KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ MÂU THUẪN, XUNG ĐỘT LỢI ÍCH GIỮA NHÓM TRỤC LỢI VÀ NHÓM THIỆT HẠI HIỆN NAY

TS. HỒ BÁ THÂM & TS. NGUYỄN TRẦN DƯƠNG

Từ nghiên cứu mâu thuẫn xung  đột lợi ích  ở TP.HCM, chúng tôi cho rằng về thực chất và nổi bật là mâu thuẫn xung  đột giữa các nhóm trục lợi và nhóm thiệt hại lợi ích. Đây coi như một sự khái quát mới về một cặp mâu thuẫn, xung đột lợi ích hiện nay  ở nước ta và trong đó có TP.HCM.

Sau đây là một số nội dung, chúng tôi muốn trao đổi với bạn đọc.

1. Kinh tế thị trường với sự hình thành nhóm trục lợi và nhóm thiệt hại   

– Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế có  đặc điểm chủ yếu như sau:

Đó là nền kinh tế có nhiều chế  độ sở hữu và thành phần kinh tế với nhiều chủ thể lợi ích có xu hướng phân hóa đa dạng khác nhau, có khi đối lập nhau như lợi ich cá nhân, lợi ích nhóm, lợi ích giai tầng xã hội…, từ đó nảy sinh mâu thuẫn lợi ích.

Nền kinh tế thị trường có bản chất và động lực cơ bản là chạy theo mục đích lợi nhuận, thậm chí có lúc gần như là mục đích duy nhất. 

Nền kinh tế bên cạnh mặt tích cực như: năng động,  đòi hỏi sự minh bạch, tạo cơ hội cho mọi người làm việc và phát triển… nhưng  đồng thời nó cũng có mặt khuyết tật, tiêu cực tạo nên khủng hoảng kinh tế chu kỳ, phân hóa tạo nên những người rất giàu và những người rất nghèo, gây nên xung đột lợi ích.

Nền kinh tế thị trường hiện đại có đặc điểm là gắn với xu hướng công nghệ sạch, thân thiện môi trường, gắn với công bằng xã hội, phúc lợi xã hội, đề cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp…. Xu hướng này là tiền  đề của nền kinh tế thị trường XHCN.

Cùng với quá trình  đó là quá trình  đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa đã nảy sinh nhiều vấn đề về lợi ích khác nhau, thậm chí đối lập nhau, nhất là trên lĩnh vực nhà đất, các quan hệ lao động trong các doanh nghiệp và môi trường sống.

Nước ta từ khi chuyển sang thời kỳ  đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa nhưng nền kinh tế này còn sơ khai, trình độ thấp, mặc dù có yếu tố  để tiến tới nền kinh tế thị trường hiện  đại, hướng tới kinh tế thị trường hiện đại. Trong thời kỳ mới này những mâu thuẫn, xung đột lợi ích đã và đang diễn ra rất đa dạng và có phần phức tạp.

– Đời sống xã hội.

Đời sống xã hội là toàn bộ không gian xã hội gắn với hoạt động của con người, cộng đồng người với những nhu cầu, lợi ích nhất định. Có nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội: lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đời sống xã hội trong công trình này chủ yếu lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội, nhưng là xét trong quan hệ với các lĩnh vực khác, hoặc bao gồm một phần lĩnh vực khác.

XUNG ĐỘT LỢI ÍCH GIỮA CÁ NHÂN VÀ TỔ CHỨC

CẢNH THÁI

Lợi ích của cá nhân hay của tổ chức quan trọng hơn? Bất công xảy ra đối với một người là có nguy cơ sẽ xảy ra đối với mọi người!

Báo chí trong nước đưa nhiều tin bài về vụ một huấn luyện viên Taekwondo đi máy bay của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines), và xảy ra va chạm với tiếp viên của hãng hàng không này. Đúng sai thuộc về ai chưa rõ nhưng đây là một điển hình cho xung đột lợi ích hay mâu thuẫn xuất hiện giữa một cá nhân và một tổ chức, hơn nữa, đây là một tổ chức có tính độc quyền về vận chuyển hàng không.

Tin tức khác cho thấy một vài cá nhân ở Hà Nội không đồng ý với quyết định bồi thường di dời căn nhà của mình cho dự án quy hoạch và xây dựng tại khu “đất vàng” của một công ty cổ phần về xây dựng và bất động sản đang thực hiện. Liệu các cá nhân không đồng ý với giá thỏa thuận đền bù có bị “cưỡng chế” giải tỏa để thực hiện dự án cho lợi ích của tổ chức?

