MỘT SỐ KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT CỦA CỘNG HÒA PHÁP LIÊN QUAN ĐẾN CẤU TRÚC BỘ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ SỞ HỮU

NHÀ PHÁP LUẬT VIỆT – PHÁP

Nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005, ngày 12 và 13 tháng 5 năm 2011, Nhà Pháp luật Việt – Pháp đã phối hợp với Vụ Pháp luật Dân sự – Kinh tế tổ chức tọa đàm về cấu trúc Bộ luật Dân sự, tài sản và sở hữu trong BLDS với sự tham gia của các chuyên gia Cộng hòa Pháp. Dưới đây là tổng hợp một số nội dung trao đổi tại tọa đàm trên cơ sở kinh nghiệm của Bộ luật Dân sự Pháp.

Về dự kiến cấu trúc BLDS Việt Nam sửa đổi, về cơ bản, các chuyên gia Pháp cho rằng cấu trúc này là hợp lý, rõ ràng và tiến bộ. Tuy nhiên, có một số điểm cần tiếp tục nghiên cứu, cân nhắc. BLDS Pháp được cơ cấu thành các phần là người, tài sản, các phương thức xác lập quyền sở hữu và các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Cấu trúc này bền vững với thời gian và cho phép tiếp nhận mọi sự thay đổi về nội dung của các phần. Theo quan điểm của Pháp, chế định hôn nhân và gia đình cần phải được quy định trong BLDS vì đây là lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sống hàng ngày của người dân. Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho rằng đó là sự lựa chọn riêng của mỗi quốc gia phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của mình. Ngoài ra, BLDS Pháp có một phần riêng về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, cả các biện pháp bảo đảm đối nhân và bảo đảm đối vật, điều này rất thuận tiện cho việc tra cứu. Trong khi đó, trong BLDS của Đức, vấn đề này được quy định ở cả hai phần vật quyền và trái quyền – dự kiến cấu trúc BLDS VN sửa đổi cũng đi theo hướng này.   

Về phần quy định chung, liên quan đến pháp nhân, chuyên gia cho rằng nên có sự phân biệt giữa pháp nhân là một tập hợp người và pháp nhân là tập hợp tài sản (ví dụ các quỹ). Về vấn đề đại diện, trong phần quy định chung, đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền được quy định với tư cách chủ thể còn căn cứ đại diện thì được quy định trong phần trái vụ. Các chuyên gia lưu ý việc tách biệt này có thể làm nảy sinh khó khăn vì trong một số hệ thống pháp luật, có trường hợp một người không có năng lực hành vi có thể ký thỏa thuận để tổ chức thực hiện việc bảo hộ đối với mình.  

Về vấn đề tài sản, BLDS Pháp hiện không có định nghĩa về tài sản nhưng dự án cải cách hiện nay đề xuất đưa ra định nghĩa về tài sản như sau : «Tài sản là vật hữu hình hoặc vô hình được sở hữu hoặc là quyền đối vật hoặc quyền đối nhân». Pháp luật Pháp không có khái niệm «tài sản ảo» mà chỉ có các khái niệm như «tài sản hình thành trong tương lai», «tài sản vô hình». Theo các chuyên gia, cần phải làm rõ hơn nữa nội dung của khái niệm này và cân nhắc có thực sự cần thiết đưa khái niệm này vào BLDS không.

Continue reading

CÔNG HAY TƯ?

HUỲNH THẾ DU

Điểm khác nhau giữa thu nhập 30 triệu và thu nhập 3 triệu là gì? Nói chung, người có thu nhập 30 triệu biết chắc rằng giá trị gia tăng mà họ làm ra sẽ hơn 30 triệu đồng, còn khó có thể biết giá trị gia tăng của người có thu nhập 3 triệu cao hơn bao nhiêu so với thu nhập của họ.

Trong thời bao cấp, sẽ bị xem là có vấn đề nếu đặt câu hỏi nên chọn khu vực công hay khu vực tư để làm việc vì chỉ có kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể được công nhận chính thức. Hơn thế, mọi quyền lợi tiêu chuẩn đều gắn với một chỗ làm trong khu vực công. Làm việc trong khu vực công được đồng nhất với sự ổn định và có tương lai. Tư tưởng này hiện vẫn còn tồn tại ở một số người, nhất là những nơi mà các quan hệ thị trường chưa thực sự đi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống. Tuy nhiên, theo thời gian, tư tưởng trên đã thay đổi ở rất nhiều. Hơn thế, hiện đang có không ít người (kể cả những người ở vị trí khá cao) rời Nhà nước để làm việc cho khu vực kinh doanh hay nhiều người sau khi học xong ở nước ngoài không muốn trở về nước làm việc.

Tại sao vậy?

Nhiều người lên tiếng chỉ trích những người bỏ công làm cho tư chỉ vì tiền, không vì cái chung và không có tinh thần yêu nước. Do vậy, giải pháp là cần phải tăng cường giáo dục tinh thần yêu nước và yêu nghề để con người bớt vị kỷ hơn. Ở đây có hai điều nên bàn về cách tiếp cận này.

Thứ nhất, khoa học hành vi chỉ ra rằng, vị kỷ thuộc về vấn đề bản chất của con người. Ai không vì lợi ích cá nhân, không ích kỷ thì người đó sẽ là thánh. Trên thực tế, số người được coi là thánh rất ít. Hầu hết mọi người khi đi làm chỉ mong muốn hai điều, đó là thu nhập cao và cơ hội thăng tiến. Nói rộng ra một chút là hầu hết mọi người tồn tại trên cõi đời này đều mong muốn có một cuộc sống sung túc và được xã hội công nhận hay tôn vinh. Việc lựa chọn hay quyết định làm việc ở đâu đó phụ thuộc vào công thức:

Việc làm = Thu nhập + Cơ hội thăng tiến

Điểm khác nhau giữa thu nhập 30 triệu và thu nhập 3 triệu là gì? Nói chung, người có thu nhập 30 triệu biết chắc rằng giá trị gia tăng mà họ làm ra sẽ hơn 30 triệu đồng, còn khó có thể biết giá trị gia tăng của người có thu nhập 3 triệu cao hơn bao nhiêu so với thu nhập của họ.

Continue reading

GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

TẠ VĂN TÀI

Viết về đề tài trên theo lời yêu cầu, chúng tôi xin trình bày vài bước đi trong lộ trình đi tìm cách giải quyết – tức là các giải pháp trung gian – rồi sau đó tiến đến các giải pháp pháp lý để giải quyết, trong hoà bình, vấn đề cốt lõi sau cùng là tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và các nước khác về các quần đảo, tài nguyên dầu khí, ngư nghiệp, và thềm lục địa tại Biển Đông và về vấn đề tự do lưu thông hàng hải và khai thác tài nguyên ngoài biển. 

