LUẬT DÂN SỰ TRONG HỆ THỐNG LUẬT CÔNG – LUẬT TƯ

TS. NGUYỄN THỊ QUẾ ANH – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tìm hiểu vị trí của luật dân sự trong hệ thống pháp luật là hết sức quan trọng. Xác định một cách đúng đắn vị trí của luật dân sự trong toàn bộ hệ thống pháp luật dân sự giúp chúng ta giải quyết một cách triệt để một số vấn đề lý luận tác động trực tiếp tới hiệu quả điều chỉnh của các quy phạm pháp luật trong luật dân sự. Thực tiễn thi hành Bộ luật dân sự năm 1995 trước đây đã cho thấy: do chưa có một quy định nào xác định, vị trí bai trò của Bộ luật dân sự trong hệ thống pháp luật nên đã tạo ra sự cô lập giữa các quy định của Bộ luật dân sự với các quy định trong lĩnh vực pháp luật khác có liên quan như kinh tế và thương mại. Vấn đề này là một trong những nguyên nhân chủ yếu tạo ra tình trạng thiếu thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, tình trạng tranh chấp về thẩm quyền trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực pháp luật khác nhau.

Trong bài viết này, tác giả xin được đề cập tới một số khía cạnh lý luận của việc phân biệt hệ thống Luật công và Luật tư dưới góc độ như là hệ thống pháp luật “tập quyền” và “phân quyền”, tìm hiểu những yếu tố mang tính ước lệ trong các tiêu chí phân biệt hai hệ thống pháp luật này, phân tích những mặt mạnh và yếu điểm của hai hệ thống, trên cơ sở đó góp phần hình thành những nhận thức đúng đắn về vai trò của luật dân sự trong hệ thống pháp luật.

Thuật ngữ “luật dân sự” hay “luật tư” từ thủa xa xưa đã không xa lạ gì với các nhà nghiên cứu pháp luật. Những luật gia La Mã cổ đại đã đưa ra thuật ngữ này và phân chia toàn bộ hệ thống pháp luật thành hai lĩnh vực: lĩnh vực Luật công (jus publicum) và lĩnh vực Luật tư hay Luật dân sự (jus privatum hay jus civile). Iupian đưa ra nhận định: đối tượng nghiên cứu của chúng ta bao gồm hai phần: Luật công và Luật tư; luật công là những gì liên quan đến địa vị Nhà nước La Mã, Luật tư là luật liên quan tới quyền lợi của từng cá nhân riêng biệt. Như vậy, Iupian đã nhìn thấy tiêu chí phân biệt hai lĩnh vực này chính là sự khác biệt giữa các nhóm lợi được điều chỉnh . Từ đó đến nay sự phân chia này đã thực sự trở thành yếu tố không thể tách rời của khoa học pháp lý và là cơ sở cốt yếu cho việc phân định các hiện tượng pháp lý cả về lý luận và thực tiễn.

Đọc toàn văn bài viết tại đây 

Vai trò của luật sư TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG

THS. LS. NGUYỄN HỮU THẾ TRẠCH – Đoàn Luật sư Thành phố HCM

Xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước luôn là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu trong việc đổi mới hệ thống chính trị của nhà nước ta trong suốt thời gian qua.

Dưới sự chỉ  đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam, nhiều nghị quyết quan trọng về hoàn thiện bộ máy nhà nước đã được thực hiện không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà nước, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng cũng xác định nhiệm vụ chiến lược là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ chiến lược với phương châm Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức và mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật.

Song song với việc cải cách bộ máy nhà nước và cải cách nền hành chính, trong nhiều nghị quyết của Đảng đã đề ra cải cách tư pháp. Cải cách tư pháp luôn được coi là một bộ phận quan trọng gắn liền với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt nam. Mục tiêu của cải cách tư pháp là xây dựng một hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh có phương thức tổ chức, hoạt động khoa học, hiện đại góp phần quan trọng vào việc giữ gìn trật tự kỷ cương phép nước. Nội dung chủ yếu của cải cách tư pháp là củng cố, kiện toàn bộ máy các cơ quan tư pháp, phân định lại thẩm quyền của Toà án, đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp, trong đó có tổ chức luật sư.