Có dư luận cho rằng những người đại diện cho tổ chức như cô tiếp viên của Vietnam Airlines hay lực lượng an ninh hàng không hành động thái quá… Dư luận khác lại ủng hộ “tổ chức” và cho rằng các cá nhân có thể đã hành động “quá đáng”. Vị huấn luyện viên có thể đã “nóng nảy” hay “chống cự”, “bất hợp tác” với nhân viên hàng không… và chủ nhân các ngôi nhà trong dự án quy hoạch có thể đã “quá tham” khi không chấp nhận giá đền bù gần 1 tỉ đồng/mét vuông trong khi đời sống chung của người dân không được như vậy…

Bên cạnh đó, các thông tin phản hồi từ hàng trăm độc giả của các diễn đàn cho thấy có người ủng hộ cá nhân là vị huấn luyện viên không quen biết nọ hay ủng hộ các cá nhân là chủ nhân các ngôi nhà bị quy hoạch giải tỏa ở “khu đất vàng” Hà Nội vì họ ở vị thế yếu, bị “tổ chức” lớn, có tính độc quyền, các dịch vụ được tổ chức đưa ra có tính “không thể không theo hay không sử dụng được”.

Vấn đề đặt ra ở đây là liệu quyền lợi của cá nhân so với tổ chức có công bằng và được đặt ngang nhau? Khi có xung đột lợi ích giữa cá nhân và tổ chức hay tập thể, đặc biệt là các tổ chức có tính độc quyền cao như Vietnam Airlines hay các công ty đầu tư quy hoạch và xây dựng dự án dân cư… thì nên giải quyết trên cơ sở nào?Nếu chúng ta xem nhẹ lợi ích của cá nhân bất chấp các cá nhân này có lý lẽ đúng đắn thì trong tương lai nếu chính chúng ta rơi vào tình cảnh tương tự, ai sẽ bênh vực cho cá nhân chúng ta?

Continue reading

MẤY VẤN ĐỀ VỀ ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PGS.TSKH. LƯƠNG ĐÌNH HẢI – Phó viện trưởng Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt

Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và luận giải sự kết hợp, hòa trộn, thống nhất biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, giữa kinh tế và chính trị là nét độc đáo riêng của Việt Nam. Từ thực tiễn của hơn 20 năm đổi mới trong lĩnh vực này, tác giả đã đưa ra những yêu cầu mới và một số vấn đề cần quan tâm trong đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong giai đoạn tới đây của công cuộc đổi mới ở Việt Nam.

Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam được chính thức bắt đầu từ 1986 với khâu đột phá là đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế. Không thể nói một cách đơn giản rằng, ở Việt Nam, đổi mới kinh tế trước đổi mới chính trị sau. Trên thực tế, hai quá trình đó không tách rời nhau. Nhưng, rõ ràng là, Việt Nam đổi mới tư duy kinh tế trước, đổi mới tư duy chính trị sau theo nghĩa đổi mới chính trị ngay từ đầu đã không phải là trọng tâm và chủ yếu. Đổi mới tư duy, đổi mới các quan điểm, quan niệm về phương thức phát triển đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam, dù trước hết trong kinh tế thì cũng đã là đổi mới chính trị. Đổi mới các quan điểm chính trị chính là bước khởi đầu cho đổi mới trong kinh tế và trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

Nếu xét từ góc độ đó thì đổi mới ở Việt Nam lại không phải bắt đầu từ đổi mới kinh tế, mà đúng ra là bắt đầu từ đổi mới quan điểm, đường lối về cách thức phát triển kinh tế của Đảng, nghĩa là bắt đầu từ đổi mới các quan điểm chính trị trong lĩnh vực kinh tế. Dĩ nhiên, đổi mới chính trị ở đây chưa phải là đổi mới đồng bộ, toàn diện, tất cả các yếu tố, bộ phận của chính trị nói chung. Nhưng, rõ ràng là, không có đổi mới quan điểm về cách thức phát triển đất nước thì không thể có những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội trong đổi mới vừa qua. Nếu nhìn cả vào những tìm tòi, thử nghiệm trước Đại hội Đảng lần thứ VI thì rõ ràng là việc đổi mới quan điểm chính trị về phương thức phát triển kinh tế đã được bắt đầu sớm hơn nhiều so với mốc thời gian của Đại hội VI(1).

Trong quan hệ đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam khó có thể nói đổi mới kinh tế trước hay đổi mới chính trị trước. Nếu xét từng yếu tố riêng lẻ thì có thể kết luận là đổi mới kinh tế hoặc đổi mới chính trị trước. Nhưng, nếu xét tổng thể, toàn diện thì các kết luận như vậy là thiếu căn cứ. Sự kết hợp, hoà trộn giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, sự thống nhất biện chứng giữa kinh tế và chính trị, giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là nét độc đáo riêng của Việt Nam, khác với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây.