Vấn đề chủ quyền các tài nguyên trên liên quan đến các quyền lợi mà các quốc gia liên hệ tại Á châu, và các dân tộc của họ, không thể từ bỏ dễ dàng – vì chẳng khác gì có kẻ cướp vào nhà đòi lấy tài sản và vợ mình mà mình chịu để yên. Các cường quốc ở xa như Hoa Kỳ (qua lời ngoại trưỏng Clinton) cũng đã phải tuyên bố gần đây là vấn đề Biển Đông (trong đó Mỹ chú trọng đến lưu thông hàng hải và khai thác dầu khí) là nằm trong quyến lợi quốc gia (national interest) của Mỹ, sau khi thấy Trung Quốc tuyên bố và hành động theo kiểu muốn làm bá quyền tại Biển Đông. Ngay cả Việt Nam, sau nhiều năm cố gắng nhẫn nhịn thái độ hung hăng của Trung Quốc vì hy vọng vào 16 chữ vàng (đến chỗ dẹp cả biểu tình của thanh niên yêu nước chống Trung Quốc – Trần Mạnh Hảo, nhà thơ, đã than giùm họ: "tôi yêu nước mà sao tôi bị bắt!"), thì nay cũng đã tìm lối thoát sự đè nén, bắt nạt của Trung Quốc mà nhiều năm qua họ đã thể hiện qua các hành vi quân sự, như chiếm đảo 1988, hay áp đảo tâm lý, như đe dọa các hãng dầu có khế ước khai thác tại vùng biển Việt Nam, đơn phuơng cấm dân chài Việt Nam đánh cá và bắt giữ họ đòi tiền chuộc, vẽ đường chữ U (Lưỡi Bò) nhận vơ 80% Biển Đông, phản đổi Việt Nam cùng Mã Lai xác định chung trong một hồ sơ tại Liên Hiệp Quốc về thềm lục địa nối dài. Việt Nam tìm lối thoát khi tạo đưọc một "cú" ngọan mục vào lúc làm chủ toạ hội nghị ASEAN tại Hà Nội vào tháng 7, 2010 và lôi kéo được 12 nước ASEAN yêu cầu Hoa Kỳ xác định lập trường quyền lợi quốc gia của Mỹ tại Biển Đông, mời tàu chiến Mỹ đi ra đi vô Việt Nam, và đang chuẩn bị xây dựng thể chế hợp tác chặt chẽ hơn với các nước khác, trong đó có Mỹ, trong chính sách ngoại giao đa phương, đưa vào việc nghị trình bản thảo Bá Cáo Chính Trị trong Đại Hội Đảng 2011.        

Chúng tôi xét theo quan điểm dân tộc Việt Nam để đưa ra mấy đề nghị sau đây – và nếu chúng tôi nói tới quyền lợi của các quốc gia khác ở Á Châu chung quanh Biển Đông (Trung Quốc, Đài Loan, Phi luật Tân, Mã Lai, Brunei, Nam Dương, Singapore) hay các quốc gia dùng đường hàng hải hay có quyền lợi kinh tế hay an ninh ở Biển Đông (Mỹ, Nhật, Đại Hàn, Ấn, Nga) thì cũng là nói tới gián tiếp thôi.

Xin đề nghị 3 loại giải pháp: củng cố nội lực, ngoại giao đa phương và vận dụng luật pháp quốc tế.

1.  Tuân theo ý nguyện của nhân dân để có nội lực chính trị và quân sự nhằm đối phó với áp lực của Trung Quốc.

Chính Trung Quốc, về mặt chính thức qua thông cáo của Bộ Ngoại Giao  thì vẫn nói gịong ôn hòa (thí dụ gần đây chỉ nói về biển đảo mà không nói gì về đường Lưỡi Bò nữa), nhưng về dư luận nội địa thì  lại  thả lỏng cho  dân chúng, qua báo chí, Internet, hay các bài của các học giả giáo sư bàn về Biển Đông, nói và viết với giọng bá quyền và đe dọa chiến tranh với Việt Nam, có lẽ với mục đích để cho một số lãnh đạo Việt Nam sợ mà không đẩy mạnh củng cố quân lực hay ngoại giao đa phuơng, nhằm phản ứng kịp thời khi Trung Quốc thình lình đánh úp vài hải đảo, theo lối tầm ăn rỗi.

Continue reading

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU LỰC VÀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀNG

TS. NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG – Tổng biên tập Tạp chí Ngân Hàng

Hai năm trở lại đây, chủ yếu do những bất ổn của tài chính tiền tệ thế giới, giá vàng thế giới có sự biến động tăng/giảm với biên độ lớn. Tại Việt Nam, có thêm nguyên nhân là tâm lý của người dân bị tác động quá mức; môi trường kinh tế vĩ mô chưa thật ổn định, tỷ lệ lạm phát còn cao. Giá vàng trong nước biến động với biên độ khá lớn, và có những biến động thất thường gây tâm lý bất ổn cho người dân, ảnh hưởng đến sự ổn định của nền kinh tế, làm nhiều người dân thiệt hại khi chạy theo giá vàng… Trong năm 2010, đã có một số giải pháp quản lý đưa ra, thậm chí giải pháp quyết liệt như đóng cửa sàn giao dịch vàng, ban hành Thông tư 22/TT-NHNN về quản lý huy động và cho vay bằng vàng đối với tổ chức tín dụng, theo hướng thu hẹp đối tượng và hoạt động kinh doanh; nâng cao mức thuế suất từ 0% lên 10% đối với xuất khẩu vàng có hàm lượng cao. Tuy nhiên, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh vàng vẫn chưa thật cao khi mà thị trường vàng còn nằm ngoài sự kiểm soát, điều tiết của Nhà nước hoặc có khả năng tạo ra những “cơn sóng” biến động giá bất thường. Do vậy, có nhiều giải pháp quản lý tiếp tục được đề xuất… Bài viết sau đây, tác giả xin được trao đổi xung quanh vấn đề này.

Vai trò của vàng

Trong lịch sử phát triển của tiền tệ, hơn bất kỳ loại hàng hóa nào, do tính chất vật lý bền vững, vàng là một loại tiền tệ được chấp nhận rộng rãi trong xã hội loài người qua quá trình lịch sử lâu dài, từ vài nghìn năm trước công nguyên đến năm 1971 khi Mỹ bỏ chế độ chuyển đổi USD ra vàng.

Khi chế độ kim bản vị sụp đổ, các nước lần lượt thực hiện chế độ tiền giấy bất khả hoán (tiền giấy không được phép đổi ra vàng, bạc). Thực chất của chế độ tiền giấy bất khả hoán là chế độ tiền tệ lấy hàng hóa làm bản vị, trong đó giá trị một đơn vị tiền tệ quy chuẩn được xác định bằng tổng giá trị của khối lượng hàng hóa của quốc gia/số lượng đơn vị tiền giấy phát hành. Trên cơ sở đó, giá trị của đồng tiền của một quốc gia được xác định thông qua sức mua hàng hóa của đơn vị tiền tệ, không phụ thuộc vào khối lượng vàng do nhà nước đang sở hữu.

Với chế độ tiền giấy bất khả hoán, trong đời sống xã hội hàng ngày, vàng không còn có chức năng thước đo giá trị, phương tiện thanh toán, tiền tệ thế giới. Mặc dù vậy, vai trò tiền tệ của vàng không hoàn toàn mất đi, đặc biệt là chức năng cất trữ giá trị và tiền tệ quốc tế.

Ngày nay tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, người dân có nhu cầu sở hữu, nắm giữ vàng do tập quán, thói quen sử dụng vàng làm phương tiện cất trữ giá trị và nhu cầu sử dụng vàng làm đồ trang sức. Riêng nhu cầu sử dụng vàng làm phương tiện cất giữ tài sản của người dân phụ thuộc chủ yếu vào những lợi ích họ thu được so với các phương tiện cất trữ tài sản hoặc đầu tư khác, và do đó, phần nào phụ thuộc vào sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô. Bên cạnh đó, sản xuất và kinh doanh đồ trang sức mỹ nghệ bằng vàng là một nghề truyền thống, có từ lâu đời và vẫn được duy trì, phát triển trong đời sống xã hội hiện đại. Tại Việt Nam, có hàng nghìn doanh nghiệp hoạt động kinh doanh vàng trong cả nước, riêng thành phố Hồ Chí Minh có hơn 1.000 doanh nghiệp.

Continue reading

GIẢI QUYẾT BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI ADHOC Ở VIỆT NAM–THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

THS. PHAN THÔNG ANH – Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, NCS Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

Tuy phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại bằng trọng tài có nhiều ưu điểm và được doanh nghiệp các nước áp dụng phổ biến, nhưng các doanh nghiệp Việt Nam thì còn ít dùng đến phương thức này bởi nhiều lý do. Còn đối với phương thức trọng tài vụ việc (ad hoc), hầu như các doanh nghiệp nước ta bị thụ động khi phía doanh nghiệp nước ngoài ép phải lựa chọn, và vì muốn thực hiện được hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ nên phía Việt Nam phải chấp nhận thỏa thuận điều khoản trọng tài vụ việc1. Thông qua một vụ kiện trọng tài vụ việc (ad hoc) đầu tiên, bài viết tìm hiểu những giới hạn, khiếm khuyết của pháp luật trọng tài đối với trọng tài vụ việc (ad hoc).

