NGHỊ ĐỊNH SỐ 42/2011/NĐ-CP NGÀY 13 THÁNG 06 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CÔNG DÂN THUỘC DIỆN LÀM NGHĨA VỤ QUÂN SỰ ĐƯỢC MIỄN GỌI NHẬP NGŨ TRONG THỜI CHIẾN

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Quốc phòng ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Nghĩa vụ quân sự ngày 30 tháng 12 năm 1981, đã được sửa đổi, bổ sung năm 1990, năm 1994 và năm 2005;
Căn cứ Pháp lệnh về lực lượng dự bị động viên ngày 27 tháng 8 năm 1996;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định những trường hợp công dân thuộc diện làm nghĩa vụ quân sự đang làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức) được miễn gọi nhập ngũ trong thời chiến.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Nghị định này áp dụng đối với công dân Việt Nam thuộc diện làm nghĩa vụ quân sự theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự (kể cả công dân nữ có chuyên môn cần cho Quân đội); các cơ quan, tổ chức nơi có công dân Việt Nam thuộc diện làm nghĩa vụ quân sự.

2. Nghị định này không áp dụng đối với những công dân đang phục vụ trong Công an nhân dân, những công dân có chuyên môn đã được xếp vào các đơn vị chuyên môn dự bị và những công dân được Bộ Quốc phòng điều động vào phục vụ Quân đội khi cần thiết.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, những từ ngữ sau đây được hiểu như sau:

1. Công dân thuộc diện làm nghĩa vụ quân sự là công dân trong độ tuổi có nghĩa vụ phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị của Quân đội theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự và Luật Sỹ quan quân đội nhân dân Việt Nam.

2. Miễn gọi nhập ngũ trong thời chiến là miễn gọi vào phục vụ tại ngũ trong Quân đội khi có lệnh tổng động viên hoặc lệnh động viên cục bộ và trong chiến tranh.

Điều 4. Việc quy định công dân thuộc diện làm nghĩa vụ quân sự được miễn gọi nhập ngũ trong thời chiến

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 08/2011/TT-BNV NGÀY 02 THÁNG 06 NĂM 2011 CỦA BỘ NỘI VỤ HƯỚNG DẪN MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 06/2010/NĐ-CP NGÀY 25 THÁNG 01 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH NHỮNG NGƯỜI LÀ CÔNG CHỨC

Căn cứ Luật Cán bộ, công chức ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Căn cứ Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ quy định những người là công chức;
Căn cứ Nghị định số 48/2008/NĐ-CP ngày 17 tháng 4 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ;
Sau khi thống nhất với Ban Tổ chức Trung ương Đảng, Bộ Nội vụ hướng dẫn một số điều của Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ quy định những người là công chức (sau đây gọi chung là Nghị định số 06/2010/NĐ-CP) như sau:

Điều 1. Hướng dẫn về việc xác định công chức

1. Việc xác định công chức phải căn cứ theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 06/2010/NĐ-CP.

2. Những trường hợp đủ các căn cứ xác định là công chức quy định tại Điều 2 Nghị định số 06/2010/NĐ-CP mà kiêm một số chức danh, chức vụ được bầu cử (không chuyên trách) theo quy định của pháp luật hoặc theo điều lệ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thì được xác định là công chức.

3. Những người đang làm việc chuyên trách công tác Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên tại các cơ quan nhà nước, ở trong biên chế công chức, hưởng lương từ Ngân sách nhà nước, được bổ nhiệm vào một ngạch thì được xác định là công chức.

4. Những người là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong quân đội nhân dân Việt Nam và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong Công an nhân dân Việt Nam được biệt phái sang làm việc chuyên trách tại các cơ quan của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội và các cơ quan nhà nước thì không phải là công chức.

5. Những người đang làm việc ở các vị trí được pháp luật quy định là công chức trong đơn vị sự nghiệp công lập mà chưa được tuyển dụng (đang thực hiện chế độ hợp đồng lao động) thì không xác định là công chức.

Continue reading

BÀN VỀ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA VĂN BẢN DO NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN KÝ TÊN VÀ ĐÓNG DẤU CHI NHÁNH

LS. ĐỖ HỒNG THÁI – Văn phòng Đại diện VietinBank tại TP.HCM

Từ một thực tế về cách hiểu luật

Tháng 5/2010, Chi nhánh A (thuộc Ngân hàng X có trụ sở chính tại Hà Nội) lập thông báo địa điểm kinh doanh (mở phòng giao dịch) gửi Phòng Đăng ký kinh doanh (ĐKKD) thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. HCM. Hồ sơ đầy đủ, nhưng Phòng ĐKKD đã trả lại bởi lý do: “Giám đốc Chi nhánh A ký tên thừa ủy quyền của người đại diện theo pháp luật Ngân hàng X trên văn bản thông báo, nhưng không được đóng dấu của Chi nhánh A mà phải đóng dấu của Ngân hàng X mới bảo đảm tư cách pháp nhân, mới phù hợp tư cách nhân danh bên ủy quyền”. Cho dù, sau đó Ngân hàng X đã lập giấy ủy quyền ghi rõ rằng: “khi thực hiện công việc được ủy quyền, giám đốc Chi nhánh A được dùng con dấu của chi nhánh đóng trên văn bản đã ký thừa ủy quyền”, nhưng vẫn không được chấp thuận. Ngân hàng X không thể dùng dấu của trụ sở chính đóng trên văn bản do chi nhánh ký, thế là, kể từ đó, sự ủy quyền của Ngân hàng X về vấn đề này chỉ còn tồn tại trên giấy với biết bao phiền toái phát sinh: mọi giấy tờ liên quan của Ngân hàng X khi gửi

Phòng ĐKKD TP. HCM đều nhất nhất phải do chính người đại diện theo pháp luật ký tên và đóng dấu Ngân hàng X. Vấn đề “ký tên và đóng dấu” tưởng chừng đơn giản, dễ hiểu, song, gắn với vấn đề ủy quyền lại dường như trở nên phức tạp, ít nhất là dưới cách nhìn của một cơ quan công quyền. Trên thực tế, có vô số hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau mà một chi nhánh của doanh nghiệp vẫn đã và đang phải đảm đương các nhiệm vụ được doanh nghiệp giao nhằm đáp ứng các yêu cầu kinh doanh và quản trị doanh nghiệp. Đáng lưu ý là, con dấu của chi nhánh trên các văn bản ấy chưa từng bị bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào từ chối giao dịch vì lý do không thừa nhận tư cách của chi nhánh. Phải chăng, Phòng ĐKKD TP. HCM đã vô hiệu hóa tư cách của chi nhánh doanh nghiệp hay chính sự thừa nhận của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mới là trái luật? 2

Nhìn lại quy định của pháp luật

Pháp luật Việt Nam ghi nhận giá trị pháp lý của con dấu của doanh nghiệp (và cả con dấu của chi nhánh trực thuộc doanh nghiệp) là một yếu tố cấu thành thể thức văn bản bên cạnh chữ ký của người có thẩm quyền trên văn bản đó 2. Hay nói cách khác, khi đã được người có thẩm quyền ký và được đóng dấu thì chính chữ ký và con dấu đã thể hiện vị trí pháp lý và khẳng định giá trị pháp lý đối với chính văn bản đó.