Trong hoạt động tư pháp, hoạt động xét xử  được coi là khâu trọng tâm vì  ở đây biểu hiện sự tập trung và thể hiện đầy đủ quyền tư pháp, là hoạt động trên cơ sở kết quả điều tra, truy tố và bào chữa, Tòa án nhân danh Nhà nước đưa ra phán xét một người là có tội hay không có tội. Tính chính xác, khách quan, hợp pháp của sự phán xét, cũng như sự bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân phụ thuộc rất nhiều vào quá trình điều tra, truy tố và xét xử từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, hoạt động tích cực của luật sư với vai trò là người bào chữa cho bị can, bị cáo cũng góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ công lý. Hoạt động của luật sư tuy không phải là hoạt động tư pháp, nhưng lại có mối liên hệ gắn chặt với hoạt động tư pháp, hỗ trợ cho hoạt động tư pháp. Hoạt động của luật sư có thể xem như một công cụ hữu hiệu để giúp cho các cá nhân, tổ chức bảo vệ được các quyền và lợi ích chính đáng của mình. Như vậy, có thể nói tranh tụng là một mắt xích quan trọng trong cải cách tư pháp. Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành của nước ta khi thể chế hóa chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết của Bộ chính trị số 08- NQ/TW tại các quy định khác nhau đã khẳng định các nguyên tắc như: “…bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác; Việc phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng...”. Qua nhiều năm thực hiện đường lối của Đảng cũng như áp dụng các quy định pháp luật, bên cạnh những kết quả đạt được, chất lượng hoạt động điều tra, truy tố và xét xử phần nào đó chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp. Trước tình hình đó, để khắc phục những bất cập tồn tại, Ban chấp hành trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 49- NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020  và tiếp tục khẳng định: Một trong những nhiệm vụ cụ thể của cải cách tư pháp là“… xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”. Điều này cho thấy các nghị quyết của Bộ chính trị đã xác định việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa là hoạt động có tính cấp thiết và mang tính quyết định đối với việc đổi mới hoạt động tư pháp.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG

THS. LS. NGUYỄN HỮU THẾ TRẠCH – Đoàn Luật sư Thành phố HCM

Xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước luôn là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu trong việc đổi mới hệ thống chính trị của nhà nước ta trong suốt thời gian qua.

Dưới sự chỉ  đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam, nhiều nghị quyết quan trọng về hoàn thiện bộ máy nhà nước đã được thực hiện không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà nước, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng cũng xác định nhiệm vụ chiến lược là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ chiến lược với phương châm Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức và mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật.

Song song với việc cải cách bộ máy nhà nước và cải cách nền hành chính, trong nhiều nghị quyết của Đảng đã đề ra cải cách tư pháp. Cải cách tư pháp luôn được coi là một bộ phận quan trọng gắn liền với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt nam. Mục tiêu của cải cách tư pháp là xây dựng một hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh có phương thức tổ chức, hoạt động khoa học, hiện đại góp phần quan trọng vào việc giữ gìn trật tự kỷ cương phép nước. Nội dung chủ yếu của cải cách tư pháp là củng cố, kiện toàn bộ máy các cơ quan tư pháp, phân định lại thẩm quyền của Toà án, đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp, trong đó có tổ chức luật sư.

Trong hoạt động tư pháp, hoạt động xét xử  được coi là khâu trọng tâm vì  ở đây biểu hiện sự tập trung và thể hiện đầy đủ quyền tư pháp, là hoạt động trên cơ sở kết quả điều tra, truy tố và bào chữa, Tòa án nhân danh Nhà nước đưa ra phán xét một người là có tội hay không có tội. Tính chính xác, khách quan, hợp pháp của sự phán xét, cũng như sự bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân phụ thuộc rất nhiều vào quá trình điều tra, truy tố và xét xử từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, hoạt động tích cực của luật sư với vai trò là người bào chữa cho bị can, bị cáo cũng góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ công lý. Hoạt động của luật sư tuy không phải là hoạt động tư pháp, nhưng lại có mối liên hệ gắn chặt với hoạt động tư pháp, hỗ trợ cho hoạt động tư pháp. Hoạt động của luật sư có thể xem như một công cụ hữu hiệu để giúp cho các cá nhân, tổ chức bảo vệ được các quyền và lợi ích chính đáng của mình. Như vậy, có thể nói tranh tụng là một mắt xích quan trọng trong cải cách tư pháp. Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành của nước ta khi thể chế hóa chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết của Bộ chính trị số 08- NQ/TW tại các quy định khác nhau đã khẳng định các nguyên tắc như: “…bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác; Việc phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng...”. Qua nhiều năm thực hiện đường lối của Đảng cũng như áp dụng các quy định pháp luật, bên cạnh những kết quả đạt được, chất lượng hoạt động điều tra, truy tố và xét xử phần nào đó chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp. Trước tình hình đó, để khắc phục những bất cập tồn tại, Ban chấp hành trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 49- NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020  và tiếp tục khẳng định: Một trong những nhiệm vụ cụ thể của cải cách tư pháp là“… xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”. Điều này cho thấy các nghị quyết của Bộ chính trị đã xác định việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa là hoạt động có tính cấp thiết và mang tính quyết định đối với việc đổi mới hoạt động tư pháp.