1. Nội dung tranh chấp của vụ kiện

Ngày 08/10/2007, Công ty A (A) và Công ty B (B) ký hợp đồng số 888/GLC về việc giao nhận thầu xây dựng hồ bơi thuộc dự án Khách sạn 5 sao Việt Nam tại tỉnh Q. Theo hợp đồng, A có trách nhiệm thực hiện xây dựng hồ bơi và trên thực tế, nhà thầu đã hoàn thành mọi công việc của mình theo quy định của hợp đồng giao nhận thầu số 888/GLC và tiến hành bàn giao đưa công trình vào sử dụng ngày 26/4/2008.

Các bên cũng thống nhất rằng, A là đơn vị chịu trách nhiệm bảo hành công trình theo hợp đồng, thời gian bảo hành sẽ bắt đầu từ ngày 27/04/2008, kéo dài trong 365 ngày tiếp theo.

Trong suốt thời gian bảo hành, A đã nhiều lần tiến hành sửa chữa, khắc phục các sai sót của công trình theo đúng yêu cầu, với giải pháp kỹ thuật được thống nhất giữa các bên và được các kỹ sư của B chứng nhận là đã hoàn thành công việc theo yêu cầu.

Thời gian bảo hành kết thúc, theo đúng thỏa thuận của các bên về điều khoản bảo hành, A đã nhiều lần gửi thư yêu cầu thanh toán chi phí bảo hành với số tiền là 200.000.000 đồng. Dù vậy, với nhiều lý do khác nhau, qua nhiều lần đàm phán, B vẫn từ chối thanh toán dứt điểm số tiền này.

Yêu cầu của nguyên đơn:

– Buộc B thanh toán dứt điểm cho A số tiền bảo hành là 200.000.000 đồng.

– Buộc B thanh toán cho A khoản tiền lãi do chậm thanh toán kể từ ngày 29/4/2009 trở về sau.

Quan điểm của bị đơn:

Theo “Bài bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp” ngày 10/8/2010 gửi cho Hội đồng Trọng tài, B trình bày quan điểm của mình như sau:

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1714/TCT-DNL NGÀY 19 THÁNG 05 NĂM 2011 CỦA TỔNG CỤC THUẾ, BỘ TÀI CHÍNH VỀ XÁC ĐỊNH CÁC KHOẢN THU NHẬP

Kính gửi:

Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa.

Trả lời công văn số 1695/CT-TTHT ngày 29/3/2011 của Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa về việc xác định thu nhập. Về vấn đề này, sau khi xin ý kiến của Vụ Pháp chế, Vụ Chính sách Thuế (BTC) và báo cáo Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Theo quy định tại điểm 2.1 mục I phần H Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 và hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ; quy định tại điểm 1.1 công văn số 7250/BTC-TCT ngày 7/6/2010 của Bộ Tài chính gửi Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về việc một số nội dung cần lưu ý khi quyết toán thuế TNDN năm 2009 thì:

1. Trong thời gian đang ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp nếu doanh nghiệp thực hiện nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh thì doanh nghiệp phải hạch toán riêng thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (bao gồm mức thuế suất ưu đãi hoặc miễn, giảm thuế).

2. Trong năm tính thuế, doanh nghiệp có phát sinh thu từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật và chi phí trả lãi tiền vay theo quy định thì thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn được xác định như sau:

– Trường hợp khoản thu từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn phát sinh cao hơn khoản chi phí trả lãi tiền vay theo quy định, sau khi bù trừ phần chênh lệch còn lại tính vào thu nhập khác để tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định.

– Trường hợp khoản thu từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn phát sinh thấp hơn khoản chi phí trả lãi tiền vay theo quy định, sau khi bù trừ phần chênh lệch còn lại tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế.

Căn cứ các quy định trên, trong năm doanh nghiệp có khoản thu từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn theo quy định của pháp luật phát sinh thấp hơn khoản chi phí trả lãi tiền vay theo quy định, sau khi bù trừ phần chênh lệch còn lại tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Trong trường hợp doanh nghiệp không hạch toán riêng được khoản chi phí này vào chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp hay chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh không được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp thì thực hiện phân bổ để hạch toán vào cả chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh không được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo tỷ lệ doanh thu. Không phân bổ chi phí này cho doanh thu từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 38/2011/NĐ-CP NGÀY 26 THÁNG 05 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 181/2004/NĐ-CP NGÀY 29 THÁNG 10 NĂM 2004, NGHỊ ĐỊNH SỐ 149/2004/NĐ-CP NGÀY 27 THÁNG 7 NĂM 2004 VÀ NGHỊ ĐỊNH SỐ 160/2005/NĐ-CP NGÀY 27 THÁNG 12 NĂM 2005

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Tài nguyên nước ngày 20 tháng 5 năm 1998;
Căn cứ Luật Khoáng sản ngày 20 tháng 3 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường,

NGHỊ ĐỊNH

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Điều 123 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai như sau:

“Điều 123. Trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân

1. Việc giao đất trồng cây hàng năm, đất làm muối cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, làm muối được thực hiện theo quy định sau:

a) Hộ gia đình, cá nhân nộp đơn đề nghị giao đất, thuê đất tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi có đất; trong đơn phải ghi rõ yêu cầu về diện tích đất sử dụng.

Ủy ban nhân dân cấp xã lập phương án giao đất chung cho tất cả các trường hợp được giao đất tại địa phương; lập Hội đồng tư vấn giao đất của địa phương gồm có Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân là Chủ tịch Hội đồng; các thành viên gồm đại diện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại diện của Hội Nông dân, trưởng các điểm dân cư thuộc địa phương và cán bộ địa chính (sau đây gọi là Hội đồng tư vấn giao đất) để xem xét và đề xuất ý kiến đối với các trường hợp được giao đất.

b) Căn cứ vào ý kiến của Hội đồng tư vấn giao đất, Ủy ban nhân dân cấp xã hoàn chỉnh phương án giao đất, niêm yết công khai danh sách các trường hợp được giao đất tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã trong thời hạn bảy (07) ngày làm việc và tổ chức tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân, công khai ý kiến phản hồi tại nơi đã niêm yết danh sách; hoàn chỉnh phương án giao đất trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua trước khi gửi đến Phòng Tài nguyên và Môi trường để thẩm định và trình Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện) xét duyệt.

Continue reading

ÁN LỆ TRONG HỆ THỐNG TÒA ÁN AUSTRALIA, lựa chọn nào cho Việt Nam trong việc phát triển án lệ

LÊ MẠNH HÙNG

I. Bối cảnh

Hệ thống Tòa án của Australia được tổ chức thành hệ thống Liên Bang và tiểu bang. Ở cấp Liên bang, hệ thống Tòa án bao gồm Tòa án tối cao Liên Bang, Tòa án Liên Bang, Tòa án gia đình và Tòa án sơ thẩm Liên Bang. Ở cấp tiểu bang, hệ thống tòa án tiểu bang bao gồm Tòa án tối cao, Tòa phúc thẩm, Tòa án quận hạt và Tòa án sơ thẩm. Trong hoạt động xét xử, án lệ được mô tả như là đặc trưng, nền tảng của hệ thống Tòa án của hệ thống thông luật nói chung, là xương sống của hệ thống Tòa án Australia và là cách thức để luật sư Australia sử dụng để giải quyết những vấn đề liên quan đến luật pháp nói riêng.