Continue reading

BÀN VỀ ĐIỀU KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG CỦA UCP 600 NHÂN SỰ KIỆN ĐỘNG ĐẤT VÀ SÓNG THẦN Ở NHẬT BẢN

NGUYỄN HỮU ĐỨC – VIETCOMBANK Đà Nẵng

Ngày 11/3/2011, một trận động đất dữ dội, có cường độ 8,9 độ richte, đã xảy ra ngoài khơi Đông Bắc Nhật Bản, gây nên một cơn sóng thần cao đến 10 mét cuốn trôi nhà cửa, xe cộ, máy bay, tàu thuyền… Một số thành phố gần như bị xóa sổ, với hàng chục ngàn người chết và mất tích. Hoạt động của các doanh nghiệp, trong đó có các ngân hàng, ở những khu vực bị ảnh hưởng hầu như bị ngưng trệ hoàn toàn trong thời gian xảy ra động đất và sóng thần và tình trạng này sẽ vẫn còn tiếp tục kéo dài cho đến khi các doanh nghiệp này có thể khắc phục hậu quả và hoạt động trở lại.

Việc bị gián đoạn hoạt động kinh doanh do động đất và sóng thần là sự kiện vượt quá khả năng kiểm soát của các ngân hàng, do vậy, được xem là sự kiện bất khả kháng. Vậy, các ngân hàng bị gián đoạn hoạt động kinh doanh do ảnh hưởng của động đất và sóng thần có được miễn trách nhiệm thanh toán đối với L/C đã hết thời hạn hiệu lực trong thời gian bị gián đoạn này hay không? Trong bài viết nhân sự kiện kinh hoàng này, người viết xin bàn về điều kiện bất khả kháng được quy định tại Điều 36 của UCP 600. Điều 36 UCP 600 quy định về điều kiện bất khả kháng như thế nào?

Điều 36 UCP 600 quy định về điều kiện bất khả kháng như sau:

“Ngân hàng không chịu trách nhiệm hoặc có nghĩa vụ đối với các hậu quả phát sinh từ việc hoạt động kinh doanh của mình bị gián đoạn do thiên tai, nổi loạn, dân biến, nổi dậy, chiến tranh, khủng bố, hoặc do đình công hoặc đóng cửa doanh nghiệp hoặc bất kỳ nguyên nhân nào khác vượt quá sự kiểm soát của ngân hàng. Khi bắt đầu hoạt động trở lại, ngân hàng sẽ không thanh toán hoặc chiết khấu L/C đã hết thời hạn hiệu lực trong thời gian ngân hàng bị gián đoạn kinh doanh”. (A bank assumes no liability or responsibility for the consequences arising out of the interuption of its business by Acts of God, riots, civil commonitions, insurrections, wars, acts of terrorism, or by any strikes or lockouts or any other causes beyond its control. A bank will not, upon resumption of its business, honour or negotiate under a credit that expired during such interuption of its business).

Trong bối cảnh giả định nhiều ngân hàng Nhật Bản ngừng hoạt động do bị ảnh hưởng bởi động đất và sóng thần, rõ ràng với quy định như trên, người thụ hưởng L/C có lý do chính đáng để lo lắng rằng ngân hàng có thể viện dẫn quy định tại Điều 36 UCP 600 để từ chối thanh toán L/C nếu như thời hạn hiệu lực L/C rơi vào thời điểm ngân hàng ngừng hoạt động và người thụ hưởng không thể xuất trình chứng từ đến được ngân hàng trong thời hạn hiệu lực quy định. Tương tự, ngân hàng được chỉ định đã thanh toán hoặc chiết khấu L/C cũng có lý do để lo lắng về việc ngân hàng phát hành có thể viện dẫn quy định tại Điều 36 UCP 600 để từ chối hoàn trả tiền. Điều 36 UCP 600 có luôn luôn đúng trong mọi tình huống? Câu trả lời ngay là không. Ngân hàng có thể được miễn trừ trách nhiệm thanh toán hoặc chiết khấu L/C đã hết hiệu lực trong thời gian ngân hàng đó bị gián đoạn kinh doanh theo Điều 36 UCP 600 hay không còn tùy thuộc quy định của L/C. Người viết bài này xin đưa ra một số tình huống giả định khác nhau và phân tích để thấy rằng không phải trường hợp nào ngân hàng cũng được miễn trừ trách nhiệm nghĩa vụ thanh toán hoặc chiết khấu L/C khi hoạt động kinh doanh của ngân hàng đó bị gián đoạn do bị ảnh hưởng bởi sự kiện bất khả kháng như thiên tai, nổi loạn, dân biến, nổi dậy, chiến tranh, khủng bố…

Continue reading

ÁN LỆ VÀ ÁN MẪU–NHỮNG KHẢ NĂNG ÁP DỤNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

CAO VIỆT THĂNG – Viện Nhà nước và Pháp luật, Trung Tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia

Trong Dự án Luật sửa đổi một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự, mới đây Tòa án nhân dân tối cao đã đề xuất cho phép được xét xử theo án lệ, nhưng Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa tán thành1. Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh đã mở một chuyên đề nói về án lệ. Trong đó có rất nhiều quan điểm đưa ra nhằm ủng hộ hay phản đối việc áp dụng án lệ ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong những quan điểm đó, đôi khi còn có sự hiểu không chính xác về án lệ, án mẫu. Vì vậy, trước khi cân nhắc có nên áp dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay hay không, chúng ta cần phân biệt rõ về án lệ và án mẫu để có một phương án giải quyết hợp lý.

1. Phân biệt án lệ và án mẫu

1.1. Án lệ

Nói đến án lệ, người ta thường nói đến sự khiếm khuyết của các quy phạm pháp luật trong một hệ thống pháp luật. Thông thường án lệ chỉ xuất hiện khi có một sự kiện pháp lý mới nảy sinh mà chưa có những quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh cụ thể về lĩnh vực đó hoặc doxung đột pháp luật mà chưa có các dẫn chiếu pháp luật rõ ràng.

Cơ sở hình thành án lệ chính là những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật. Khi có những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật, tòa án sẽ viện dẫn những căn cứ pháp luật được coi là hợp lý để đưa ra một phán quyết có tính đột phá và bản án này sẽ được tòa án tối cao công bố là án lệ để áp dụng chung cho các trường hợp tương tự do khiếm khuyết quy phạm hoặc chưa có dẫn chiếu quy phạm rõ ràng. Tuy nhiên, việc hình thành án lệ – theo các nhà kinh điển – cũng không phải là phương thức làm luật tốt. Chẳng hạn, Montesquieu cho rằng “…Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự do của công dân, quan toà sẽ là người đặt ra luật”2.

