

Hai bên tranh cãi mãi mà vẫn không thống nhất nên ông L. phải gửi đơn đến tòa một quận ở TP.HCM phân xử. Ông L. yêu cầu tòa buộc ông K. đền lại bức tranh y nguyên bản ban đầu, nếu không đền được ông K. phải bồi thường thiệt hại khoảng 200 triệu đồng. Bởi ngoài giá trị 128 triệu đồng mà đôi bên đã đồng ý mua bán, ông còn bị tổn thất về tinh thần do bức tranh là tài sản quý mà cha ông đã để lại cho gia đình…

Ngược lại, phía ông K. cho rằng yêu cầu đòi bồi thường của ông L. là hết sức phi lý. Bức tranh ông hoàn trả là nguyên vẹn. Ông L. bảo ông làm nó vấy bẩn là không chính xác. Vết vấy bẩn trên tranh có từ khi nào ông không rõ và không phải do ông gây ra. Ông yêu cầu tòa đưa bức tranh đi thẩm định giá phần thiệt hại đồng thời nếu có cơ sở chứng minh ông làm hư bức tranh thì ông mới bồi thường. Cuối cùng ông khẳng định thêm, giá trị bức tranh không thể nào lên tới 128 triệu đồng.

Continue reading

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ TRONG HỢP ĐỒNG

TRẦN VIỆT ANH – Công ty Luật TNHH Baker&McKenzie

Để thực hiện mục tiêu “Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng theo hướng tôn trọng thoả thuận của các bên giao kết hợp đồng, không trái với đạo đức xã hội, không xâm phạm trật tự công cộng, phù hợp với tập quán, thông lệ thương mại quốc tế”1, các nội dung sửa đổi, bổ sung pháp luật về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005) đã nhận được sự quan tâm nhiệt tình của các cơ quan, tổ chức và giới luật học. Bài viết nêu lên những bất cập và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện chế định trách nhiệm dân sự (TNDS) trong hợp đồng hay TNDS do vi phạm hợp đồng.

1. Bất cập trong thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về trách nhiệm dân sự trong hợp đồng

Trong thực tiễn áp dụng pháp luật hợp đồng và công tác xét xử của Tòa án hiện nay, xuất hiện một số tồn tại, vướng mắc liên quan đến áp dụng các quy định về TNDS do vi phạm hợp đồng như sau:

– Với vai trò là BLDS thống nhất, BLDS 2005 đã đặt những nền tảng cơ bản nhằm điều chỉnh các quan hệ dân sự theo các quy tắc chung, mà quan hệ hợp đồng là một trong số đó. Mặc dù vậy, vẫn tồn tại những quy định mâu thuẫn nhau của Luật Thương mại 2005 và BLDS 2005 liên quan đến vấn đề hợp đồng.

Ví dụ, về trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH), theo BLDS 2005, có bốn căn cứ để xác định trách nhiệm BTTH: có hành vi vi phạm, có lỗi của bên vi phạm, có thiệt hại thực tế xảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại. Còn trong Luật Thương mại 2005 lại không quy định yếu tố lỗi là một căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH.

Về căn cứ miễn trách nhiệm vi phạm nghĩa vụ hợp đồng cũng tồn tại một vài điểm chưa thống nhất. Nếu BLDS chỉ đặt ra hai căn cứ miễn trách nhiệm là sự kiện bất khả kháng và lỗi của bên bị vi phạm (còn lại là trường hợp miễn trách nhiệm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng) thì Luật Thương mại 2005 lại quy định bốn trường hợp là căn cứ miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm tại Điều 294 bao gồm: các trường hợp miễn trách nhiệm do các bên thỏa thuận, sự kiện bất khả kháng, hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia và hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.

Continue reading

SỬA HIẾN PHÁP– GÓC NHÌN CỦA MỘT LUẬT SƯ?

LS. NGUYỄN TIẾN LẬP

Duy trì khái niệm “sở hữu toàn dân” trong kinh tế là tiếp tục cho phép tồn tại trạng thái “vô chủ” và tiếp tục hỗ trợ khả năng lạm quyền và lạm dụng để tư lợi đối với tài sản của quốc gia và nhân dân.