Continue reading

Dự kiến một số vấn đề cơ bản được sửa đổi, bổ sung TRONG PHẦN "TÀI SẢN VÀ QUYỀN SỞ HỮU" CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ

TS. HOÀNG THỊ THÚY HẰNG – Vụ Pháp luật dân sự – kinh tế, Bộ Tư pháp

Chế định về “Tài sản và quyền sở hữu” được quy định ở Phần thứ hai của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 (117 điều). BLDS đã quy định một cách tương đối đầy đủ các vấn đề về quyền sở hữu: khái niệm, nội dung quyền sở hữu, căn cứ phát sinh, căn cứ chấm dứt quyền sở hữu, hình thức sở hữu, bảo vệ quyền sở hữu… Các quy định của BLDS đã tạo cơ sở pháp lý để cá nhân, tổ chức thực hiện quyền sở hữu của mình, tôn trọng quyền sở hữu của người khác; đồng thời là căn cứ để Toà án giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu.

Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành, BLDS cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập như: chưa quy định rõ ràng, đầy đủ về các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản nhưng vẫn có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản; có những vấn đề BLDS chưa có quy định, ví dụ như thứ tự ưu tiên giữa các quyền; quy định về hiệu lực của việc đăng ký bất động sản, về sở hữu chung trong nhà chung cư cũng còn có những điểm cần nghiên cứu để có những quy định pháp luật đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của nước ta hiện nay và trong tương lai.

Qua nghiên cứu và từ thực tiễn, bước đầu, Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), có một số sửa đổi, bổ sung cơ bản sau đây:

1. Quy định rõ ràng về vật quyền:

1.1 Quy định hiện hành:

BLDS Việt Nam hiện hành không được xây dựng theo cách chia các quyền tài sản thành hai loại quyền là vật quyền và trái quyền (hay quyền đối vật và quyền đối nhân): quyền đối vật là các quyền được thực hiện trên các vật cụ thể và xác định; quyền đối nhân bao gồm các quyền tương ứng với các nghĩa vụ tài sản mà người khác phải thực hiện vì lợi ích của người có quyền – quyền của một người được phép yêu cầu người khác thực hiện một nghĩa vụ tài sản. . Bộ luật không sử dụng những thuật ngữ như “vật quyền”, “trái quyền”. Nhưng khi xét về đặc điểm các loại quyền trong BLDS, ta thấy có sự khác nhau nhất định. Các quyền này cũng được bảo đảm thực hiện bằng những cách thức khác nhau. Tại Phần thứ hai của BLDS, khi thực hiện quyền sở hữu thì chủ sở hữu có quyền tác động trực tiếp đến tài sản; khi phân tích đặc trưng của các quyền khác đối với tài sản (chủ thể thực hiện quyền không phải là chủ sở hữu), ta thấy chúng có những nét tương đồng với các vật quyền khác theo quy định pháp luật của nhiều nước trên thế giới. Còn trong quan hệ nghĩa vụ và hợp đồng (Phần thứ ba của BLDS) thì quyền tài sản của một bên tương ứng với nghĩa vụ tài sản của bên kia (quyền chủ nợ). Khi một người có quyền sở hữu thì tất cả những người khác đều phải tôn trọng quyền sở hữu của người đó và từ đó, cần có nguyên tắc công khai hoá quyền; còn trong quan hệ nghĩa vụ thì không yêu cầu phải có nguyên tắc này, vì mối quan hệ nghĩa vụ giữa các bên trong nghĩa vụ đó không cần phải công khai với người thứ ba.