Ngoài ra, việc xây dựng án lệ cũng phải tuân thủ những yêu cầu hết sức nghiêm ngặt chứ không chỉ đơn thuần là phán quyết bất kỳ của toà án tối cao đối với một vấn đề mới. Cụ thể:

Continue reading

VỤ ÁN “MY SÓI” NHÌN TỪ GÓC ĐỘ XÃ HỘI HỌC TỘI PHẠM: ĐỪNG VỘI QUY KẾT TRÁCH NHIỆM CHO NGÀNH GIÁO DỤC

LƯ QUANG VINH

Vụ án My “sói” tạm thời khép lại với tổng mức hình phạt lên đến 161 năm tù cho 8 bị cáo là một sự ray rứt không hề nhỏ cho toàn xã hội. Hệ quả của vụ án còn là tiếng chuông rè trong một hồi chuông dài các nổi đau của tội phạm vị thành niên. Vấn đề đặt ra là không chỉ người chưa thành niên phạm tội mà trong hầu hết các vụ án, bất kể đối tượng phạm tội có được học hành hay không người ta cũng quy kết trách nhiệm cho ngành giáo dục như một cách tốt nhất để chối bỏ trách nhiệm của chính mình vậy. Có chăng, chính những tiếng nói oang oang quy kết ấy lại là hành vi phản giáo dục, góp phần không nhỏ trong việc phát tán hay tô đậm hơn phương thức phạm tội cho các nhóm nguy cơ phạm tội khác noi theo mà thôi!

Trong khi hướng dẫn của Liên hiệp quốc về phòng ngừa tội phạm người chưa thành niên (gọi tắt là Hướng dẫn Riyadh) đã được thông qua năm 1990 chỉ rõ ra rằng các thành tố giáo dục bao gồm cả việc xem xét vai trò của gia đình, nhà trường và cộng đồng, các cơ quan thông tin đại chúng, chính sách xã hội, luật pháp và hệ thống tư pháp đối với đời sống người chưa thành niên (NCTN).

Công bằng mà nói, môi trường giáo dục hiểu một cách chỉnh thể phải bao gồm các thành tố nêu trên. Song, trong phạm vi thu hẹp “người chưa thành niên phạm tội” thì chúng ta cần chia tách từng thành tố để xem xét như môi trường, hoàn cảnh cụ thể để xác lập đúng trách nhiệm của từng thành tố trong nhóm giáo dục. Không phải ai vi phạm pháp luật đều do ngành giáo dục không làm tròn trách nhiệm mà không loại trừ các trường hợp người phạm tội chưa từng đi học, bỏ học do hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc bướng bỉnh vì quá đủ đầy,…

Một nghiên cứu của Bộ Công an chỉ ra nguyên nhân phạm tội của người chưa thành niên xuất phát từ gia đình: 49% NCTN phạm tội phàn nàn về cách cư xử của cha mẹ là không công bằng, áp đặt, ngược đãi, đánh đập,… Mặt khác, sự quá nuông chiều, thỏa mãn mọi nhu cầu con cái của cha mẹ cũng tạo nên thói quen dựa dẫm, không ý thức về trách nhiệm, luôn đòi hỏi được phục vụ, được hưởng thụ cũng là một tác nhân thúc đẩy trẻ phạm tội không kém.

Nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, Violence Against Women Fachtsheet No. 239) thực hiện ở Hoa Kỳ cho thấy bạo lực gia đình chống lại phụ nữ đồng thời cũng chất gánh nặng lên hệ thống các cơ quan tư pháp. Bởi lẽ pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xếp các hình thức bạo lực gia đình (ở phạm vi, mức độ khác nhau) là những hành vi vi phạm pháp luật và vì vậy, mỗi khi các hành vi bạo lực gia đình xảy ra, các cơ quan tư pháp sẽ phải điều tra, truy tố, xét xử. Đồng thời cũng chất gánh nặng lên hệ thống giáo dục. Bạo lực gia đình có thể gây ra cho học sinh – những nạn nhân trực tiếp hoặc phải chứng kiến cảnh người nhà là nạn nhân của bạo lực gia đình dẫn đến những rối loạn về tâm lý, sự sa sút trong học tập và tỷ lệ học sinh bỏ học vì lý do bạo lực gia đình là rất cao.

Qua đó cho thấy, nhà trường chỉ đóng vai trò nhất định trong việc giúp hoàn thiện các kỹ năng về ngôn ngữ, kiến thức cũng như các giá trị tinh thần cho những người được đến lớp trước một hệ thống giáo dục hành vi gồm các mắt xích như môi trường sống, nhân cách của cha me, ông bà, bạn bè, phương thức truyền thông, chính sách xã hội, luật pháp và hệ thống tư pháp đối với đời sống của NCTN.

Continue reading

NHỮNG VẤN ĐỀ BỊ BỎ QUÊN LIÊN QUAN ĐẾN CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Không thể phủ nhận những đóng góp của Bộ luật Dân sự năm (BLDS) 1995 và sau này là BLDS năm 2005 vào việc hoàn thiện khung pháp lý về tài sản, đặc biệt về phần chế độ sở hữu tư nhân, gọi tắt là pháp luật sở hữu, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của giao lưu dân sự và nhất là sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ một quyền sở hữu đậm chất hành chính mà việc thực hiện được đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của nhà chức trách1, người dân đã có được một quyền sở hữu đích thực và, về phương diện kỹ thuật pháp lý, tiệm cận với quyền sở hữu được quan niệm trong luật của các nước. Quyền sở hữu ấy bao gồm các quyền năng được chính thức định nghĩa trong BLDS cho phép chủ sở hữu khai thác được các tiềm năng vật chất, kinh tế, xã hội của tài sản. Trong chừng mực nào đó, chính khung pháp lý về quyền sở hữu được ghi nhận trong BLDS đã tạo ra sự an toàn cho việc tích luỹ và sử dụng của cải trong khu vực tư, từ đó, tạo điều kiện cho sự đóng góp của chủ thể vào sự thịnh vượng chung của toàn xã hội.

Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận so với yêu cầu rất cao về mức độ hoàn thiện, tinh vi của một chế độ sở hữu tư nhân cần thiết cho sự phát triển lành mạnh và ổn định của nền kinh tế thị trường, các quy định trong BLDS còn tỏ ra lỏng lẻo, sơ sài và chưa phù hợp. Cần nhấn mạnh rằng so với BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 hầu như không ghi nhận cải cách nào mang tính đột phá về phương diện nội dung pháp luật tài sản. Bởi vậy, những khuyết tật của hệ thống pháp luật tài sản phát sinh từ những quy định bất cập tồn tại kéo dài và điều đó ảnh hưởng xấu đến sự đóng góp của luật pháp vào việc xây dựng xã hội mới.

Trong khuôn khổ sửa đổi BLDS năm 2005, chế độ pháp lý về sở hữu cần được xem xét ở nhiều khía cạnh, từ đó, rất nhiều vấn đề sẽ bật ra và cần được giải quyết thấu đáo. Trong phạm vi hạn hẹp của bài viết này, người viết chỉ mong muốn giới thiệu những suy nghĩ xoay quanh các vấn đề bị bỏ quên trong nhiều năm qua liên quan đến quan niệm tài sản, chế độ pháp lý về bất động sản và chế độ sở hữu chung cư.