1. Sửa Hiến pháp – nên chăng vẫn đi con đường cũ?

Hiến pháp không thể đơn giản là một đạo luật, bởi luật là do cơ quan lập pháp làm ra, tức sản phẩm của bộ máy nhà nước, theo đó, nhà nước (thông qua nghị viện hay quốc hội) có thể thay đổi nó. Hiến pháp không như vậy, nó là khế ước tinh thần và pháp lý của toàn xã hội.

Đang có một sự bàn luận sôi nổi trong giới học thuật về sửa Hiến pháp. Với tư cách là một người làm nghề luật, tôi cũng rất quan tâm, tuy nhiên tự hỏi: sửa Hiến pháp, đó là sự kiện “trọng đại” hay “bình thường”?

Ngẫm nghĩ, câu hỏi đó không dễ trả lời. Ở nhiều quốc gia, việc sửa đổi hiến pháp có ý nghĩa rất trọng đại, có khi phải trả giá bằng cả một cuộc cách mạng. Bởi vậy, người ta rất ít khi sửa đổi hiến pháp, và chỉ tiến hành khi đại đa số người dân thấy bức thiết phải làm điều đó.

Ở nước ta, Hiến pháp đã được sửa nhiều lần, trung bình khoảng 15 năm lại sửa. Và như vậy, hầu như nó đã trở thành việc bình thường. Điều này, đối chiếu với thông lệ chung, có gợi cho chúng ta điều gì không?

Trước hết, hãy quan niệm về hiến pháp

Tôi nhớ các nhà luật học Xô Viết trước đây đã coi Hiến pháp Liên Xô là một cương lĩnh chính trị hay một văn bản có tính chất như vậy. Nhận thức đó đã từng trở thành một học thuyết về hiến pháp. Tại sao như vậy? Bởi đọc hiến pháp người ta thấy cả một bức tranh đẹp đẽ mô tả tổng thể xã hội và đất nước, bao gồm cái đã có, đang có và cả cái sẽ có trong tương lai. Thêm nữa, và quan trọng hơn, hiến pháp được ban hành trên cơ sở cương lĩnh chính trị hoặc các nghị quyết của Đảng về đường lối, chiến lược xây dựng đất nước. Vậy, hiến pháp là “nghị quyết” hay “luật”? Câu trả lời là “cả hai”, vì nội dung của nó giống với “nghị quyết” nhưng gọi tên là “hiến pháp” để có hiệu lực như “luật”. Bởi rằng, “nghị quyết” chỉ có thể áp dụng trong phạm vi một tổ chức, còn “luật” thì có hiệu lực đối với toàn xã hội.

Continue reading

ĐỂ TIỀN LƯƠNG TRỞ THÀNH ĐỘNG LỰC ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN

TS. NGUYỄN MINH PHONG – Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế – xã hội Hà Nội

Những bức xúc trong tiền lương…

Chính sách tiền lương ở Việt Nam sau nhiều lần cải cách, nhất là từ năm 1993 đến nay, đã từng bước đổi mới theo hướng thị trường, tách dần tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh với khu vực hành chính nhà nước và khu vực sự nghiệp cung cấp dịch vụ công; chính sách tiền lương với chính sách bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công; tiền tệ hóa tiền lương; mở rộng và làm rõ trách nhiệm, quyền tự chủ của đơn vị, doanh nghiệp trong việc xếp lương, trả lương gắn với năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả. Nhờ vậy, tiền lương và thu nhập của người làm công ăn lương có xu hướng tăng từ 10  – 20%/năm, đảm bảo từng bước ổn định đời sống và có phần được cải thiện…