Những quan điểm ủng hộ học thuyết án lệ cho rằng tính nhất quán, tính ổn định và có thể dự đoán của án lệ là rất quan trọng cho việc duy trì sự độc lập của của hệ thống luật pháp và sự khách quan của hệ thống Tòa án của các nước theo hệ thống pháp luật thông luật (Common Law system) trong việc thực hiện chức năng xét xử.
Đối với Việt Nam, cụ thể hơn là trong hoạt động xét xử của Tòa án, án lệ chưa được chính thức thừa nhận như là một nguồn của pháp luật để có thể xác lập và áp dụng. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng trong thực tiễn xét xử của Tòa án, nếu nhìn nhận án lệ với hình thức là sự hướng dẫn áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao, thì án lệ đã và đang tồn tại và phát triển và có những đóng góp rất quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp, bảo đảm pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước. Vấn đề “phát triển án lệ” đã được xác định là một trong những nội dung định hướng cải cách tư pháp trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Hiện nay, việc triển khai thực hiện nội dung này đã có những bước phát triển mới khi Tòa án nhân dân tối cao đang tiến hành nghiên cứu học thuyết án lệ của các nước theo hệ thống pháp luật thông luật (Common Law system) và án lệ của các nước khác, các xu hướng phát triển của học thuyết án lệ trên thế giới, thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án Việt Nam dưới góc độ án lệ để từ đó đưa ra các phương hướng cách thức cụ thể để tiếp cận, rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt nam trong việc “phát triển án lệ”. Trong bối cảnh đó, để việc nghiên cứu án lệ của Tòa án nhân dân tối cao có thêm sự tham khảo, bài viết này cố gắng khái quát những nét cơ bản về án lệ của Tòa án các nước thuộc hệ thống pháp luật thông luật; việc xác lập, áp dụng án lệ của các Tòa án Australia; sự ảnh hưởng của hệ thống pháp luật của Vương quốc Anh đối với việc xác lập, áp dụng án lệ trong hệ thống Tòa án Australia và xu hướng phát triển của án lệ Australia. Từ đó, tác giả đưa ra một số nhận xét, đánh giá về việc triển khai thực hiện “phát triển án lệ” của Việt Nam theo định hướng tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị. Đồng thời, trên cơ sở so sánh thực tiễn xác lập, áp dụng nguyên tắc án lệ với tư cách là hoạt động hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án các nước theo hệ thống pháp luật thông luật nói chung, của Tòa án Australia nói riêng với thực tiễn hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án Việt Nam, tác giả tranh luận rằng việc xác lập, áp dụng án lệ đã và đang tồn tại và phát triển trong hoạt động xét xử của Tòa án Việt Nam.

II. Một số nội dung về án lệ của Tòa án

1. Khái niệm

Như đã nói ở trên, không chỉ ở Australia, mà tại các nước thuộc hệ thống thông luật, hệ thống luật pháp đều được xác lập từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó có một nguồn rất quan trọng là án lệ của hệ thống Tòa án. Đây là một đặc điểm quan trọng và là đặc trưng về nền tảng cơ bản của hệ thống thông luật. Trong hệ thống này, án lệ của Tòa án không chỉ đơn thuần là một ví dụ tốt mà nó còn có tính bắt buộc phải tuân theo và phải áp dụng đối với Tòa án. Nguyên tắc này thường được nhắc đến bằng một thuật ngữ Latinh “Stare Decisis”-được diễn giải một cách đơn giản là “tuân thủ các quyết định trước”. Cụ thể hơn, trên thực tế, nguyên tắc này được hiểu là khi xét xử một vụ việc nhất định, Tòa án phải tuân thủ và áp dụng phán quyết đã được ban hành trước đó nếu vụ án đang được xét xử có những tình tiết khách quan quan trọng tương tự như các tình tiết khách quan của vụ án đã được xét xử. Trong trường hợp này, nguyên tắc pháp luật đã được xác lập trong vụ án đã xét xử cũng được áp dụng để giải quyết vụ án đang được xét xử. Việc áp dụng phán quyết đã được ban hành trước đó cho việc xét xử các vụ án hiện tại và trong tương lai có tình tiết khách quan quan trọng tương tự như nhau được gọi là việc áp dụng án lệ.

Continue reading

ÁN LỆ TRONG HỆ THỐNG TÒA ÁN AUSTRALIA. LỰA CHỌN NÀO CHO VIỆT NAM TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN ÁN LỆ?

LÊ MẠNH HÙNG

I. Bối cảnh

Hệ thống Tòa án của Australia được tổ chức thành hệ thống Liên Bang và tiểu bang. Ở cấp Liên bang, hệ thống Tòa án bao gồm Tòa án tối cao Liên Bang, Tòa án Liên Bang, Tòa án gia đình và Tòa án sơ thẩm Liên Bang. Ở cấp tiểu bang, hệ thống tòa án tiểu bang bao gồm Tòa án tối cao, Tòa phúc thẩm, Tòa án quận hạt và Tòa án sơ thẩm. Trong hoạt động xét xử, án lệ được mô tả như là đặc trưng, nền tảng của hệ thống Tòa án của hệ thống thông luật nói chung, là xương sống của hệ thống Tòa án Australia và là cách thức để luật sư Australia sử dụng để giải quyết những vấn đề liên quan đến luật pháp nói riêng.

Những quan điểm ủng hộ học thuyết án lệ cho rằng tính nhất quán, tính ổn định và có thể dự đoán của án lệ là rất quan trọng cho việc duy trì sự độc lập của của hệ thống luật pháp và sự khách quan của hệ thống Tòa án của các nước theo hệ thống pháp luật thông luật (Common Law system) trong việc thực hiện chức năng xét xử.
Đối với Việt Nam, cụ thể hơn là trong hoạt động xét xử của Tòa án, án lệ chưa được chính thức thừa nhận như là một nguồn của pháp luật để có thể xác lập và áp dụng. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng trong thực tiễn xét xử của Tòa án, nếu nhìn nhận án lệ với hình thức là sự hướng dẫn áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao, thì án lệ đã và đang tồn tại và phát triển và có những đóng góp rất quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp, bảo đảm pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước. Vấn đề “phát triển án lệ” đã được xác định là một trong những nội dung định hướng cải cách tư pháp trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Hiện nay, việc triển khai thực hiện nội dung này đã có những bước phát triển mới khi Tòa án nhân dân tối cao đang tiến hành nghiên cứu học thuyết án lệ của các nước theo hệ thống pháp luật thông luật (Common Law system) và án lệ của các nước khác, các xu hướng phát triển của học thuyết án lệ trên thế giới, thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án Việt Nam dưới góc độ án lệ để từ đó đưa ra các phương hướng cách thức cụ thể để tiếp cận, rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt nam trong việc “phát triển án lệ”. Trong bối cảnh đó, để việc nghiên cứu án lệ của Tòa án nhân dân tối cao có thêm sự tham khảo, bài viết này cố gắng khái quát những nét cơ bản về án lệ của Tòa án các nước thuộc hệ thống pháp luật thông luật; việc xác lập, áp dụng án lệ của các Tòa án Australia; sự ảnh hưởng của hệ thống pháp luật của Vương quốc Anh đối với việc xác lập, áp dụng án lệ trong hệ thống Tòa án Australia và xu hướng phát triển của án lệ Australia. Từ đó, tác giả đưa ra một số nhận xét, đánh giá về việc triển khai thực hiện “phát triển án lệ” của Việt Nam theo định hướng tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị. Đồng thời, trên cơ sở so sánh thực tiễn xác lập, áp dụng nguyên tắc án lệ với tư cách là hoạt động hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án các nước theo hệ thống pháp luật thông luật nói chung, của Tòa án Australia nói riêng với thực tiễn hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án Việt Nam, tác giả tranh luận rằng việc xác lập, áp dụng án lệ đã và đang tồn tại và phát triển trong hoạt động xét xử của Tòa án Việt Nam.