1. Quan niệm tài sản

Luật so sánh. Trong quan niệm Latinh, tài sản có thể được hình dung, mô tả theo một trong hai cách tuỳ theo xuất phát điểm quan sát để nhìn nhận đối tượng2.

Continue reading

XỬ LÝ BÀI TOÁN LÃI SUẤT, THÁO GỠ KHÓ KHĂN VỀ VỐN CHO DOANH NGHIỆP

THS. CHU THỊ MINH TRÍ – Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng hải & THS. NGUYỄN THỊ THÚY – Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á

Thời gian qua diễn biến lãi suất trên thị trường tiền tệ tiếp tục thu hút sự quan tâm lớn của dư luận nói chung, của người vay vốn, doanh nghiệp nói riêng. Hầu hết các Ngân hàng Thương mại (NHTM) đã huy động vốn vượt trần lãi suất huy động theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), lãi suất cho vay lên tới 24% – 25%/năm, người sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp không có khả năng chịu đựng được mức lãi suất đó. Vậy, nguyên nhân của tình trạng đó là gì và giải bài toán đó như thế nào trong điều kiện hiện nay để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 11 của Chính phủ.

Theo quy định, trần lãi suất huy động của NHNN là không quá 14%/năm đối với nội tệ, song lãi suất thực trả cho người gửi tiền lên tới 17-20%/năm nhưng vốn vẫn khó huy động. Số liệu NHNN đã công bố rộng rãi cho thấy, tính đến cuối tháng 5-2011, tổng nguồn vốn huy động của hệ thống NHTM, tổ chức tín dụng (TCTD) trong cả nước tăng có 1,48% so với cuối năm 2010. Đây là mức tăng thấp nhất trong so với cùng kỳ nhiều năm gầy đây. Đáng chú ý là lãi suất huy động vốn, thu hút tiền gửi của các NHTM tăng lên tới 18 – 20%/năm, cao nhất trong nhiều năm qua, tương đương mức lãi suất cuối năm 2008, nhưng vẫn không thu hút được tiền gửi vào hệ thống ngân hàng. Điều này cũng chứng tỏ lý thuyết truyền thống tăng cao lãi suất để thu hút bớt tiền từ lưu thông về ngân hàng không phải lúc nào cũng đạt được hiệu quả và không phù hợp trong điều kiện hiện nay ở nước ta. Đặc biệt là vốn huy động nội tệ lại giảm tới 2,75%, mặc dù lãi suất huy động vốn tăng rất cao, còn vốn huy động ngoại tệ tăng 18,84%. Điều này cho thấy những tháng đầu năm 2011, với lo ngại đồng tiền Việt Nam mất giá, lạm phát tăng cao, trong khi đó lãi suất tiền gửi ngoại tệ lên tới 5,0 – 5,5%/năm, nên người dân đã lựa chọn USD để gửi ngân hàng thương mại. Trong đó có một lượng đáng kể ngoại tệ từ nước ngoài chuyển về nước dưới dạng kiều hối để gửi tiết kiệm vì lãi suất tiền gửi USD cao hơn nhiều so với lãi suất tại Mỹ và nhiều nước khác trên thế giới. Đây là xu hướng tích cực nhìn từ góc độ Việt Nam thiếu vốn, phải đi vay vốn nước ngoài, thì nguồn vốn từ kiều hối chuyển về gửi các NHTM trong nước bổ sung nguồn vốn để cho vay là khá quan trọng. Từ giữa tháng 4-2011, lãi suất tiền gửi USD của dân cư theo quy định của NHNN giảm xuống tối đa chỉ còn 3%/năm, nhưng với số tiền USD gửi trước đó được giữ nguyên lãi suất thời điểm gửi và người dân không rút ra, còn lượng tiền gửi USD mới không sụt giảm, làm cho tiền gửi USD trong hệ thống NHTM vẫn tăng cao, mặc dù tiền gửi USD của doanh nghiệp biến động.

Continue reading

BIỂN ĐÔNG – CÁI BIỂN HAY CÁI AO?

NGUYỄN TRUNG

Vốn hay lan man theo kiểu “trông người lại nghĩ đến ta”, dưới đây xin chia sẻ với bạn đọc một vài suy nghĩ rất riêng của cá nhân tôi về “câu chuyện Biển Đông” của chúng ta, nhân xảy ra sự kiện “Senkaku” giữa Nhật và Trung Quốc hiện nay.

I. Bối cảnh

Trong nhiều thập kỷ nay, quan hệ Nhật – Trung có lẽ chưa có sự kiện nào căng thẳng đến mức rất cao như vụ thuyền trưởng tàu đánh cá Trung Quốc Zhan Qixiong đầu tháng 9-2010 bị bắt giam do xâm phạm vào vùng biển do Nhật Bản kiểm soát và do đã va chạm vào tàu tuần tra của Nhật Bản. Ngày 25-09-2010 phía Nhật Bản đã phải thả người thuyền trưởng này do áp lực rất mạnh và gần như toàn diện của Trung Quốc. Hiện nay sự kiện căng thẳng này chưa thể nói là đã kết thúc. 

Trong khi đó riêng từ đầu năm 2009 đến nay phía Trung Quốc đã bắt giam hàng trăm ngư dân Việt Nam ngay trong vùng biển của Việt Nam, băt tù, đòi phạt tiền, tịch thu tàu…; có những vụ tàu Trung Quốc đã vào cách bờ biển Việt Nam 65 hải lý, ghĩa là sâu trong hải phận của Việt Nam. Gần đây nhất, các vụ bắt ngư dân Việt Nam trong vùng biển của Việt Nam vẫn liên tiếp xảy ra trong tháng 10-2010, trong lúc đó Trung Quốc tưng bừng đón Zhan Qixiong trở về Bắc Kinh ngày 27-09-2010 như một anh hùng.

Dư luận thế giới rất bất bình về cách ứng xử theo “tiêu chuẩn kép” [1]) như thế của Trung Quốc và đồng thời đặt ra nhiều câu hỏi ngờ vực về thái độ mềm yếu của Việt Nam.        

Cần nhắc lại, dù là tồn tại tranh chấp vùng đảo Senkaku giữa Nhật và Trung Quốc, song hiệu lực pháp lý quốc tế còn nguyên vẹn cho đến nay của Hội nghị San Francisco và Hiệp nghị Yalta vẫn quy định để cho Nhật tiếp tục quản lý đảo Senkaku mà không trao cho phía Trung Quốc. Thực tế này có nghĩa: Nếu Trung Quốc muốn giải quyết tranh chấp này thì phải thông qua thương lượng, chứ không thể cứ chủ động cho tàu cá của mình thâm nhập vùng đảo này, đâm vào tàu tuần tra của Nhật, rồi gây áp lực chính trị như đã diễn ra. Chẳng lẽ một quốc gia theo đuổi chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc lại thực hiện một phong cách ngoại giao như vậy?[2] Tình hình căng thẳng tới mức còn nhiều điều chưa đoán định được, chính phủ Nhật đang chịu nhiều sức ép bên trong và bên ngoài. Trên thế giới còn nhiều tranh chấp biển đảo chưa có cách giải quyết.  Vấn đề là lựa chọn giải pháp hòa bình hay xung đột. Nếu cả hai bên cùng leo thang, tình hình sẽ đi tới đâu?[3]Senkaku hiện nay chắc chắn sẽ không là chuyện chỉ giữa Trung Quốc và Nhật.