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, chính sách tiền lương của nhà nước ở các khu vực còn chậm đổi mới và thể chế hóa, không theo kịp cơ chế kinh tế thị trường, thiếu công bằng xã hội và chưa tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hiện nay, ở nước ta chỉ có 1 Luật Doanh nghiệp chung, nhưng lại có tới 3 cơ chế phân phối tiền lương khác nhau giữa các loại hình doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn một thành viên nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân. Cơ chế thương lượng, thoả thuận về tiền lương chưa đảm bảo đúng nguyên tắc thị trường và còn hình thức, vai trò công đoàn trong bảo vệ quyền lợi người lao động còn mờ nhạt, dẫn đến đình công tự phát có xu hướng gia tăng. Tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức rất thấp và thấp hơn khu vực sản xuất kinh doanh, chưa bảo đảm cho cán bộ, công chức, viên chức  sống chủ yếu bằng tiền lương; thu nhập ngoài lương lớn, là một trong những nguyên nhân của tiêu cực, tham nhũng; quan hệ tiền lương chưa hợp lý, các mức lương theo hệ số tiền lương gắn quá chặt với tiền lương tối thiểu chung; tiền lương chưa gắn thật chặt với vị trí, chức danh và hiệu quả công tác, chất lượng cung cấp dịch vụ công (lương của một tiến sỹ, một trưởng phòng nghiên cứu khoa học có thâm niên ngót 30 năm cũng chỉ bằng lương của một ôsin trong gia đình trung lưu hiện nay và thấp hơn lương trung bình của một lái xe taxi ở Hà
Nội; còn lương của một thợ may trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ đủ nuôi sống mình người đó ở mức kham khổ).  Thu nhập ngoài lương từ biếu xén, xin – cho, ăn chia, tạo sân sau… nhất là ở các ngành và vị trí gắn với con dấu và chữ ký đang có xu hướng gia tăng và gắn liền với tệ nạn tham nhũng, chạy chức chạy quyền rất công khai,  để lại các di hại hàng thế hệ… nữa, nếu như lương trong  mỗi công ty tư nhân thì ai biết của người đấy, còn mỗi lần nhà  nước tăng lương tối thiểu lại một lần tạo làn sóng tăng giá “đón đầu” và “ăn theo” diễn ra trên phạm vi toàn quốc và nhanh chóng tước đi những lợi ích danh nghĩa mà người nhận lương được hưởng từ tăng lương danh nghĩa này, khiến lương thực tế và mức sống thực tế thậm chí đôi khi lại kém đi so với thời điểm tiêu lương cũ…

Continue reading

CÁC CHÍNH SÁCH KINH TẾ TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN DOANH NGHIỆP

PGS.TS. Lê Xuân Bá – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (Viện NCQLKTTW)

Kết thúc năm 2010, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được kết quả tích cực trên hầu hết các lĩnh vực. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm sáng thể hiện thành tựu đạt được nền kinh tế còn có nhiều hạn chế và thách thức.

Những hạn chế và thách thức này đã  bộc lộ rõ ngay từ những tháng đầu năm 2011khi tình hình kinh tế vĩ mô cả trong nước và thế giới đều đối mặt với rất nhiều khó khăn và biến động khó lường. Lạm phát trong nước vẫn đang tăng cao và chỉ tiêu kiềm chế lạm phát dưới mức 7% của Chính phủ trong năm 2011 khó thành hiện thực. Nhiều chỉ tiêu kinh tế – xã hội khác như bội chi ngân sách, nhập siêu,… cũng khó thực hiện. Trước những đòi hỏi của nền kinh tế, những tháng đầu năm, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành thực hiện nhiều giải pháp chính sách kinh tế bảo đảm kinh tế vĩ mô, kiểm soát, ngăn ngừa tái lạm phát cao. Đây là những giải pháp chính sách cần thiết. Tuy nhiên, những giải pháp chính sách này có tác động như thế nào đối với doanh nghiệp? Bài viết này nhằm đưa ra một số đánh giá ban đầu về tác động của những giải pháp chính sách kinh tế trong thời gian vừa qua đến hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài phần mở đầu, bài viết gồm 3 phần. Phần 1 sơ lược tình hình kinh tế năm 2010 và 4 tháng đầu năm 2011. Phần 2 trình bày những giải pháp chính sách đã được ban hành và thực hiện trong thời gian vừa qua, đặc biệt trong những tháng đầu năm 2011 (chủ yếu là những giải pháp chính sách kinh tế có liên quan đến doanh nghiệp). Phần 3 đưa ra một số tác động ban đầu của giải pháp chính đến doanh nghiệp đồng thời đề xuất một số ý kiến hoàn thiện trong thời gian tới.

1. Sơ lược tình hình kinh tế năm 2010 và bốn tháng đầu năm 2011

Trong khuôn khổ hạn hẹp, phần này chỉ điểm qua tình hình về tăng trưởng kinh tế, thương mại, đầu tư và lạm phát.