II. Một số nội dung về án lệ của Tòa án

1. Khái niệm

Như đã nói ở trên, không chỉ ở Australia, mà tại các nước thuộc hệ thống thông luật, hệ thống luật pháp đều được xác lập từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó có một nguồn rất quan trọng là án lệ của hệ thống Tòa án. Đây là một đặc điểm quan trọng và là đặc trưng về nền tảng cơ bản của hệ thống thông luật. Trong hệ thống này, án lệ của Tòa án không chỉ đơn thuần là một ví dụ tốt mà nó còn có tính bắt buộc phải tuân theo và phải áp dụng đối với Tòa án. Nguyên tắc này thường được nhắc đến bằng một thuật ngữ Latinh “Stare Decisis”-được diễn giải một cách đơn giản là “tuân thủ các quyết định trước”. Cụ thể hơn, trên thực tế, nguyên tắc này được hiểu là khi xét xử một vụ việc nhất định, Tòa án phải tuân thủ và áp dụng phán quyết đã được ban hành trước đó nếu vụ án đang được xét xử có những tình tiết khách quan quan trọng tương tự như các tình tiết khách quan của vụ án đã được xét xử. Trong trường hợp này, nguyên tắc pháp luật đã được xác lập trong vụ án đã xét xử cũng được áp dụng để giải quyết vụ án đang được xét xử. Việc áp dụng phán quyết đã được ban hành trước đó cho việc xét xử các vụ án hiện tại và trong tương lai có tình tiết khách quan quan trọng tương tự như nhau được gọi là việc áp dụng án lệ.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 16/2011/TT-BLĐTBXH NGÀY 19 THÁNG 05 NĂM 2011 CỦA BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ PHỤ CẤP ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀM VIỆC TẠI ĐỊA BÀN TRƯỜNG SA VÀ DKI

Căn cứ Nghị định số 186/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội;
Căn cứ Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức và lực lượng vũ trang;
Căn cứ Nghị định số 205/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ quy định hệ thống thang lương, bảng lương và chế độ phụ cấp lương trong các công ty nhà nước;
Thực hiện văn bản số 1633/VPCP-KGVX ngày 18 tháng 3 năm 2011 của Văn phòng Chính phủ, sau khi có ý kiến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài chính, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp đặc biệt đối với người lao động trực tiếp làm việc tại địa bàn Trường Sa và DKI như sau:

Điều 1. Phạm vi và đối tượng áp dụng

Thông tư này hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp đặc biệt đối với thuyền viên, công nhân viên làm việc trên các tàu hoạt động công ích và người lao động trực tiếp làm việc tại các đảo ở vùng biển Trường Sa – DKI và đảo Đá Tây (sau đây gọi chung là người lao động) của Công ty TNHH một thành viên Dịch vụ khai thác Hải sản Biển Đông thuộc Tổng công ty Thủy sản Việt Nam theo kế hoạch được Nhà nước giao hàng năm.

Điều 2. Mức phụ cấp và cách tính trả

1. Mức phụ cấp

Người lao động quy định tại Điều 1 của Thông tư này được hưởng mức phụ cấp đặc biệt bằng 100% so với hệ số mức lương hiện hưởng và hệ số phụ cấp giữ chức vụ trưởng phòng, phó trưởng phòng hoặc tương đương theo hạng công ty được xếp (nếu có) theo các thang lương, bảng lương ban hành kèm theo Nghị định số 205/2004/NĐ-CP nêu trên.

2. Phụ cấp đặc biệt được tính vào quỹ lương kế hoạch hàng năm để trả cho người lao động nhưng không dùng để tính đóng, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.

3. Cách tính trả

Phụ cấp đặc biệt được tính cho những ngày thực tế làm việc của người lao động tại địa bàn Trường Sa – DKI và đảo Đá Tây và được trả cùng kỳ lương hàng tháng, cụ thể:

Presentation1

Trong đó:

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 34/2011/NĐ-CP NGÀY 17 THÁNG 05 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH VỀ XỬ LÝ KỶ LUẬT ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Cán bộ, công chức ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

NGHỊ ĐỊNH

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Nghị định này quy định về thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật; việc áp dụng hình thức kỷ luật; thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật đối với công chức có hành vi vi phạm pháp luật.

2. Nghị định này áp dụng đối với công chức quy định tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ quy định những người là công chức.

Điều 2. Nguyên tắc xử lý kỷ luật

1. Khách quan, công bằng; nghiêm minh, đúng pháp luật.

2. Mỗi hành vi vi phạm pháp luật chỉ bị xử lý một hình thức kỷ luật. Nếu công chức có nhiều hành vi vi phạm pháp luật thì bị xử lý kỷ luật về từng hành vi vi phạm và chịu hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức kỷ luật áp dụng đối với hành vi vi phạm nặng nhất, trừ trường hợp có hành vi vi phạm phải xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc.

3. Trường hợp công chức tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian đang thi hành quyết định kỷ luật thì bị áp dụng hình thức kỷ luật như sau:

a) Nếu có hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý kỷ luật ở hình thức nhẹ hơn hoặc bằng so với hình thức kỷ luật đang thi hành thì áp dụng hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức kỷ luật đang thi hành;

b) Nếu có hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý kỷ luật ở hình thức nặng hơn so với hình thức kỷ luật đang thi hành thì áp dụng hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức kỷ luật áp dụng đối với hành vi vi phạm pháp luật mới.

Quyết định kỷ luật đang thi hành chấm dứt hiệu lực kể từ thời điểm quyết định kỷ luật đối với hành vi vi phạm pháp luật mới có hiệu lực.

4. Thái độ tiếp thu, sửa chữa và chủ động khắc phục hậu quả của công chức có hành vi vi phạm pháp luật là yếu tố xem xét tăng nặng hoặc giảm nhẹ khi áp dụng hình thức kỷ luật.

5. Thời gian chưa xem xét xử lý kỷ luật đối với công chức trong các trường hợp quy định tại Điều 4 Nghị định này không tính vào thời hạn xử lý kỷ luật.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 65/2011/TT-BTC NGÀY 16 THÁNG 6 NĂM 2011 CỦA BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN HỖ TRỢ LÃI SUẤT VAY VỐN VÀ CẤP BÙ CHÊNH LỆCH LÃI SUẤT DO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NHẰM GIẢM TỔN THẤT SAU THU HOẠCH ĐỐI VỚI NÔNG SẢN, THỦY SẢN

Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Căn cứ Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản;
Bộ Tài chính hướng dẫn về hỗ trợ lãi suất vay vốn và cấp bù chênh lệch lãi suất cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam do thực hiện chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản như sau:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng:

Thông tư này hướng dẫn về điều kiện, hồ sơ, thủ tục, quy trình hỗ trợ lãi suất và cấp bù chênh lệch lãi suất cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam khi thực hiện việc cho vay đối với các khoản vay theo quy định tại Điều 1 và Điều 2 Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản (sau đây gọi tắt là Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg).

Điều 2. Điều kiện được ngân sách nhà nước hỗ trợ lãi suất vay vốn hoặc cấp bù chênh lệch lãi suất:

1. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam tổ chức thực hiện cho vay theo quy định tại Điều 1 và Điều 2 Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

2. Các khoản vay được ngân sách nhà nước hỗ trợ lãi suất hoặc cấp bù chênh lệch lãi suất là các khoản vay đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

a) Đúng đối tượng, đúng mục tiêu quy định tại Điều 1 và Điều 2 Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg.

b) Các khoản vay được hỗ trợ lãi suất hoặc cấp bù chênh lệch lãi suất là các khoản vay trả nợ trước và trong hạn tại thời điểm hỗ trợ lãi suất hoặc cấp bù chênh lệch lãi suất; không thực hiện hỗ trợ lãi suất hoặc cấp bù chênh lệch lãi suất đối với các khoản vay quá hạn.

Điều 3. Mức và nguồn vốn hỗ trợ lãi suất và cấp bù chênh lệch lãi suất:

1. Mức hỗ trợ lãi suất và cấp bù chênh lệch lãi suất:

a) Các khoản vay hỗ trợ lãi suất để mua các loại máy móc, thiết bị quy định tại Khoản 2 Điều 1 Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg được ngân sách nhà nước hỗ trợ 100% lãi suất trong 2 năm đầu và từ năm thứ 3 trở đi, ngân sách nhà nước hỗ trợ 50% lãi suất.