Continue reading

QUẢN LÝ BẰNG PHÁP LUẬT – MỘT RÀO CẢN TƯ DUY

imageNGUYỄN ĐỨC LAM

Quả thật, nếu so “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật” với tình trạng quản lý bằng mệnh lệnh hành chính như những năm kinh tế bao cấp thì đây là bước tiến lớn của thời kinh tế thị trường. Thế nhưng, câu hỏi quan trọng và không kém phần khó khăn là “quản lý bằng pháp luật” như thế nào? Quản lý bằng pháp luật ở nước ta dường như đang gặp nhiều rào cản về tâm lý, văn hoá pháp lý xuất phát từ phía chính quyền.

Pháp luật của ai?

Dĩ nhiên pháp luật ở nước ta do Nhà nước ban hành, nên nó nằm trong tay Nhà nước. Nhưng Nhà nước là ai? Có phải chỉ là tập hợp một cách cơ giới các cơ quan nhà nước và các quan chức nhà nước không? Rõ ràng là không. Nhưng một số cơ quan, quan chức – đại diện cho Nhà nước lại ngây thơ nghĩ rằng họ là Nhà nước và có quyền dùng pháp luật – công cụ của Nhà nước để quản lý bất kỳ cái gì mà họ thấy khó, bất kỳ lúc nào mà họ muốn, bất kỳ ở đâu. Chẳng hạn đã từng có Thứ trưởng Bộ Xây dựng ký văn bản cấm các doanh nghiệp trong ngành sử dụng nguyên liệu của doanh nghiệp ngoài ngành sản xuất; Bộ Tài chính cho ra văn bản về mua hoá đơn; văn bản về cắm biển báo tốc độ; dự thảo văn bản cấm karaoke; dự thảo văn bản cấm xe máy ngoại tỉnh lưu thông thường xuyên ở Hà Nội…

Không giống như ở các nước pháp luật xuất phát từ thực tế, trên những đòi hỏi của thực tế, pháp luật ở nước ta thường là do các cơ quan nhà nước ban hành (đôi lúc được hiểu như “ban phát”) trước mà không hỏi người dân, sau đó người dân mới tham gia thụ động. Pháp luật được định hình theo quan niệm, hoài bão của các nhà soạn thảo dựa trên kinh nghiệm cá nhân trong quá khứ hoặc học hỏi được từ nước ngoài nhưng lại được diễn giải theo cách của họ. Hoặc lúc khó quản quá thì dùng pháp luật để cấm như nói ở trên. Do mang trong đầu quan niệm như thế, nhà làm luật đôi lúc bảo thủ với ý tưởng của mình, không có cái nhìn bao quát, không hiểu được lợi ích của đối tượng điều chỉnh, giành phần dễ về mình. Do đó mà “hợp pháp nhưng không hợp lý” (biển báo tốc độ và bắn tốc độ là ví dụ), nên khi đưa vào thực hiện gặp nhiều trục trặc, khó mà làm theo nên người dân hoặc thúc thủ không dám làm gì vì sợ phạm luật, hoặc buộc phải “xé rào” để mưu sinh. Kết quả là đạo luật chết yểu, hoặc phải chỉnh sửa rất nhiều lần trong một thời gian ngắn.

Cái nhìn bề trên

Ngày xưa, ở ta quan lại được xem như cha mẹ dân, những điều tranh chấp được cáo quan để chờ phán xử – một tư thế thấp bé và lệ thuộc trong mối quan hệ giữa đương sự và quan toà. Quan hệ giữa quan và dân là từ trên xuống, ban phát, bề trên và cho đến hôm nay dường như vẫn có bóng dáng của cái nhìn như thế. Sau đây là một vài biểu hiện:

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ: CÓ CẦN NGƯỜI LÀM CHỨNG DI CHÚC?

THANH TÙNG

Ban đầu TAND Tối cao cho rằng không vì di chúc đã đọc cho người lập nghe nhưng sau đó lại bảo cần người làm chứng.

Theo hồ sơ, năm 1994, mẹ của bà Lệ và bà Nhơn làm di chúc giao căn nhà cho bà Nhơn sở hữu. Sau đó bà Lệ khởi kiện yêu cầu hủy tờ di chúc trên vì cho rằng không hợp pháp do chỉ có công chứng viên chứng nhận mà không có người làm chứng.

Trước sau bất nhất

Tháng 8-2007, TAND TP Đà Lạt xử sơ thẩm, tuyên bác yêu cầu của nguyên đơn, công nhận tính hợp pháp của bản di chúc, công nhận căn nhà trên thuộc sở hữu của bà Nhơn. Phía bà Lệ kháng cáo. Ngày 31-3-2008, TAND tỉnh xử phúc thẩm cũng tuyên bác yêu cầu của bà Lệ.

Bà Lệ tiếp tục làm đơn khiếu nại giám đốc thẩm. Tháng 10-2008, Tòa Dân sự TAND Tối cao có văn bản trả lời không có cơ sở chấp nhận yêu cầu vì hai cấp tòa xử bác yêu cầu hủy di chúc là hoàn toàn có căn cứ đúng luật. Cụ thể, Điều 14 Pháp lệnh Thừa kế quy định trong trường hợp người lập di chúc không đọc được, không ký hoặc điểm chỉ được thì mới phải nhờ người làm chứng xác nhận. Cạnh đó, khoản 2 Điều 661 BLDS năm 1995 và Điều 658 BLDS năm 2005 cũng khẳng định chỉ khi người lập di chúc không đọc, không nghe, không ký tên, không điểm chỉ được thì mới cần người làm chứng. Trong vụ án này, mẹ của hai bên đương sự đã nghe đọc lại bản di chúc và điểm chỉ trước sự chứng kiến của công chứng viên, công chứng viên cũng đã xác nhận điều này nên bản di chúc hợp pháp, có giá trị thực thi.

Sau công văn trả lời khiếu nại khá rõ của Tòa Dân sự TAND Tối cao, Chi cục Thi hành án Dân sự TP Đà Lạt đã chuẩn bị lên kế hoạch thi hành án theo yêu cầu nhưng bất ngờ vào phút cuối, ngày 25-3-2011 (tức còn sáu ngày nữa là hết hạn ba năm kháng nghị giám đốc thẩm), Phó Chánh án TAND Tối cao Từ Văn Nhũ đã ký quyết định kháng nghị, đề nghị Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao xử hủy cả hai bản án, trả hồ sơ cho cấp sơ thẩm xét xử lại từ đầu bởi tờ di chúc trên không có người làm chứng nên không hợp pháp. Cạnh đó, hai cấp tòa cần phải xác minh rõ bà Nhơn có chăm sóc mẹ chu đáo và thờ cúng sau khi chết như trong bản di chúc hay không.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT: HƯỚNG DẪN “CHỎI” NHAU, THẨM PHÁN LÚNG TÚNG

HOÀNG YẾN

Nếu làm theo hướng dẫn của TAND TP.HCM, có khả năng cách giải quyết của các tòa ở TP sẽ trái ngược với các tòa ở những tỉnh, thành khác.