BLDS có những quy định rõ ràng, cụ thể về quyền sở hữu. Đồng thời, BLDS cũng đã quy định về quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản nhưng cũng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt chúng: những loại quyền này là sự độc lập hoá theo mục đích của quyền sở hữu, là những bộ phận của quyền sở hữu, theo chức năng của quyền sở hữu và được những chủ thể không phải là chủ sở hữu thực hiện. Điều 173 BLDS năm 2005 đã liệt kê các loại quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản; ở mức độ nhất định đã quy định cách thức thực hiện các quyền này cũng như các biện pháp bảo vệ chúng. Tuy nhiên, các quy định của BLDS về vấn đề nêu trên còn có những bất cập mà chúng ta sẽ đề cập đến sau đây.

DỰ KIẾN MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN ĐƯỢC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG PHẦN "TÀI SẢN VÀ QUYỀN SỞ HỮU" CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ

TS. HOÀNG THỊ THÚY HẰNG – Vụ Pháp luật dân sự – kinh tế, Bộ Tư pháp

Chế định về "Tài sản và quyền sở hữu" được quy định ở Phần thứ hai của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 (117 điều). BLDS đã quy định một cách tương đối đầy đủ các vấn đề về quyền sở hữu: khái niệm, nội dung quyền sở hữu, căn cứ phát sinh, căn cứ chấm dứt quyền sở hữu, hình thức sở hữu, bảo vệ quyền sở hữu… Các quy định của BLDS đã tạo cơ sở pháp lý để cá nhân, tổ chức thực hiện quyền sở hữu của mình, tôn trọng quyền sở hữu của người khác; đồng thời là căn cứ để Toà án giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu.

Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành, BLDS cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập như: chưa quy định rõ ràng, đầy đủ về các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản nhưng vẫn có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản; có những vấn đề BLDS chưa có quy định, ví dụ như thứ tự ưu tiên giữa các quyền; quy định về hiệu lực của việc đăng ký bất động sản, về sở hữu chung trong nhà chung cư cũng còn có những điểm cần nghiên cứu để có những quy định pháp luật đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của nước ta hiện nay và trong tương lai.

Qua nghiên cứu và từ thực tiễn, bước đầu, Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), có một số sửa đổi, bổ sung cơ bản sau đây:

1. Quy định rõ ràng về vật quyền:

1.1 Quy định hiện hành:

BLDS Việt Nam hiện hành không được xây dựng theo cách chia các quyền tài sản thành hai loại quyền là vật quyền và trái quyền (hay quyền đối vật và quyền đối nhân): quyền đối vật là các quyền được thực hiện trên các vật cụ thể và xác định; quyền đối nhân bao gồm các quyền tương ứng với các nghĩa vụ tài sản mà người khác phải thực hiện vì lợi ích của người có quyền – quyền của một người được phép yêu cầu người khác thực hiện một nghĩa vụ tài sản. . Bộ luật không sử dụng những thuật ngữ như "vật quyền", "trái quyền". Nhưng khi xét về đặc điểm các loại quyền trong BLDS, ta thấy có sự khác nhau nhất định. Các quyền này cũng được bảo đảm thực hiện bằng những cách thức khác nhau. Tại Phần thứ hai của BLDS, khi thực hiện quyền sở hữu thì chủ sở hữu có quyền tác động trực tiếp đến tài sản; khi phân tích đặc trưng của các quyền khác đối với tài sản (chủ thể thực hiện quyền không phải là chủ sở hữu), ta thấy chúng có những nét tương đồng với các vật quyền khác theo quy định pháp luật của nhiều nước trên thế giới. Còn trong quan hệ nghĩa vụ và hợp đồng (Phần thứ ba của BLDS) thì quyền tài sản của một bên tương ứng với nghĩa vụ tài sản của bên kia (quyền chủ nợ). Khi một người có quyền sở hữu thì tất cả những người khác đều phải tôn trọng quyền sở hữu của người đó và từ đó, cần có nguyên tắc công khai hoá quyền; còn trong quan hệ nghĩa vụ thì không yêu cầu phải có nguyên tắc này, vì mối quan hệ nghĩa vụ giữa các bên trong nghĩa vụ đó không cần phải công khai với người thứ ba.