Continue reading

LUẬT DÂN SỰ TRONG HỆ THỐNG LUẬT CÔNG – LUẬT TƯ

TS. NGUYỄN THỊ QUẾ ANH – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tìm hiểu vị trí của luật dân sự trong hệ thống pháp luật là hết sức quan trọng. Xác định một cách đúng đắn vị trí của luật dân sự trong toàn bộ hệ thống pháp luật dân sự giúp chúng ta giải quyết một cách triệt để một số vấn đề lý luận tác động trực tiếp tới hiệu quả điều chỉnh của các quy phạm pháp luật trong luật dân sự. Thực tiễn thi hành Bộ luật dân sự năm 1995 trước đây đã cho thấy: do chưa có một quy định nào xác định, vị trí bai trò của Bộ luật dân sự trong hệ thống pháp luật nên đã tạo ra sự cô lập giữa các quy định của Bộ luật dân sự với các quy định trong lĩnh vực pháp luật khác có liên quan như kinh tế và thương mại. Vấn đề này là một trong những nguyên nhân chủ yếu tạo ra tình trạng thiếu thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, tình trạng tranh chấp về thẩm quyền trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực pháp luật khác nhau.

Trong bài viết này, tác giả xin được đề cập tới một số khía cạnh lý luận của việc phân biệt hệ thống Luật công và Luật tư dưới góc độ như là hệ thống pháp luật “tập quyền” và “phân quyền”, tìm hiểu những yếu tố mang tính ước lệ trong các tiêu chí phân biệt hai hệ thống pháp luật này, phân tích những mặt mạnh và yếu điểm của hai hệ thống, trên cơ sở đó góp phần hình thành những nhận thức đúng đắn về vai trò của luật dân sự trong hệ thống pháp luật.

Thuật ngữ “luật dân sự” hay “luật tư” từ thủa xa xưa đã không xa lạ gì với các nhà nghiên cứu pháp luật. Những luật gia La Mã cổ đại đã đưa ra thuật ngữ này và phân chia toàn bộ hệ thống pháp luật thành hai lĩnh vực: lĩnh vực Luật công (jus publicum) và lĩnh vực Luật tư hay Luật dân sự (jus privatum hay jus civile). Iupian đưa ra nhận định: đối tượng nghiên cứu của chúng ta bao gồm hai phần: Luật công và Luật tư; luật công là những gì liên quan đến địa vị Nhà nước La Mã, Luật tư là luật liên quan tới quyền lợi của từng cá nhân riêng biệt. Như vậy, Iupian đã nhìn thấy tiêu chí phân biệt hai lĩnh vực này chính là sự khác biệt giữa các nhóm lợi được điều chỉnh . Từ đó đến nay sự phân chia này đã thực sự trở thành yếu tố không thể tách rời của khoa học pháp lý và là cơ sở cốt yếu cho việc phân định các hiện tượng pháp lý cả về lý luận và thực tiễn.

Đọc toàn văn bài viết tại đây 

Vai trò của luật sư TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG

THS. LS. NGUYỄN HỮU THẾ TRẠCH – Đoàn Luật sư Thành phố HCM

Xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước luôn là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu trong việc đổi mới hệ thống chính trị của nhà nước ta trong suốt thời gian qua.

Dưới sự chỉ  đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam, nhiều nghị quyết quan trọng về hoàn thiện bộ máy nhà nước đã được thực hiện không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà nước, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng cũng xác định nhiệm vụ chiến lược là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ chiến lược với phương châm Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức và mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật.

Song song với việc cải cách bộ máy nhà nước và cải cách nền hành chính, trong nhiều nghị quyết của Đảng đã đề ra cải cách tư pháp. Cải cách tư pháp luôn được coi là một bộ phận quan trọng gắn liền với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt nam. Mục tiêu của cải cách tư pháp là xây dựng một hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh có phương thức tổ chức, hoạt động khoa học, hiện đại góp phần quan trọng vào việc giữ gìn trật tự kỷ cương phép nước. Nội dung chủ yếu của cải cách tư pháp là củng cố, kiện toàn bộ máy các cơ quan tư pháp, phân định lại thẩm quyền của Toà án, đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp, trong đó có tổ chức luật sư.

Trong hoạt động tư pháp, hoạt động xét xử  được coi là khâu trọng tâm vì  ở đây biểu hiện sự tập trung và thể hiện đầy đủ quyền tư pháp, là hoạt động trên cơ sở kết quả điều tra, truy tố và bào chữa, Tòa án nhân danh Nhà nước đưa ra phán xét một người là có tội hay không có tội. Tính chính xác, khách quan, hợp pháp của sự phán xét, cũng như sự bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân phụ thuộc rất nhiều vào quá trình điều tra, truy tố và xét xử từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, hoạt động tích cực của luật sư với vai trò là người bào chữa cho bị can, bị cáo cũng góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ công lý. Hoạt động của luật sư tuy không phải là hoạt động tư pháp, nhưng lại có mối liên hệ gắn chặt với hoạt động tư pháp, hỗ trợ cho hoạt động tư pháp. Hoạt động của luật sư có thể xem như một công cụ hữu hiệu để giúp cho các cá nhân, tổ chức bảo vệ được các quyền và lợi ích chính đáng của mình. Như vậy, có thể nói tranh tụng là một mắt xích quan trọng trong cải cách tư pháp. Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành của nước ta khi thể chế hóa chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết của Bộ chính trị số 08- NQ/TW tại các quy định khác nhau đã khẳng định các nguyên tắc như: “…bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác; Việc phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng...”. Qua nhiều năm thực hiện đường lối của Đảng cũng như áp dụng các quy định pháp luật, bên cạnh những kết quả đạt được, chất lượng hoạt động điều tra, truy tố và xét xử phần nào đó chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp. Trước tình hình đó, để khắc phục những bất cập tồn tại, Ban chấp hành trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 49- NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020  và tiếp tục khẳng định: Một trong những nhiệm vụ cụ thể của cải cách tư pháp là“… xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”. Điều này cho thấy các nghị quyết của Bộ chính trị đã xác định việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa là hoạt động có tính cấp thiết và mang tính quyết định đối với việc đổi mới hoạt động tư pháp.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG

THS. LS. NGUYỄN HỮU THẾ TRẠCH – Đoàn Luật sư Thành phố HCM

Xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước luôn là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu trong việc đổi mới hệ thống chính trị của nhà nước ta trong suốt thời gian qua.

Dưới sự chỉ  đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam, nhiều nghị quyết quan trọng về hoàn thiện bộ máy nhà nước đã được thực hiện không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà nước, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng cũng xác định nhiệm vụ chiến lược là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ chiến lược với phương châm Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức và mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật.

Song song với việc cải cách bộ máy nhà nước và cải cách nền hành chính, trong nhiều nghị quyết của Đảng đã đề ra cải cách tư pháp. Cải cách tư pháp luôn được coi là một bộ phận quan trọng gắn liền với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt nam. Mục tiêu của cải cách tư pháp là xây dựng một hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh có phương thức tổ chức, hoạt động khoa học, hiện đại góp phần quan trọng vào việc giữ gìn trật tự kỷ cương phép nước. Nội dung chủ yếu của cải cách tư pháp là củng cố, kiện toàn bộ máy các cơ quan tư pháp, phân định lại thẩm quyền của Toà án, đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp, trong đó có tổ chức luật sư.

Trong hoạt động tư pháp, hoạt động xét xử  được coi là khâu trọng tâm vì  ở đây biểu hiện sự tập trung và thể hiện đầy đủ quyền tư pháp, là hoạt động trên cơ sở kết quả điều tra, truy tố và bào chữa, Tòa án nhân danh Nhà nước đưa ra phán xét một người là có tội hay không có tội. Tính chính xác, khách quan, hợp pháp của sự phán xét, cũng như sự bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân phụ thuộc rất nhiều vào quá trình điều tra, truy tố và xét xử từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, hoạt động tích cực của luật sư với vai trò là người bào chữa cho bị can, bị cáo cũng góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ công lý. Hoạt động của luật sư tuy không phải là hoạt động tư pháp, nhưng lại có mối liên hệ gắn chặt với hoạt động tư pháp, hỗ trợ cho hoạt động tư pháp. Hoạt động của luật sư có thể xem như một công cụ hữu hiệu để giúp cho các cá nhân, tổ chức bảo vệ được các quyền và lợi ích chính đáng của mình. Như vậy, có thể nói tranh tụng là một mắt xích quan trọng trong cải cách tư pháp. Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành của nước ta khi thể chế hóa chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết của Bộ chính trị số 08- NQ/TW tại các quy định khác nhau đã khẳng định các nguyên tắc như: “…bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác; Việc phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng...”. Qua nhiều năm thực hiện đường lối của Đảng cũng như áp dụng các quy định pháp luật, bên cạnh những kết quả đạt được, chất lượng hoạt động điều tra, truy tố và xét xử phần nào đó chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp. Trước tình hình đó, để khắc phục những bất cập tồn tại, Ban chấp hành trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 49- NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020  và tiếp tục khẳng định: Một trong những nhiệm vụ cụ thể của cải cách tư pháp là“… xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”. Điều này cho thấy các nghị quyết của Bộ chính trị đã xác định việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa là hoạt động có tính cấp thiết và mang tính quyết định đối với việc đổi mới hoạt động tư pháp.