Hiện nay, những vụ tranh chấp hợp đồng vay không tính lãi, có thời hạn xuất hiện thường xuyên tại TP.HCM nhưng hướng dẫn về việc có tính lãi suất chậm trả hay không giữa TAND Tối cao và TAND TP lại “chỏi” nhau khiến các thẩm phán rất lúng túng…

Tháng 6-2010, ông NTS khởi kiện bà NTKN ra TAND quận 11 (TP.HCM). Theo đơn kiện, ngày 20-7-2009, ông S. có cho bà N. vay 100 triệu đồng không tính lãi trong thời hạn ba tháng. Bà N. có lập giấy vay tiền cùng cam kết sẽ trả nợ đầy đủ cho ông vào ngày 20-10-2009. Đến hạn, bà N. không trả. Đợi mãi, ông S. buộc phải khởi kiện bà N. để đòi lại số nợ gốc cùng tiền lãi tính từ ngày bà N. quá hạn trả nợ.

Tòa: Phải trả lãi

Thụ lý, TAND quận 11 nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho bà N. thông báo về vụ kiện nhưng bà N. không phản hồi và cố tình vắng mặt. Vì thế, ngày 21-2-2011, tòa đã đưa vụ kiện ra xét xử vắng mặt bà N.

Tại phiên xử, tòa căn cứ vào giấy vay tiền mà bà N. đã lập cùng cam kết thanh toán sau ba tháng để xác định bà N. có vay của ông S. 100 triệu đồng. Đây là hợp đồng vay có thời hạn và không lãi suất. Đến hạn thanh toán, bà N. không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Tòa căn cứ vào khoản 2 Điều 305 Bộ luật Dân sự quy định bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi với số tiền chậm trả theo mức lãi suất Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán (hiện là 9%/năm). Vì thế tòa buộc bà N. trả 100 triệu đồng nợ gốc cho nguyên đơn và 12 triệu đồng tiền lãi tính trên 16 tháng chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Bà N. phải thanh toán nợ một lần cho ông S.

Ngoài vụ kiện trên, bà N. còn là bị đơn trong một vụ tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông TVK. Theo hồ sơ, ngày 6-8-2009, ông K. cho bà N. vay 100 triệu đồng không tính lãi với thời hạn ba tháng. Bà N. có lập bản giao kèo mượn tiền và cam kết trả sau ba tháng. Đến hạn, bà cũng không thanh toán. Tháng 6-2010, ông K. cũng nộp đơn đến TAND quận 11 khởi kiện bà N. để đòi lại số nợ gốc cùng tiền lãi tính từ ngày bà N. chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Continue reading

NHỮNG “GÓC KHUẤT” TRÊN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM

NGỌC LAN

Vài năm gần đây và những tháng đầu năm 2011, dù nền kinh tế gặp không ít vấn đề gây khó khăn cho hoạt động của các DN, đặc biệt là các đơn vị hoạt động trong ngành tài chính, nhưng các DN bảo hiểm vẫn có kết quả hoạt động tương đối khả quan. Điều này chứng tỏ tiềm năng thị trường bảo hiểm vẫn còn rất lớn. Tuy nhiên, đằng sau bức tranh sáng màu này là những vấn đề tồn đọng sau hơn 10 năm phát triển ngành bảo hiểm.

Tại buổi "Tọa đàm hỗ trợ pháp lý, tháo gỡ vướng mắc, khó khăn cho DN bảo hiểm" do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tổ chức giữa tháng 5/2011, một loạt khó khăn, vướng mắc đã được các DN bảo hiểm phản ánh. Trong đó có không ít khúc mắc về luật và các văn bản liên quan đến bảo hiểm như: thời gian để góp ý cho các dự thảo quá ngắn, không đủ để các DN nghiên cứu, trao đổi; trong khi đó, có những ý kiến đã đóng góp nhưng không được tiếp thu nên khi thực hiện tiếp tục phát sinh vướng mắc.
Đại diện một công ty bảo hiểm lớn phàn nàn, thủ tục xin thay đổi địa chỉ văn phòng đại diện còn quá mất thì giờ vì phải được Bộ Tài chính phê duyệt mới được chuyển sang địa chỉ mới; các DN bảo hiểm cũng khá khó khăn trong việc tiếp cận các văn bản pháp luật; hay như vấn đề trục lợi bảo hiểm đã tồn tại rất lâu trên thị trường nhưng không có biện pháp ngăn chặn, nên nhiều DN bảo hiểm đành phải chấp nhận bồi thường chỉ để tỏ thiện chí, thể hiện tính nhân đạo và cũng để giữ chân khách hàng…
Đặc biệt, hiện tượng trục lợi bảo hiểm đối với các sản phẩm bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn con người… đang diễn ra hết sức phổ biến. Tuy DN đã rất nhiều lần phản ánh với các cơ quan chức năng về những khó khăn trong việc tiếp cận hồ sơ của bệnh viện vì lý do bí mật hồ sơ bệnh nhân, nhưng đến nay kiến nghị này vẫn chưa được giải quyết. Bởi câu trả lời của Bộ Tài chính chỉ là, chưa thể thay đổi ngay mà phải làm từ từ khi sửa các luật liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Ông Carlos Vanegas, Tổng giám đốc Công ty bảo hiểm Liberty từng chia sẻ, việc thiếu các số liệu thống kê cũng là một thử thách với các công ty bảo hiểm nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Bởi ở các nước khác, mọi số liệu về khách hàng đều được thống kê đầy đủ, ví dụ lịch sử lái xe, số lần va quệt, các loại xe, đời xe khách hàng đã sở hữu… Trong khi tại Việt Nam, công ty bảo hiểm không thể tìm ra cơ sở dữ liệu này để có thể tính phí bảo hiểm một cách chính xác nhất.

Continue reading

PHẦN VỐN GÓP: CAM KẾT GÓP HAY THỰC GÓP

NGUYỄN VÂN QUỲNH – Công ty Luật Phuoc & Partners

Câu chuyện thực tế: Tháng 12-2010, công ty TNHH X (gọi tắt là công ty X) tổ chức cuộc họp hội đồng thành viên. Lấy lý do ông A chưa góp đủ phần vốn đã cam kết nên các thành viên góp vốn còn lại giảm số phiếu biểu quyết của ông A.

Cơ sở pháp lý được các thành viên công ty X đưa ra là điều 18.3 của Nghị định 102/2010 ngày 1-10-2010 hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (Nghị định 102), theo đó “trong thời hạn chưa góp đủ số vốn theo cam kết, thành viên có số phiếu biểu quyết và được chia lợi tức tương ứng với tỷ lệ số vốn thực góp, trừ trường hợp điều lệ công ty quy định khác”.