Tăng trưởng kinh tế

Năm 2010, nền kinh tế Việt Nam đã có mức tăng trưởng khá và có xu hướng quý sau tăng nhanh hơn quý trước nhờ việc thực hiện đồng bộ các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy phát triển và những chính sách hỗ trợ sản xuất kinh doanh. Nền kinh tế đã sớm vượt qua giai đoạn khó khăn và phục hồi nhanh sau khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tốc độ tăng GDP của quý I là 5,84%, quý II – 6,44%, quý II – 7,16%, quý IV- 7,34%. Tính chung, cả năm 2010 GDP tăng 6,78%. Tăng trưởng của cả 3 khu vực nông – lâm – thủy sản, công nghiệp – xây dựng và dịch vụ năm 2010 đều tăng so với với năm 2009 (Bảng 1).
Đến quý I/2011, tốc độ tăng trưởng đạt 5,43% so với cùng kỳ năm 2010. Tốc độ tăng trưởng tương ứng của các khu vực nông – lâm – thủy sản, công nghiệp – xây dựng và dịch vụ lần lượt đạt 2,05%, 5,47%, và 6,28%.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 60/2011/NĐ-CP NGÀY 20 THÁNG 7 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Giao thông đường thủy nội địa ngày 15 tháng 6 năm 2004;

Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 4 năm 2008;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa.

2. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa là những hành vi của tổ chức, cá nhân vi phạm quy định của pháp luật về giao thông đường thủy nội địa một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính, bao gồm:

a) Vi phạm quy định về quản lý và bảo vệ công trình thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa;

b) Vi phạm quy định về phương tiện thủy nội địa;

c) Vi phạm quy định về thuyền viên, người lái phương tiện;

d) Vi phạm quy định về quy tắc giao thông và tín hiệu của phương tiện;

đ) Vi phạm quy định về hoạt động của cảng, bến thủy nội địa và vận tải đường thủy nội địa.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định này.

Tổ chức, cá nhân nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa trên lãnh thổ Việt Nam bị xử phạt theo quy định tại Nghị định này; trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác thì thực hiện theo điều ước quốc tế đó.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 59/2011/NĐ-CP NGÀY 18 THÁNG 7 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ CHUYỂN DOANH NGHIỆP 100% VỐN NHÀ NƯỚC THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Chứng khoán ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Mục tiêu, yêu cầu của việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần (sau đây gọi tắt là cổ phần hóa)

1. Chuyển đổi những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài để nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

2. Bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp.

3. Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán.

Điều 2. Đối tượng cổ phần hóa

1. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế; Tổng công ty nhà nước (kể cả Ngân hàng Thương mại nhà nước).

2. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là doanh nghiệp thuộc các Bộ; cơ quan ngang Bộ; cơ quan thuộc Chính phủ; Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

3. Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chưa chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

Điều 3. Điều kiện cổ phần hóa

1. Các doanh nghiệp quy định tại Điều 2 Nghị định này thực hiện cổ phần hóa khi đảm bảo đủ 02 điều kiện:

Continue reading

TẠI SAO NGƯỜI TA THÍCH DANH XƯNG?

NGUYỄN VĂN TUẤN

Đối với cuộc sống, người ta không thể lấy học hàm, học vị để trả lời câu hỏi: Tôi là ai? CIVILLAWINFOR

Tôi khổ tâm nhất là chuyện danh xưng, hay phải nói đúng hơn là “vấn đề danh xưng”. Tôi thỉnh thoảng viết báo và không bao giờ sử dụng đến danh xưng, thế nhưng những người biên tập vẫn chêm vào những danh xưng trước tên tôi, làm tôi rất khổ với Ba tôi lúc sinh tiền. Ba tôi mỗi lần đọc được một bài báo với tên tôi tác giả và có kèm theo mấy chữ nhí nhố trước tên là ông nói xa nói gần rằng có người hám danh, thiếu tự tin, nên dùng đến những danh hiệu phù phiếm. Tôi biết Ba tôi nói ai, và tôi thấy mình oan lắm. Có nhiều người như tôi, không bao giờ dùng danh xưng trước tên mình, nhưng vì ban biên tập thêm vào để — nói theo họ — là tăng trọng lượng của bài báo! Tôi không hiểu tại sao ý kiến của một giáo sư hay tiến sĩ phải có trọng lượng hơn ý kiến của một người bán vé số? Thật là vô lí! Người khôn nói 100 điều cũng có ít nhất một điều dại dột, còn người dại dột nói 100 điều chắc cũng có ít nhất là 1 điều khôn. Ý kiến phải bình đẳng.