Continue reading

Dự kiến một số vấn đề cơ bản được sửa đổi, bổ sung TRONG PHẦN "TÀI SẢN VÀ QUYỀN SỞ HỮU" CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ

TS. HOÀNG THỊ THÚY HẰNG – Vụ Pháp luật dân sự – kinh tế, Bộ Tư pháp

Chế định về “Tài sản và quyền sở hữu” được quy định ở Phần thứ hai của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 (117 điều). BLDS đã quy định một cách tương đối đầy đủ các vấn đề về quyền sở hữu: khái niệm, nội dung quyền sở hữu, căn cứ phát sinh, căn cứ chấm dứt quyền sở hữu, hình thức sở hữu, bảo vệ quyền sở hữu… Các quy định của BLDS đã tạo cơ sở pháp lý để cá nhân, tổ chức thực hiện quyền sở hữu của mình, tôn trọng quyền sở hữu của người khác; đồng thời là căn cứ để Toà án giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu.

Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành, BLDS cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập như: chưa quy định rõ ràng, đầy đủ về các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản nhưng vẫn có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản; có những vấn đề BLDS chưa có quy định, ví dụ như thứ tự ưu tiên giữa các quyền; quy định về hiệu lực của việc đăng ký bất động sản, về sở hữu chung trong nhà chung cư cũng còn có những điểm cần nghiên cứu để có những quy định pháp luật đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của nước ta hiện nay và trong tương lai.

Qua nghiên cứu và từ thực tiễn, bước đầu, Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), có một số sửa đổi, bổ sung cơ bản sau đây:

1. Quy định rõ ràng về vật quyền:

1.1 Quy định hiện hành:

BLDS Việt Nam hiện hành không được xây dựng theo cách chia các quyền tài sản thành hai loại quyền là vật quyền và trái quyền (hay quyền đối vật và quyền đối nhân): quyền đối vật là các quyền được thực hiện trên các vật cụ thể và xác định; quyền đối nhân bao gồm các quyền tương ứng với các nghĩa vụ tài sản mà người khác phải thực hiện vì lợi ích của người có quyền – quyền của một người được phép yêu cầu người khác thực hiện một nghĩa vụ tài sản. . Bộ luật không sử dụng những thuật ngữ như “vật quyền”, “trái quyền”. Nhưng khi xét về đặc điểm các loại quyền trong BLDS, ta thấy có sự khác nhau nhất định. Các quyền này cũng được bảo đảm thực hiện bằng những cách thức khác nhau. Tại Phần thứ hai của BLDS, khi thực hiện quyền sở hữu thì chủ sở hữu có quyền tác động trực tiếp đến tài sản; khi phân tích đặc trưng của các quyền khác đối với tài sản (chủ thể thực hiện quyền không phải là chủ sở hữu), ta thấy chúng có những nét tương đồng với các vật quyền khác theo quy định pháp luật của nhiều nước trên thế giới. Còn trong quan hệ nghĩa vụ và hợp đồng (Phần thứ ba của BLDS) thì quyền tài sản của một bên tương ứng với nghĩa vụ tài sản của bên kia (quyền chủ nợ). Khi một người có quyền sở hữu thì tất cả những người khác đều phải tôn trọng quyền sở hữu của người đó và từ đó, cần có nguyên tắc công khai hoá quyền; còn trong quan hệ nghĩa vụ thì không yêu cầu phải có nguyên tắc này, vì mối quan hệ nghĩa vụ giữa các bên trong nghĩa vụ đó không cần phải công khai với người thứ ba.

BLDS có những quy định rõ ràng, cụ thể về quyền sở hữu. Đồng thời, BLDS cũng đã quy định về quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản nhưng cũng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt chúng: những loại quyền này là sự độc lập hoá theo mục đích của quyền sở hữu, là những bộ phận của quyền sở hữu, theo chức năng của quyền sở hữu và được những chủ thể không phải là chủ sở hữu thực hiện. Điều 173 BLDS năm 2005 đã liệt kê các loại quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản; ở mức độ nhất định đã quy định cách thức thực hiện các quyền này cũng như các biện pháp bảo vệ chúng. Tuy nhiên, các quy định của BLDS về vấn đề nêu trên còn có những bất cập mà chúng ta sẽ đề cập đến sau đây.

DỰ KIẾN MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN ĐƯỢC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG PHẦN "TÀI SẢN VÀ QUYỀN SỞ HỮU" CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ

TS. HOÀNG THỊ THÚY HẰNG – Vụ Pháp luật dân sự – kinh tế, Bộ Tư pháp

Chế định về "Tài sản và quyền sở hữu" được quy định ở Phần thứ hai của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 (117 điều). BLDS đã quy định một cách tương đối đầy đủ các vấn đề về quyền sở hữu: khái niệm, nội dung quyền sở hữu, căn cứ phát sinh, căn cứ chấm dứt quyền sở hữu, hình thức sở hữu, bảo vệ quyền sở hữu… Các quy định của BLDS đã tạo cơ sở pháp lý để cá nhân, tổ chức thực hiện quyền sở hữu của mình, tôn trọng quyền sở hữu của người khác; đồng thời là căn cứ để Toà án giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu.

Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành, BLDS cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập như: chưa quy định rõ ràng, đầy đủ về các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản nhưng vẫn có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản; có những vấn đề BLDS chưa có quy định, ví dụ như thứ tự ưu tiên giữa các quyền; quy định về hiệu lực của việc đăng ký bất động sản, về sở hữu chung trong nhà chung cư cũng còn có những điểm cần nghiên cứu để có những quy định pháp luật đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của nước ta hiện nay và trong tương lai.

Qua nghiên cứu và từ thực tiễn, bước đầu, Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), có một số sửa đổi, bổ sung cơ bản sau đây:

1. Quy định rõ ràng về vật quyền:

1.1 Quy định hiện hành:

BLDS Việt Nam hiện hành không được xây dựng theo cách chia các quyền tài sản thành hai loại quyền là vật quyền và trái quyền (hay quyền đối vật và quyền đối nhân): quyền đối vật là các quyền được thực hiện trên các vật cụ thể và xác định; quyền đối nhân bao gồm các quyền tương ứng với các nghĩa vụ tài sản mà người khác phải thực hiện vì lợi ích của người có quyền – quyền của một người được phép yêu cầu người khác thực hiện một nghĩa vụ tài sản. . Bộ luật không sử dụng những thuật ngữ như "vật quyền", "trái quyền". Nhưng khi xét về đặc điểm các loại quyền trong BLDS, ta thấy có sự khác nhau nhất định. Các quyền này cũng được bảo đảm thực hiện bằng những cách thức khác nhau. Tại Phần thứ hai của BLDS, khi thực hiện quyền sở hữu thì chủ sở hữu có quyền tác động trực tiếp đến tài sản; khi phân tích đặc trưng của các quyền khác đối với tài sản (chủ thể thực hiện quyền không phải là chủ sở hữu), ta thấy chúng có những nét tương đồng với các vật quyền khác theo quy định pháp luật của nhiều nước trên thế giới. Còn trong quan hệ nghĩa vụ và hợp đồng (Phần thứ ba của BLDS) thì quyền tài sản của một bên tương ứng với nghĩa vụ tài sản của bên kia (quyền chủ nợ). Khi một người có quyền sở hữu thì tất cả những người khác đều phải tôn trọng quyền sở hữu của người đó và từ đó, cần có nguyên tắc công khai hoá quyền; còn trong quan hệ nghĩa vụ thì không yêu cầu phải có nguyên tắc này, vì mối quan hệ nghĩa vụ giữa các bên trong nghĩa vụ đó không cần phải công khai với người thứ ba.