Ông A không chấp nhận cách làm này vì cho rằng ngay cả khi ông chưa góp đủ phần vốn của mình thì ông vẫn có số phiếu biểu quyết như đã góp đủ. Và khi công ty chia lợi nhuận ông vẫn được nhận theo tỷ lệ vốn ông đã cam kết góp thì không có lý gì bây giờ công ty lại hạn chế quyền lợi của ông. Những quy định gây tranh cãi Theo quy định tại điều 41 của Luật Doanh nghiệp 2005, các quyền của thành viên góp vốn trong công ty TNHH đều dựa trên phần vốn góp của mỗi thành viên, tức là dựa trên tỷ lệ vốn mà thành viên công ty TNHH góp vào vốn điều lệ.

Có thể thấy rằng từ Luật Doanh nghiệp 2005 đến Nghị định 102, khái niệm vốn điều lệ trong công ty TNHH hai thành viên trở lên đều được hiểu thống nhất là số vốn thực góp hoặc cam kết góp của các thành viên trong một thời hạn cụ thể và đã được ghi vào điều lệ công ty. Như vậy, quyền của các thành viên góp vốn trong công ty TNHH sẽ được dựa trên tỷ lệ vốn mà thành viên góp vào số vốn đã được ghi vào điều lệ công ty.

Lấy ví dụ:

Công ty TNHH Y gồm có hai thành viên với vốn điều lệ đăng ký là 200 tỉ trong đó thành viên B cam kết góp 100 tỉ và C cam kết góp 100 tỉ. Tại thời điểm tổ chức họp hội đồng thành viên: B đã góp được 40 tỉ và C đã góp được 50 tỉ. Như vậy, phần vốn góp của B và C có thể sẽ được xác định theo một trong hai cách sau:

Cách 1: B chiếm 40/200 (20%) và C chiếm 50/200 (25%); hay

Cách 2: B chiếm 100/200 (50%) và C chiếm 100/200 (50%).

Bản thân Luật Doanh nghiệp khi đưa ra khái niệm “phần vốn góp” để từ đó làm cơ sở xác định phạm vi quyền của thành viên cũng không nói cụ thể đó là tỷ lệ sở hữu của thành viên dựa trên số vốn đã góp hay cam kết góp, mà chỉ đơn giản dùng một chữ “góp”.

Continue reading

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 69/2011/TTLT-BTC-BTP NGÀY 18 THÁNG 5 NĂM 2011 HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ THU, NỘP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG LỆ PHÍ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM, PHÍ CUNG CẤP THÔNG TIN VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM VÀ PHÍ SỬ DỤNG DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG THƯỜNG XUYÊN

Căn cứ Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Phí và lệ phí; Nghị định số 24/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Phí và lệ phí;
Căn cứ Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm;
Căn cứ Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Căn cứ Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;
Liên Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm, phí cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm và phí sử dụng dịch vụ khách hàng thường xuyên như sau:

Điều 1. Đối tượng, phạm vi áp dụng

1. Tổ chức, cá nhân yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án; yêu cầu cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng, tài sản kê biên; cung cấp bản sao văn bản chứng nhận nội dung đăng ký giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án; yêu cầu sử dụng dịch vụ khách hàng thường xuyên tại Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm phải nộp các khoản lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm, phí cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm, phí sử dụng dịch vụ khách hàng thường xuyên tương ứng theo quy định tại Thông tư này. Mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không được thực hiện theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính.

2. Các cơ quan có thẩm quyền thu lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm, phí cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm và phí sử dụng dịch vụ khách hàng thường xuyên có trách nhiệm thực hiện việc thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí theo quy định tại Thông tư này.

3. Không áp dụng thu lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm đối với các trường hợp sau đây:

a) Các cá nhân, hộ gia đình khi đăng ký giao dịch bảo đảm để vay vốn tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh thì không phải nộp lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn;

Continue reading

ÁN LỆ Ở ÚC: LỊCH SỬ, KHÁI NIỆM, NGUYÊN TẮC VÀ CƠ CHẾ THỰC HIỆN

NGUYỄN ĐỨC LAM

Ở Úc, án lệ được coi là “dấu hiệu tinh tú của thông luật”[1]; “nền tảng của một hệ thống tư pháp thông luật”[2]. Cũng như các nước khác thuộc hệ thống thông luật – Common Law- (Anh, Mỹ, Canada, New Zealand …), án lệ là nguồn chủ yếu và quan trọng, được dẫn chiếu khi tòa án xét xử ở Úc. Các bên có tranh chấp, thông qua luật sư của họ, cũng lấy án lệ để biện luận cho việc kiện tụng của mình.

Ở Việt Nam, trong khoảng vài năm gần đây, đã bắt đầu bàn đến khả năng áp dụng án lệ ở Việt Nam[3]. Còn theo Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị, “Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”. Trong dự án Luật sửa đổi một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2010, TAND Tối cao đã đề xuất cho phép được xét xử theo án lệ (nhưng Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa tán thành, chưa đưa ra Quốc hội bàn và quyết).

Nói chung, ở Việt Nam, khái niệm án lệ còn mới không chỉ đối với các nhà thực thi pháp luật mà còn cả đối với các nhà khoa học, hiện nay còn nhiều quan điểm nhìn nhận khác nhau, nhiều câu hỏi đặt ra mà chưa có câu trả lời rõ ràng.

Trong bối cảnh đó, bài viết này cung cấp một số thông tin tham khảo về án lệ ở Úc. Trước hết, bài viết điểm lại lịch phát triển của pháp luật và án lệ ở Úc; giới thiệu chung về hệ thống tòa án của Úc. Tiếp đó, bài viết giới thiệu chung về án lệ ở Úc gồm: khái niệm, tại sao cần có án lệ, ratio decidendi và obiter dicta; hình thức bản án ở Úc. Cuối cùng, bài viết phân tích cơ chế thực hiện án lệ ở Úc gồm: án lệ trong hệ thống thứ bậc các tòa án Úc; án lệ tham khảo; các kỹ thuật khu biệt và bác bỏ án lệ; đưa ra một số kết luận tổng quan về án lệ ở quốc gia này.

I – LỊCH SỬ PHÁP LUẬT VÀ HỆ THỐNG TÒA ÁN ÚC

Việc nghiên cứu án lệ ở Úc đòi hỏi phải đặt trong quá trình ra đời, phát triển của pháp luật nước này và hệ thống toà án Úc.

1. Lịch sử pháp luật Úc

Pháp luật Úc và các thiết chế pháp lý chịu ảnh hưởng rất nhiều từ các mẫu hình của Anh như hệ thống thông luật, nghị viện, thậm chí có một thời một số luật của Anh được áp dụng trực tiếp ở Úc. Các quyết định của các tòa án ở Anh có ảnh hưởng lớn và thường được viện dẫn trong quá trình xét xử ở Úc[4]. Pháp luật Úc đã thừa hưởng nhiều từ pháp luật Anh[5], như trong vụ Mabo (No 2), thẩm phán Brennan lưu ý, pháp luật Úc “không chỉ là sự thừa kế của pháp luật Anh, mà là sự phát triển hữu cơ từ pháp luật Anh”[6].