BLDS có những quy định rõ ràng, cụ thể về quyền sở hữu. Đồng thời, BLDS cũng đã quy định về quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản nhưng cũng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt chúng: những loại quyền này là sự độc lập hoá theo mục đích của quyền sở hữu, là những bộ phận của quyền sở hữu, theo chức năng của quyền sở hữu và được những chủ thể không phải là chủ sở hữu thực hiện. Điều 173 BLDS năm 2005 đã liệt kê các loại quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản; ở mức độ nhất định đã quy định cách thức thực hiện các quyền này cũng như các biện pháp bảo vệ chúng. Tuy nhiên, các quy định của BLDS về vấn đề nêu trên còn có những bất cập mà chúng ta sẽ đề cập đến sau đây.

THỰC TIỄN THI HÀNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỐI VỚI CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2003 VỀ THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

CỤC ĐĂNG KÝ QUỐC GIA GIAO DỊCH BẢO ĐẢM, BỘ TƯ PHÁP

Luật Đất đai được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004. Luật Đất đai ra đời với những quy định tiến bộ, phù hợp có ý nghĩa cũng như tác động quan trọng đến đời sống xã hội, góp phần phát triển kinh tế xã hội, nâng cao hiệu lực quản lý đất đai, khuyến khích việc sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn lực đất đai. Mặt khác, những quy định tại Luật Đất đai năm 2003 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ các quyền của người sử dụng đất.

Nhằm làm rõ một số vấn đề thực tiễn thi hành các quy định của Luật Đất đai năm 2003, trong khuôn khổ bài viết này tập trung nghiên cứu về những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thế chấp quyền sử dụng đất, từ đó đề xuất những kiến nghị về một số vấn đề lớn có liên quan cần được nghiên cứu, giải quyết trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai và các văn bản pháp luật có liên quan. Nội dung cụ thể như sau:

I. Những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thế chấp quyền sử dụng đất

1. Về mục đích thế chấp quyền sử dụng đất

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 thì tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất được quyền thế chấp quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam “để vay vốn” (khoản 2 Điều 110), mà không được thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm cho các nghĩa vụ khác (ví dụ như: phát hành bảo lãnh, mở L/C, bao thanh toán…). Trong khi đó, đối với hộ gia đình, cá nhân trong nước sử dụng đất không phải là đất thuê thì được thế chấp quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân “để vay vốn sản xuất, kinh doanh” (khoản 7 Điều 113), mà không được thế chấp quyền sử dụng đất để phục vụ mục đích khác (ví dụ như: bảo đảm nghĩa vụ cho các hợp đồng phục vụ nhu cầu tiêu dùng, kể cả vay vốn để học tập, xây nhà…). Do vậy, về mặt pháp lý, nếu thế chấp để sử dụng cho những mục đích khác với quy định nêu trên của Luật Đất đai năm 2003 thì hợp đồng thế chấp có thể bị vô hiệu theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005.

Trong khi đó, nhu cầu vay vốn của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân trên thực tế rất đa dạng, vì vậy nếu quy định về mục đích vay vốn như trong Luật Đất đai năm 2003 thì không phù hợp với Luật các tổ chức tín dụng, Bộ luật Dân sự năm 2005 và hạn chế khả năng khai thác, phát huy giá trị kinh tế của thửa đất, cũng như nhu cầu tiêu dùng của hộ gia đình, cá nhân, tổ chức.

2. Về các loại đất được thế chấp và không được thế chấp

Luật Đất đai năm 2003 chỉ quy định các loại đất được thế chấp (Điều 110, khoản 3 Điều 112, khoản 3 Điều 111, khoản 2 Điều 112, Điều 113, khoản 1 và 3 Điều 119), mà chưa có quy định về loại đất nào không được thế chấp. Ngoài ra, một số loại đất khác mặc dù pháp luật cho phép thế chấp, nhưng vẫn không thực hiện việc thế chấp trên thực tế như: các loại đất chưa hoàn thành nghĩa vụ ngân sách với Nhà nước, đất đang có tranh chấp về tài sản trên đất, đât đang nằm trong diện bị quy hoạch.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 2109/TCHQ-GSQL NGÀY 10 THÁNG 05 NĂM 2011 CỦA TỔNG CỤC HẢI QUAN VỀ VIỆC NHẬP KHẨU XE Ô TÔ THEO CHẾ ĐỘ TÀI SẢN DI CHUYỂN CỦA VIỆT KIỀU HỒI HƯƠNG