BLDS có những quy định rõ ràng, cụ thể về quyền sở hữu. Đồng thời, BLDS cũng đã quy định về quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản nhưng cũng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt chúng: những loại quyền này là sự độc lập hoá theo mục đích của quyền sở hữu, là những bộ phận của quyền sở hữu, theo chức năng của quyền sở hữu và được những chủ thể không phải là chủ sở hữu thực hiện. Điều 173 BLDS năm 2005 đã liệt kê các loại quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản; ở mức độ nhất định đã quy định cách thức thực hiện các quyền này cũng như các biện pháp bảo vệ chúng. Tuy nhiên, các quy định của BLDS về vấn đề nêu trên còn có những bất cập mà chúng ta sẽ đề cập đến sau đây.

THỰC TIỄN THI HÀNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỐI VỚI CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2003 VỀ THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

CỤC ĐĂNG KÝ QUỐC GIA GIAO DỊCH BẢO ĐẢM, BỘ TƯ PHÁP

Luật Đất đai được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004. Luật Đất đai ra đời với những quy định tiến bộ, phù hợp có ý nghĩa cũng như tác động quan trọng đến đời sống xã hội, góp phần phát triển kinh tế xã hội, nâng cao hiệu lực quản lý đất đai, khuyến khích việc sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn lực đất đai. Mặt khác, những quy định tại Luật Đất đai năm 2003 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ các quyền của người sử dụng đất.

Nhằm làm rõ một số vấn đề thực tiễn thi hành các quy định của Luật Đất đai năm 2003, trong khuôn khổ bài viết này tập trung nghiên cứu về những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thế chấp quyền sử dụng đất, từ đó đề xuất những kiến nghị về một số vấn đề lớn có liên quan cần được nghiên cứu, giải quyết trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai và các văn bản pháp luật có liên quan. Nội dung cụ thể như sau:

I. Những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thế chấp quyền sử dụng đất

1. Về mục đích thế chấp quyền sử dụng đất

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 thì tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất được quyền thế chấp quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam “để vay vốn” (khoản 2 Điều 110), mà không được thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm cho các nghĩa vụ khác (ví dụ như: phát hành bảo lãnh, mở L/C, bao thanh toán…). Trong khi đó, đối với hộ gia đình, cá nhân trong nước sử dụng đất không phải là đất thuê thì được thế chấp quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân “để vay vốn sản xuất, kinh doanh” (khoản 7 Điều 113), mà không được thế chấp quyền sử dụng đất để phục vụ mục đích khác (ví dụ như: bảo đảm nghĩa vụ cho các hợp đồng phục vụ nhu cầu tiêu dùng, kể cả vay vốn để học tập, xây nhà…). Do vậy, về mặt pháp lý, nếu thế chấp để sử dụng cho những mục đích khác với quy định nêu trên của Luật Đất đai năm 2003 thì hợp đồng thế chấp có thể bị vô hiệu theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005.

Trong khi đó, nhu cầu vay vốn của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân trên thực tế rất đa dạng, vì vậy nếu quy định về mục đích vay vốn như trong Luật Đất đai năm 2003 thì không phù hợp với Luật các tổ chức tín dụng, Bộ luật Dân sự năm 2005 và hạn chế khả năng khai thác, phát huy giá trị kinh tế của thửa đất, cũng như nhu cầu tiêu dùng của hộ gia đình, cá nhân, tổ chức.

2. Về các loại đất được thế chấp và không được thế chấp

Luật Đất đai năm 2003 chỉ quy định các loại đất được thế chấp (Điều 110, khoản 3 Điều 112, khoản 3 Điều 111, khoản 2 Điều 112, Điều 113, khoản 1 và 3 Điều 119), mà chưa có quy định về loại đất nào không được thế chấp. Ngoài ra, một số loại đất khác mặc dù pháp luật cho phép thế chấp, nhưng vẫn không thực hiện việc thế chấp trên thực tế như: các loại đất chưa hoàn thành nghĩa vụ ngân sách với Nhà nước, đất đang có tranh chấp về tài sản trên đất, đât đang nằm trong diện bị quy hoạch.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 2109/TCHQ-GSQL NGÀY 10 THÁNG 05 NĂM 2011 CỦA TỔNG CỤC HẢI QUAN VỀ VIỆC NHẬP KHẨU XE Ô TÔ THEO CHẾ ĐỘ TÀI SẢN DI CHUYỂN CỦA VIỆT KIỀU HỒI HƯƠNG

Kính gửi:

Cục Hải quan tỉnh Đồng Nai

Trả lời công văn số 239/HQĐNa-GSQL ngày 02/03/2011 của Cục Hải quan tỉnh Đồng Nai về việc báo cáo vướng mắc trường hợp bà Nguyễn Thị Mận là Việt kiều tại Hoa Kỳ hồi hương về Việt Nam đề nghị được giải quyết thủ tục nhập khẩu 01 xe ô tô hiệu Toyota Lexus, số khung JTHGL5EF7A5039817 theo chế độ tài sản di chuyển của Việt kiều hồi hương, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:

– Căn cứ điểm c, khoản 2, Điều 101 Thông tư số 194/2010/TT-BTC ngày 06/12/2010 của Bộ Tài chính thì "Hàng hóa là tài sản di chuyển của gia đình, cá nhân người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài được phép về Việt Nam định cư thuộc diện được miễn thuế. "Riêng xe ô tô, xe mô tô đang sử dụng của gia đình cá nhân người Việt Nam khi được phép định cư tại Việt Nam chỉ được miễn thuế nhập khẩu mỗi thứ một chiếc cho mỗi hộ gia đình".

– Căn cứ khoản 1 Điều 11, chương II Luật hôn nhân và Gia đình số 22/2000/QH10 ngày 09/6/2000 thì: việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn thực hiện và xác nhận bằng Giấy đăng ký kết hôn hoặc giấy tờ có giá trị tương đương.

Trường hợp ông Lâm Lương và bà Nguyễn Thi Mận thực hiện việc đăng ký kết hôn trước thời điểm ông Lâm Lương hoàn tất thủ tục đăng ký thường trú tại Việt Nam (ngày 07/7/2010 – theo sổ hộ khẩu số 190058137 do Công an thị trấn Long Thành, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 23/10/2008) thì ông Lâm Lương, bà Mận được pháp luật ghi nhận là vợ chồng (tức là 01 hộ gia đình). Vì vậy ông Lâm Lương và bà Mận chỉ được giải quyết thủ tục nhập khẩu 01 xe ô tô theo chế độ tài sản di chuyển của Việt kiều hồi hương được quy định tại Thông tư số 118/2009/TT-BTC ngày 09/06/2009 của Bộ Tài chính.

Trường hợp ông Lâm Lương và bà Mận thực hiện việc đăng ký kết hôn sau thời điểm ông Lâm Lương hoàn tất thủ tục đăng ký thường trú tại Việt Nam (ngày 07/7/2010 – theo sổ hộ khẩu số 190058137 do Công an thị trấn Long Thành, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 23/10/2008) thì ông Lâm Lương, bà Mận được xem xét giải quyết thủ tục nhập khẩu xe ô tô riêng biệt theo chế độ tài sản di chuyển của Việt kiều hồi hương được quy định tại Thông tư số 118/2009/TT-BTC dẫn trên.

Tổng cục Hải quan trả lời nội dung trên để Cục Hải quan tỉnh Đồng Nai biết và thực hiện./.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG
Vũ Ngọc Anh