Nhưng trong thực tế thì ở Việt Nam, danh xưng đóng vai trò quan trọng, hay rất quan trọng. Có một lần, khi về làm việc ở một tỉnh thuộc vùng miền Tây, sau bài nói chuyện tôi được một vị cao tuổi ân cần trao cho một danh thiếp với dòng chữ tiếng Anh: “Senior Doctor Tran V. …”. Đây là lần đầu tiên tôi thấy một danh xưng như thế trong đời. Tìm hiểu một hồi tôi mới biết ông là một cựu quan chức cao cấp trong ngành y tế của thành phố (đã nghỉ hưu), nhưng vẫn còn giữ chức vụ gì đó trong một hiệp hội chuyên môn. Tôi nghĩ danh xưng “Senior Doctor” (có lẽ nên dịch là “Bác sĩ cao cấp” hay nôm na hơn là “Bác sĩ đàn anh”). Nhưng tại sao lại cần một danh xưng phân biệt “giai cấp” như thế? Tôi đoán có lẽ vị đồng nghiệp này muốn phân biệt mình với “đám” bác sĩ đàn em chăng?

Một lần khác, khi xem qua chương trình hội nghị tôi thấy ban tổ chức viết tên diễn giả bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Những người có danh xưng tiếng Việt ví dụ như “TS BS Trần Thị …” được dịch sang tiếng Anh là “Dr. Dr. Tran Thi …”. Tôi không khỏi cười thầm trong bụng vì chưa thấy nơi nào trên thế giới có cách viết lạ lùng như thế. Tôi sợ nhất là trong hội nghị có đồng nghiệp ngoại quốc mà họ đọc được cái danh xưng “Dr Dr” này chắc tôi tìm lỗ mà chui xuống không kịp quá! Tôi đề nghị cách viết “đơn giản” hơn là chỉ “Dr” thôi là đủ, nhưng cũng phải vài phút thảo luận người ta mới chịu đề nghị này!

Tôi vẫn còn giữ một danh thiếp khác với dòng chữ: “Dr Specialist II Nguyễn M”. Một anh bạn người Úc tôi có lần tình cờ thấy danh thiếp trên bàn nên thắc mắc hỏi tôi “Specialist II” là gì vậy. Lúc đó tôi cũng chẳng biết, nên đành nói: “I have no idea”, nhưng tôi nói thêm rằng tôi đoán đó là bác sĩ chuyên khoa gì cấp 2 gì đó. Anh bạn đồng nghiệp cười nói mỉa mai (rất dễ ghét) rằng: ước gì tao cũng được cấp II nhỉ?

Không nghi ngờ gì nữa: người Việt rất sính dang xưng. Những gì Dạ Lan viết đều đúng, nhưng … chưa đủ. Còn nhiều chuyện cười ra nước mắt về những nhầm lẫn về danh xưng (honorific), tước hiệu, và nghề nghiệp ở Việt Nam mà tôi từng chứng kiến trong các hội nghị. Nghe những lời giới thiệu dài lòng thòng như “Giáo sư, tiến sĩ, nhà giáo nhân dân, anh hùng lao động, bác sĩ Nguyễn Văn …” nó khôi hài làm sao!

Tôi vẫn tự hỏi tại sao người ta thích danh xưng trước tên mình? Kinh nghiệm của tôi, khi tiếp xúc với những người hay sử dụng danh xưng cho thấy họ thường dùng danh xưng với những động cơ sau đây:

Continue reading

CÁC QUY ĐỊNH VỀ GIÁM HỘ TRONG QUAN HỆ DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Tác giả viết bài này vào thời điểm năm 2004

THÁI CÔNG KHANH

Trong pháp luật thực định Việt Nam có những qui định về vấn đề giám hộ trong các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài, nhất là trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, cụ thể là: Theo khoản 1, 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài giải quyết việc giám hộ có yếu tố nước ngoài; Theo khoản 3 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình, Toà án nhân dân cấp tỉnh giải quyết tranh chấp việc giám hộ có yếu tố nước ngoài; theo khoản 1 Điều 106 Luật Hôn nhân và gia đình, việc giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được thực hiện tại Việt Nam, tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài phải tuân theo pháp luật Việt Nam; theo Điều 5 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch, việc đăng ký và quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài được thực hiện theo qui định của Nghị định này. Theo Điều 75 Nghị định này, việc đăng ký nhận giám hộ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài được thực hiện theo pháp luật Việt Nam.

Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy những qui định trên đây bộc lộ một số nhược điểm về nguyên tắc, về nội dung, về sử dụng từ ngữ, về kỹ thuật xây dựng văn bản… Mặt khác, trong thực tế, từ trước tới nay Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cũng như cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài (dưới đây gọi tắt là Đại sứ quán) chưa hề giải quyết một việc giám hộ, mà người giám hộ hoặc người được giám hộ là công dân Việt Nam. Tuy nhiên, việc nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các qui định về giám hộ trong các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài là rất cần thiết, đặc biệt trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay.

1. Các điều kiện của người giám hộ và người được giám hộ:

a. Căn cứ vào những qui định của Bộ luật Dân sự.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự, người giám hộ và người được giám hộ phải cùng cư trú trong một phường, xã, thị trấn với mục đích là để có điều kiện thực hiện nghĩa vụ giám hộ, và để chính quyền phường, xã, thị trấn giám sát việc thực hiện giám hộ theo pháp luật đã qui định. Như vậy, rõ ràng là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài không thể làm người giám hộ cho công dân Việt Nam đang sinh sống tại Việt Nam.

Continue reading

CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN: SAO LẠI “PHÙ THỦNG” TÙY NGHI?

LƯ QUANG VINH

Sau hai năm áp dụng, Luật thuế thu nhập cá nhân vẫn chưa thực sự đi vào thực tiễn cuộc sống. Chính phủ và các bộ, ngành chưa tìm ra giải pháp hoàn thiện trong việc áp dụng luật thuế này. Từ tiêu chí “thu”, rồi “giãn”, “giảm”, “hoãn” đến nay lại quay về điểm xuất phát là “miễn” thuế thu nhập cá nhân (TNCN) với đối tượng bậc 1 cho đến hết 31/12/2011.

Loay hoay với bài toán thuế TNCN, Bộ Tài chính dự thảo kiến nghị Quốc hội điều chỉnh về thuế TNCN, trong đó có ba nội dung:

– Thứ nhất, miễn 5% thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ cổ tức của nhà đầu tư chứng khoán (trừ cổ tức ngân hàng, tổ chức tín dụng);

– Thứ hai, miễn thuế đối với thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng chứng khoán của cá nhân (20% trên thu nhập hoặc 0,1% trên giá trị chuyển nhượng) do thị trường chứng khoán đang rất khó khăn, nhà đầu tư không có thu nhập;

– Thứ ba, miễn thuế đối với những người ở bậc 1 tương đương 9 triệu đồng, độc thân. Đây là nhóm người khó khăn nhất trong những người phải nộp thuế, và số thuế được giãn trong 1 tháng tối đa 250.000 đồng/người.

Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng đề xuất không tính thuế giá trị gia tăng (VAT) đối với suất ăn giữa ca trong trường hợp doanh nghiệp tự nấu cho người lao động, kể cả trường hợp doanh nghiệp khác nấu suất ăn giữa ca bán cho công nhân tại địa điểm nhà máy, trụ sở doanh nghiệp. Doanh nghiệp được khấu trừ VAT đầu vào trong trường hợp tự nấu hoặc mua suất ăn của doanh nghiệp cung ứng. Đây là đề xuất chặt chẽ, chi tiết đến lòng vòng khó hiểu.

Cái vòng lẫn quẩn nêu trên cho thấy các nhà hoạch định chính sách còn khá lúng túng trong việc giải quyết quốc kế dân sinh. Một chính sách có định hướng bao giờ cũng mang tính ổn định và ngược lại chứ không thể “phù thủng” tùy nghi. Điều này đặt trọng trách rất nặng lên các nhà hoạch định chính sách cũng như các cơ quan giám sát dân cử. Điểm lại quá trình xây dựng và áp dụng từ năm 2007 đến nay cho thấy, sự ra đời của luật thuế TNCN trong thời gian qua là chưa thật sự chín muồi bởi hai lý do:

Continue reading

SÁU VẤN ĐỀ CẢNH BÁO SAI PHẠM VỀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA

HOÀNG QUỐC HÙNG – Phó Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp

Công tác bán đấu giá tài sản (BĐGTS) theo Nghị định 17/2010/NĐ-CP  ngày 04/3/2010  được đánh giá là một hoạt động đang được xã hội hoá mạnh mẽ, từng bước đi vào cuộc sống với nhiều hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên, các địa phương vẫn gặp khó khăn trong việc triển khai do nhiều lý do khách quan và chủ quan khác nhau. Trong công tác thanh tra chuyên ngành về bán đấu giá tài sản, Thanh tra Bộ đã phát hiện ra một số vấn đề sai phạm do cố ý và vô ý đã, đang và sẽ gây ra hậu quả pháp lý khó lường. Để phòng ngừa các sai phạm có thể xảy ra, tác giả xin nêu một số vấn đề đã xảy ra trong thực tế và các giải pháp phòng ngừa, khắc phục các sai phạm đó.

Vấn đề thứ nhất: Hiện tượng thông đồng dìm giá, “quân xanh, quân đỏ” trong bán đấu giá tài sản.

Để ngăn chặn và chủ động phòng ngừa hành vi thông đồng, dìm giá của người tham gia đấu giá  tài sản thì cần phải nắm rõ thủ đoạn thông đồng, dìm giá:

Thủ đoạn thứ nhất: Có sự tham gia của người bán đấu giá tài sản. Trong trường hợp này thì người bán đấu giá tài sản sẽ chủ động bàn bạc với một số người thông đồng, dìm giá và đặt ra các quy định, nội quy bán đấu giá tài sản. Nội dung của nội quy bán đấu giá tài sản thông thường sẽ quy định tổ chức bán đấu giá tài sản làm 2 hoặc 3 vòng, giá khởi điểm của vòng 2 phải bằng giá đã trả cao nhất của vòng 1 cộng với một bước giá, giá khởi điểm của vòng 3 phải bằng giá đã trả cao nhất của vòng 2 cộng với một bước giá. Lúc này sẽ có ít nhất 2 người thông đồng với nhau, một người sẽ trả giá khởi điểm, sau đó, người kia sẽ trả mức giá rất cao để không có người nào trả giá tiếp theo. Vòng 1 kết thúc với kết quả người trả giá cao nhất và người trả giá liền kề có giá chênh lệch rất lớn. Khi vào vòng 2 đấu gía, người trả giá cao nhất của vòng 1 sẽ trả giá phạm quy (tức là giá thấp hơn giá khởi điểm của vòng 2 theo nội quy đấu giá). Như vậy người trả giá cao nhất vòng 1 sẽ bị phạm quy. Do có thông đồng của người tổ chức bán đấu giá nên tổ chức bán đấu giá đã “linh hoạt vận dụng” trả lại tiền cọc cho người phạm quy và cho người trả giá còn lại của vòng 1 được trúng đấu giá. Cuối cùng người trả giá cao nhất (là quân xanh) lại không được trúng và người trả giá thấp nhất lại được trúng đấu giá (chủ yếu là loại tài sản tịch thu để xử lý vi phạm hành chính).

Continue reading

NHỮNG BẤT CẬP CỦA CÁC QUY ĐỊNH CHUYỂN ĐỔI CÔNG TY CỔ PHẦN THÀNH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN

THS. HOÀNG ANH TUẤN – Văn phòng Luật sư Biển Bắc

Chuyển đổi hình thức công ty là một trong những phương thức để tổ chức lại công ty bảo đảm cho sự phát triển của công ty đáp ứng được các mục tiêu của nhà đầu tư, yêu cầu của thị trường, cũng như yêu cầu của pháp luật. Theo pháp luật doanh nghiệp hiện hành, công ty cổ phần có thể chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên. Vấn đề này đã được đề cập đến một cách khá cụ thể bởi Nghị định số 139/2007/NĐ-CP và Nghị định số 102/2010/NĐ-CP hiện hành. Tuy nhiên, nội dung hướng dẫn của các Nghị định này không những không tạo thuận lợi cho việc chuyển đổi hình thức công ty từ công ty cổ phần sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, mà còn làm cho việc chuyển đổi như vậy khó khăn hơn rất nhiều. Bài viết này sẽ phân tích các khiếm khuyết như vậy.