Kính gửi:

Cục Hải quan tỉnh Đồng Nai

Trả lời công văn số 239/HQĐNa-GSQL ngày 02/03/2011 của Cục Hải quan tỉnh Đồng Nai về việc báo cáo vướng mắc trường hợp bà Nguyễn Thị Mận là Việt kiều tại Hoa Kỳ hồi hương về Việt Nam đề nghị được giải quyết thủ tục nhập khẩu 01 xe ô tô hiệu Toyota Lexus, số khung JTHGL5EF7A5039817 theo chế độ tài sản di chuyển của Việt kiều hồi hương, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:

– Căn cứ điểm c, khoản 2, Điều 101 Thông tư số 194/2010/TT-BTC ngày 06/12/2010 của Bộ Tài chính thì "Hàng hóa là tài sản di chuyển của gia đình, cá nhân người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài được phép về Việt Nam định cư thuộc diện được miễn thuế. "Riêng xe ô tô, xe mô tô đang sử dụng của gia đình cá nhân người Việt Nam khi được phép định cư tại Việt Nam chỉ được miễn thuế nhập khẩu mỗi thứ một chiếc cho mỗi hộ gia đình".

– Căn cứ khoản 1 Điều 11, chương II Luật hôn nhân và Gia đình số 22/2000/QH10 ngày 09/6/2000 thì: việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn thực hiện và xác nhận bằng Giấy đăng ký kết hôn hoặc giấy tờ có giá trị tương đương.

Trường hợp ông Lâm Lương và bà Nguyễn Thi Mận thực hiện việc đăng ký kết hôn trước thời điểm ông Lâm Lương hoàn tất thủ tục đăng ký thường trú tại Việt Nam (ngày 07/7/2010 – theo sổ hộ khẩu số 190058137 do Công an thị trấn Long Thành, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 23/10/2008) thì ông Lâm Lương, bà Mận được pháp luật ghi nhận là vợ chồng (tức là 01 hộ gia đình). Vì vậy ông Lâm Lương và bà Mận chỉ được giải quyết thủ tục nhập khẩu 01 xe ô tô theo chế độ tài sản di chuyển của Việt kiều hồi hương được quy định tại Thông tư số 118/2009/TT-BTC ngày 09/06/2009 của Bộ Tài chính.

Trường hợp ông Lâm Lương và bà Mận thực hiện việc đăng ký kết hôn sau thời điểm ông Lâm Lương hoàn tất thủ tục đăng ký thường trú tại Việt Nam (ngày 07/7/2010 – theo sổ hộ khẩu số 190058137 do Công an thị trấn Long Thành, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 23/10/2008) thì ông Lâm Lương, bà Mận được xem xét giải quyết thủ tục nhập khẩu xe ô tô riêng biệt theo chế độ tài sản di chuyển của Việt kiều hồi hương được quy định tại Thông tư số 118/2009/TT-BTC dẫn trên.

Tổng cục Hải quan trả lời nội dung trên để Cục Hải quan tỉnh Đồng Nai biết và thực hiện./.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG
Vũ Ngọc Anh

HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TRÁI PHÁP LUẬT

TS. TRẦN HOÀNG HẢI & THS. ĐỖ HẢI HÀ – Đại học Luật TPHCM

Hợp đồng lao động (HĐLĐ) là một trong các chế định quan trọng nhất của pháp luật lao động1. Việc xây dựng và ban hành các quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ), giúp ổn định và hài hoà hóa QHLĐ trong doanh nghiệp. Tuy nhiên trên thực tế, rất nhiều các tranh chấp lao động mà Tòa án đã và đang giải quyết là những tranh chấp liên quan đến một vấn đề rất quan trọng của chế định này – trách nhiệm của NSDLĐ trong việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật. Bài viết phân tích một số bất hợp lý trong các quy định hiện hành về trách nhiệm của NSDLÐ đơn phương chấm dứt HÐLÐ trái pháp luật, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về vấn đề này trong Dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động (Dự thảo)2.