Continue reading

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

Massachusetts Real Estate contractTHS. NGUYỄN VĂN PHÁI – Khoa Quan hệ quốc tế, Đại học KHXH&NV TP. Hồ Chí Minh

Trong quá trình giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là hai yếu tố quan trọng để hình thành hợp đồng. Vì vậy, Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên hiệp quốc năm 1980 (CISG), Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT năm 2004 (PICC) và Bộ luật Dân sự năm 2005 của Việt Nam (BLDS) đều có những quy định về hai vấn đề này. Để đóng góp ý kiến cho việc sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến hợp đồng trong BLDS, chúng tôi phân tích, so sánh những quy định về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng trong các văn bản trên thông qua nghiên cứu các vụ án thực tế.

1. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Sau khi đề nghị được chuyển đến người nhận, người này có thể trả lời chấp nhận, từ chối hoặc sửa đổi đề nghị. Trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự bày tỏ ý chí của người được đề nghị đồng ý ký kết hợp đồng theo những điều kiện do bên đề nghị đưa ra và nó chỉ có hiệu lực khi phù hợp với đề nghị giao kết hợp đồng, ít nhất là đối với các nội dung chính của hợp đồng. Dựa trên nhận thức chung đó, CISG, PICC và BLDS đưa ra những quy định chi tiết về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, thể hiện những quan điểm, yêu cầu khác nhau về các hình thức trả lời chấp nhận cũng như sự phù hợp giữa trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng với đề nghị giao kết hợp đồng. Khi phân tích sự tương đồng và khác biệt trong các quy định về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng đã nêu ở ba văn bản trên, chúng ta tập trung vào các đặc điểm:

1.1. Biểu thị sự chấp nhận của bên được đề nghị đối với đề nghị

Để có một chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, bên được đề nghị phải biểu thị sự “chấp nhận” của mình đối với đề nghị, tức là thể hiện ý chí muốn giao kết hợp đồng của mình với người đưa ra đề nghị. Tình huống sau là một ví dụ1:

Tóm tắt vụ kiện: theo hồ sơ vụ án thì nguyên đơn là Công ty TNHH thương mại – xây dựng, bảo trì, dịch vụ kỹ thuật điện Sài Gòn (SEECOM) gửi cho bị đơn là Công ty phát triển khu công nghiệp Long Bình (LOTECO) một thông báo về việc bán 04 đồng hồ đo điện qua fax. Sau khi nhận được bản fax, Tổng Giám đốc của LOTECO ký chấp nhận trực tiếp vào bản fax và gửi lại cho SEECOM. Sau khi nhận được bản fax, SEECOM chuyển 04 đồng hồ đo điện vạn năng đến kho của LOTECO; hai bên thực hiện việc giao nhận hàng vào ngày 22/4/2003. Ngày 26/6/2003, LOTECO có văn bản gửi SEECOM về việc thanh toán nợ tồn đọng của các hợp đồng trong đó nêu việc báo giá đối với 04 đồng hồ đo điện vạn năng của SEECOM là quá cao so với thị trường và LOTECO đã tính lại giá thấp hơn so với giá ban đầu, còn không có khiếu nại gì khác. Thêm nữa, LOTECO đã thanh toán cho SEECOM tiền mua 04 đồng hồ đo điện vạn năng theo lệnh chuyển tiền số 132563 ngày 4/12/2003 với nội dung chuyển 100.000.000 đồng để thanh toán phí bảo trì trạm biến áp, đồng hồ vạn năng. Ngày 8/3/2004, LOTECO có Công văn số 121-04/KTH đề nghị SEECOM nhận lại 04 đồng hồ với lý do chúng không đạt yêu cầu sử dụng của Công ty và cho rằng, việc hai bên trao đổi thỏa thuận qua fax không đủ căn cứ để hình thành hợp đồng giữa hai bên.

Continue reading

THỰC TIỄN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: LÀM HỢP ĐỒNG MUA BÁN XE ĐÃ MẤT

CHI MAI (TTO)

Khách hàng gửi xe bị mất, được bồi thường nhưng lại bị buộc giao giấy tờ xe và ký hợp đồng bán chiếc xe (đã mất) cho bên đã bồi thường. Tình huống này đang diễn ra, không chỉ một trường hợp.

Ngày 24-3-2011, ông T.K.N. (ngụ quận 8, TP.HCM) đi xe gắn máy hiệu Honda SHi125 tới nhà hàng Kichi Kichi tại khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng, quận 7 ăn tối cùng gia đình. Nhân viên bảo vệ nhận giữ xe và đưa thẻ, thế mà chỉ khoảng một giờ sau, khi ông ra lấy xe thì được thông báo chiếc xe đã không còn trong bãi.

Bán… cà vẹt xe

Lỗi mất xe đã được xác định thuộc về công ty bảo vệ. Sau nhiều lần thương lượng, cuối tháng 5-2011 chủ nhà hàng đã đồng ý bồi thường cho ông N. nhưng chỉ theo số tiền ghi trên hóa đơn mua xe. Chiếc xe SHi125 ông N. mua giá khoảng 160 triệu đồng chỉ mới hơn một tháng trước. Tuy nhiên, do cửa hàng bán xe chỉ xuất hóa đơn giá 110 triệu đồng nên ông N. chỉ được nhà hàng bồi thường 117 triệu đồng (tính cả biên lai thuế và phí đăng ký biển số).

Ngoài ra, nhà hàng yêu cầu ông N. phải giao giấy đăng ký xe (cà vẹt), đồng thời làm hợp đồng bán chiếc xe trên cho nhà hàng. Đơn vị này lý giải rằng do đã nhận bồi thường nên ông N. đương nhiên không còn quyền sở hữu đối với chiếc xe đã mất, mà quyền sở hữu phải thuộc về họ. Ông N. không đồng ý vì cho rằng giá tiền ông nhận bồi thường thực tế thấp hơn nhiều so với giá mua xe. Nếu ông làm giấy bán xe thì chủ nhà hàng sẽ được quyền sở hữu xe với giá “mua” xe rất rẻ. Ông N. thắc mắc: “Ngộ nhỡ có tình trạng bên giữ xe cố tình dàn cảnh mất xe, bỏ khoản tiền bồi thường thấp hơn giá trị thực tế của chiếc xe để rồi được sở hữu xe một cách hợp pháp bằng hợp đồng mua bán thì sao?”.

Chính vì vậy ông N. không làm giấy bán xe. Ông chỉ đồng ý giao giấy tờ xe cho nhà hàng và hai bên ký biên bản thỏa thuận nếu sau này tìm lại được chiếc xe thì ông N. sẽ được quyền nhận lại xe, đồng thời trả lại 117 triệu đồng cho nhà hàng.

Hợp đồng vô hiệu

Theo luật sư Võ Xuân Trung – đoàn luật sư TP.HCM, băn khoăn của ông T.K.N. là một vấn đề pháp lý cần được lưu tâm. Luật sư Trung cho biết việc chủ nhà hàng (đơn vị giữ xe nói chung) đưa ra điều kiện người nhận bồi thường phải viết giấy bán xe là không đúng pháp luật. Theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật công chứng, đối tượng mua bán phải được xác định rõ và là vật có thật. Trong trường hợp này chiếc xe mua bán trên thực tế đã bị mất, tài sản giao dịch không có thật nên hợp đồng công chứng nếu có ký cũng là vô hiệu.

Continue reading