1. Khiếm khuyết của quy định pháp luật Việt Nam về chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty TNHH một thành viên

Điều 154 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Công ty trách nhiệm hữu hạn có thể được chuyển đổi thành công ty cổ phần hoặc ngược lại. Thủ tục chuyển đổi được quy định như sau: Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc Đại hội đồng cổ đông thông qua quyết định chuyển đổi và Điều lệ công ty chuyển đổi. Quyết định chuyển đổi phải có các nội dung chủ yếu về tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty được chuyển đổi; tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty chuyển đổi; thời hạn và điều kiện chuyển tài sản, phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty được chuyển đổi thành tài sản, cổ phần, trái phiếu, phần vốn góp của công ty chuyển đổi; phương án sử dụng lao động; thời hạn thực hiện chuyển đổi”.

Xét một cách đơn thuần, các quy định này đã thể hiện sự thông thoáng đảm bảo quyền tự do chuyển đổi hình thức công ty. Chỉ cần một quyết định của đại hội đồng cổ đông là có thể chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty TNHH một thành viên. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có các khiếm khuyết như sau:

Thứ nhất, pháp luật không đề cập nhiều đến điều kiện chuyển đổi, dẫn đến không ít các khó khăn khi thực hiện. Có thể nhìn thấy chúng qua ví dụ sau. Khi thành lập công ty cổ phần, các cổ đông thống nhất đăng ký vốn điều lệ là 100 tỷ. Bốn cổ đông sáng lập của công ty cam kết góp 20% bằng 20 tỷ và đã góp đủ. Khi thực hiện việc chuyển đổi thành công ty TNHH nhiều thành viên, giá trị công ty được xác định là 15 tỷ. Trong quyết định chuyển đổi xác định tổng số vốn góp của 4 thành viên là 15 tỷ, theo đó điều lệ công ty chuyển đổi cũng thể hiện vốn điều lệ là 15 tỷ. Và, vấn đề khúc mắc xảy ra khi nộp hồ sơ chuyển đổi, cơ quan đăng ký kinh doanh yêu cầu giải trình việc giảm vốn điều lệ từ 100 tỷ xuống 15 tỷ (trước khi Nghị định số 43/2010/NĐ-CP có hiệu lực vốn điều lệ của công ty cổ phần bao gồm cả cổ phần chào bán). Các nghi vấn đặt ra là công ty đã tìm cách làm giảm trách nhiệm, dẫn đến việc chuyển đổi khó có thể được thực hiện.

Continue reading

QUY CHẾ VỀ VIỆC KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI BỘ TƯ PHÁP

(Ban hành kèm theo Quyết định số 1184/QĐ-BTP ngày 11 tháng 7 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp)

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Quy chế này quy định về nguyên tắc, quy trình, quan hệ phối hợp trong công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại Bộ Tư pháp bao gồm: Đánh giá tác động, lấy ý kiến; công bố, đăng tải; tiếp nhận, xử lý phản ánh kiến nghị về thủ tục hành chính; rà soát, kiểm soát việc thực hiện thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.

2. Quy chế này được áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính và các đơn vị thuộc Bộ có quan hệ công tác trong lĩnh vực kiểm soát thủ tục hành chính.

Điều 2. Nguyên tắc kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại Bộ Tư pháp được thực hiện theo nguyên tắc quy định tại Điều 4 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính, các quy định của Bộ Tư pháp và các nguyên tắc sau đây:

1. Bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Bộ trưởng Bộ Tư pháp đối với công tác kiểm soát thủ tục hành chính.

2. Phân công, phân cấp rõ ràng và đề cao trách nhiệm của các đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức tham gia công tác kiểm soát thủ tục hành chính.

3. Tăng cường quan hệ phối hợp giữa các đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức trong công tác kiểm soát thủ tục hành chính.

4. Công khai, minh bạch trong công tác kiểm soát thủ tục hành chính.

5. Tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại Bộ Tư pháp.

Điều 3. Nội dung kiểm soát thủ tục hành chính tại Bộ Tư pháp

Công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại Bộ Tư pháp bao gồm các nội dung sau đây:

1. Đánh giá tác động và lấy ý kiến về thủ tục hành chính đang được dự thảo.

2. Công bố, đăng tải, sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ thủ tục hành chính trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính và Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.

Continue reading