THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ: CÓ CẦN NGƯỜI LÀM CHỨNG DI CHÚC?

THANH TÙNG

Ban đầu TAND Tối cao cho rằng không vì di chúc đã đọc cho người lập nghe nhưng sau đó lại bảo cần người làm chứng.

Theo hồ sơ, năm 1994, mẹ của bà Lệ và bà Nhơn làm di chúc giao căn nhà cho bà Nhơn sở hữu. Sau đó bà Lệ khởi kiện yêu cầu hủy tờ di chúc trên vì cho rằng không hợp pháp do chỉ có công chứng viên chứng nhận mà không có người làm chứng.

Trước sau bất nhất

Tháng 8-2007, TAND TP Đà Lạt xử sơ thẩm, tuyên bác yêu cầu của nguyên đơn, công nhận tính hợp pháp của bản di chúc, công nhận căn nhà trên thuộc sở hữu của bà Nhơn. Phía bà Lệ kháng cáo. Ngày 31-3-2008, TAND tỉnh xử phúc thẩm cũng tuyên bác yêu cầu của bà Lệ.

Bà Lệ tiếp tục làm đơn khiếu nại giám đốc thẩm. Tháng 10-2008, Tòa Dân sự TAND Tối cao có văn bản trả lời không có cơ sở chấp nhận yêu cầu vì hai cấp tòa xử bác yêu cầu hủy di chúc là hoàn toàn có căn cứ đúng luật. Cụ thể, Điều 14 Pháp lệnh Thừa kế quy định trong trường hợp người lập di chúc không đọc được, không ký hoặc điểm chỉ được thì mới phải nhờ người làm chứng xác nhận. Cạnh đó, khoản 2 Điều 661 BLDS năm 1995 và Điều 658 BLDS năm 2005 cũng khẳng định chỉ khi người lập di chúc không đọc, không nghe, không ký tên, không điểm chỉ được thì mới cần người làm chứng. Trong vụ án này, mẹ của hai bên đương sự đã nghe đọc lại bản di chúc và điểm chỉ trước sự chứng kiến của công chứng viên, công chứng viên cũng đã xác nhận điều này nên bản di chúc hợp pháp, có giá trị thực thi.

Sau công văn trả lời khiếu nại khá rõ của Tòa Dân sự TAND Tối cao, Chi cục Thi hành án Dân sự TP Đà Lạt đã chuẩn bị lên kế hoạch thi hành án theo yêu cầu nhưng bất ngờ vào phút cuối, ngày 25-3-2011 (tức còn sáu ngày nữa là hết hạn ba năm kháng nghị giám đốc thẩm), Phó Chánh án TAND Tối cao Từ Văn Nhũ đã ký quyết định kháng nghị, đề nghị Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao xử hủy cả hai bản án, trả hồ sơ cho cấp sơ thẩm xét xử lại từ đầu bởi tờ di chúc trên không có người làm chứng nên không hợp pháp. Cạnh đó, hai cấp tòa cần phải xác minh rõ bà Nhơn có chăm sóc mẹ chu đáo và thờ cúng sau khi chết như trong bản di chúc hay không.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT: HƯỚNG DẪN “CHỎI” NHAU, THẨM PHÁN LÚNG TÚNG

HOÀNG YẾN

Nếu làm theo hướng dẫn của TAND TP.HCM, có khả năng cách giải quyết của các tòa ở TP sẽ trái ngược với các tòa ở những tỉnh, thành khác.

Hiện nay, những vụ tranh chấp hợp đồng vay không tính lãi, có thời hạn xuất hiện thường xuyên tại TP.HCM nhưng hướng dẫn về việc có tính lãi suất chậm trả hay không giữa TAND Tối cao và TAND TP lại “chỏi” nhau khiến các thẩm phán rất lúng túng…

Tháng 6-2010, ông NTS khởi kiện bà NTKN ra TAND quận 11 (TP.HCM). Theo đơn kiện, ngày 20-7-2009, ông S. có cho bà N. vay 100 triệu đồng không tính lãi trong thời hạn ba tháng. Bà N. có lập giấy vay tiền cùng cam kết sẽ trả nợ đầy đủ cho ông vào ngày 20-10-2009. Đến hạn, bà N. không trả. Đợi mãi, ông S. buộc phải khởi kiện bà N. để đòi lại số nợ gốc cùng tiền lãi tính từ ngày bà N. quá hạn trả nợ.

Tòa: Phải trả lãi

Thụ lý, TAND quận 11 nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho bà N. thông báo về vụ kiện nhưng bà N. không phản hồi và cố tình vắng mặt. Vì thế, ngày 21-2-2011, tòa đã đưa vụ kiện ra xét xử vắng mặt bà N.

Tại phiên xử, tòa căn cứ vào giấy vay tiền mà bà N. đã lập cùng cam kết thanh toán sau ba tháng để xác định bà N. có vay của ông S. 100 triệu đồng. Đây là hợp đồng vay có thời hạn và không lãi suất. Đến hạn thanh toán, bà N. không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Tòa căn cứ vào khoản 2 Điều 305 Bộ luật Dân sự quy định bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi với số tiền chậm trả theo mức lãi suất Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán (hiện là 9%/năm). Vì thế tòa buộc bà N. trả 100 triệu đồng nợ gốc cho nguyên đơn và 12 triệu đồng tiền lãi tính trên 16 tháng chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Bà N. phải thanh toán nợ một lần cho ông S.

Ngoài vụ kiện trên, bà N. còn là bị đơn trong một vụ tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông TVK. Theo hồ sơ, ngày 6-8-2009, ông K. cho bà N. vay 100 triệu đồng không tính lãi với thời hạn ba tháng. Bà N. có lập bản giao kèo mượn tiền và cam kết trả sau ba tháng. Đến hạn, bà cũng không thanh toán. Tháng 6-2010, ông K. cũng nộp đơn đến TAND quận 11 khởi kiện bà N. để đòi lại số nợ gốc cùng tiền lãi tính từ ngày bà N. chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Continue reading