1. Những bất cập trong quy định hiện hành về trách nhiệm của NSDLÐ đơn phương chấm dứt HÐLÐ trái pháp luật

Theo Điều 41 Bộ luật Lao động năm 1994 đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006 và 2007 (BLLĐ), NSDLÐ đơn phương chấm dứt HÐLÐ trái pháp luật phải chịu những trách nhiệm pháp lý sau: “1. Trong trường hợp NSDLÐ đơn phương chấm dứt HÐLÐ trái pháp luật thì phải nhận NLĐ trở lại làm công việc theo hợp đồng đã ký và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) trong những ngày NLĐ không được làm việc cộng với ít nhất hai tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có).

Trong trường hợp NLĐ không muốn trở lại làm việc, thì ngoài khoản tiền được bồi thường quy định tại đoạn 1 khoản này, NLĐ còn được trợ cấp theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật này.

Trong trường hợp NSDLĐ không muốn nhận NLĐ trở lại làm việc và NLĐ đồng ý thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại đoạn 1 khoản này và trợ cấp quy định tại Điều 42 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận về khoản tiền bồi thường thêm cho NLĐ để chấm dứt HÐLÐ…; 4. Trong trường hợp đơn phương chấm dứt HÐLÐ, nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước, bên vi phạm phải bồi thường cho bên kia một khoản tiền tương ứng với tiền lương của NLĐ trong những ngày không báo trước”.

Quy định này có một số điểm không rõ ràng và chưa thực sự hợp lý. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, quy định buộc NSDLÐ đơn phương chấm dứt HÐLÐ trái pháp luật, trong mọi trường hợp, phải nhận NLÐ trở lại làm việc theo hợp đồng đã ký là không phù hợp và không khả thi.

Trước hết, phải thừa nhận rằng, chế tài buộc NSDLÐ nhận NLÐ trở lại làm việc theo hợp đồng đã ký có ưu điểm là khôi phục tình trạng ban đầu của bên bị vi phạm – NLÐ, nhằm bảo vệ NLĐ và đồng thời ngăn ngừa tình trạng NSDLĐ chấm dứt HĐLĐ tràn lan. Chế tài này cũng phù hợp với tinh thần của các quy định hiện hành trong Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS) về trách nhiệm dân sự mà theo đó, bên vi phạm nghĩa vụ dân sự phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đối với bên bị vi phạm3. Tuy nhiên, chế tài này cũng chứa đựng một số điểm hạn chế:

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 12/2011/TT-NHNN NGÀY 17 THÁNG 05 NĂM 2011 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ VIỆC QUẢN LÝ, SỬ DỤNG CHỮ KÝ SỐ, CHỨNG THƯ SỐ VÀ DỊCH VỤ CHỨNG THỰC CHỮ KÝ SỐ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 ngày 16/6/2010;
Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010;
Căn cứ Luật công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ngày 29/6/2006;
Căn cứ Luật giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 ngày 29/11/2005;
Căn cứ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Căn cứ Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 25/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số;
Thực hiện Nghị quyết số 60/NQ-CP về đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) quy định về việc quản lý, sử dụng chữ ký số, chứng thư số và dịch vụ chứng thực chữ ký số của Ngân hàng Nhà nước như sau:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định việc quản lý, sử dụng chữ ký số, chứng thư số và dịch vụ chứng thực chữ ký số trong giao dịch điện tử của Ngân hàng Nhà nước.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Tổ chức, cá nhân thuộc Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng; chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Kho bạc Nhà nước.

2. Tổ chức khác lựa chọn sử dụng dịch vụ chứng thực chữ ký số của Ngân hàng Nhà nước trong các hoạt động giao dịch điện tử do Ngân hàng Nhà nước tổ chức.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. “Chứng thư số” là một dạng chứng thư điện tử do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số của Ngân hàng Nhà nước cấp.

2. “Dịch vụ chứng thực chữ ký số” là một loại hình dịch vụ do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số của Ngân hàng Nhà nước cấp. Dịch vụ chứng thực chữ ký số bao gồm:

a) Tạo cặp khóa bao gồm khóa công khai và khóa bí mật cho thuê bao;

b) Cấp, gia hạn, tạm dừng, phục hồi và thu hồi chứng thư số của thuê bao;

c) Duy trì trực tuyến cơ sở dữ liệu về chứng thư số;

d) Những dịch vụ khác theo quy định của Nghị định chữ ký số.

Continue reading