Continue reading

BÀN THÊM VỀ KHÁI NIỆM “GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC”

THS. ĐOÀN QUỐC THÁI – Học viện Kỹ thuật Quân sự

Trong bài viết này, tác giả bước đầu xác định và luận giải một số tính chất cơ bản của giá trị đạo đức, như tính xã hội, tính lịch sử cụ thể, tính định hướng cho hành động của con người,… Đồng thời, tác giả cũng phân tích quan hệ giữa giá trị đạo đức với các quy tắc, chuẩn mực đạo đức; làm rõ sự thống nhất và khác biệt giữa chúng.

Trong những năm gần đây, “giá trị đạo đức” là thuật ngữ xuất hiện với tần suất lớn trên các sách báo và tạp chí. Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy là chúng ta mới chủ yếu tập trung phân tích, luận giải các giá trị đạo đức cụ thể của đời sống đạo đức, mà hầu như ít bàn đến giá trị đạo đức với tư cách một khái niệm khoa học. Đây là một thiếu sót không nhỏ vì khái niệm là công cụ, phương tiện để nhận thức các đối tượng và do đó, nhận diện các giá trị đạo đức cụ thể một cách khách quan, khoa học nhất thiết phải dựa trên quan niệm thống nhất về “giá trị đạo đức”.

Giá trị là phạm trù được bàn đến và sử dụng từ rất sớm trong lịch sử tư tưởng, bắt đầu bằng quan niệm lợi ích của các nhà triết học cổ đại, như Xôcrát, Platôn, tiếp tục được phát triển ở thời kỳ trung cổ và cận đại. Tuy nhiên, phải đến tận nửa sau thế kỷ XIX những vấn đề về bản chất, cấu trúc của giá trị, vị trí của các giá trị trong hiện thực mới được nghiên cứu với tư cách là lý luận về giá trị. Ở Việt Nam, vấn đề giá trị mới được quan tâm từ khoảng những năm 80 của thế kỷ XX. Theo nhận xét của tác giả Hồ Sĩ Quý, hầu hết các nhà nghiên cứu đầu ngành của khoa học xã hội đều ít nhiều đã tham gia bàn luận về giá trị, giá trị văn hóa, giá trị đạo đức. Có thể kể đến một số tên tuổi tiêu biểu cho những bàn luận này, như Trần Văn Giàu, Trần Đình Hượu, Vũ Khiêu, Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Cao Xuân Hạo, Phan Ngọc, Nguyễn Văn Huyên… Tuy nhiên, “đi vào chi tiết vấn đề có thể nói còn khá tản mạn”([1]). Nhìn chung các học giả Việt Nam mới chỉ tập trung làm rõ các giá trị đạo đức cụ thể trong đạo đức truyền thống hoặc đạo đức mới, chứ chưa bàn đến giá trị đạo đức với tư cách một khái niệm. Cũng có một vài quan niệm đề cập đến khía cạnh này nhưng chỉ là sự tiếp cận bước đầu, còn hạn chế nhất định và chưa có sự thống nhất. Giá trị đạo đức, theo tác giả Mai Xuân Hợi, “là những cái được con người lựa chọn và đánh giá như việc làm có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội, được lương tâm đồng tình và dư luận biểu dương”(2). Quan niệm này mới chỉ bàn đến giá trị đạo đức từ phương diện lựa chọn, đánh giá của con người, tức là phương diện chủ quan của giá trị đạo đức. Theo tác giả Ngô Toàn, giá trị đạo đức là những chuẩn mực, những khuôn mẫu lý tưởng, những quy tắc ứng xử nhằm điều chỉnh và chuẩn hoá hành vi con người(3). Quan niệm này không đề cập đến mặt chủ quan của giá trị đạo đức, đồng nhất giá trị đạo đức với đạo đức.

Giá trị đạo đức, nhìn từ góc độ cấu thành hệ thống các giá trị tinh thần của đời sống xã hội, là một hình thái của giá trị tinh thần, có quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau với các giá trị khoa học, giá trị thẩm mỹ, giá trị chính trị… Về bản chất, bước đầu có thể khái quát những nội dung chính về giá trị đạo đức: thứ nhất, giá trị đạo đức mang tính xã hội. Thực ra, nói đến giá trị là giá trị xã hội, mang tính xã hội. Ngay cả những giá trị riêng biệt (của sự vật, hiện tượng) hay giá trị cá nhân đều được quy chiếu bởi cái chung, bởi sự thừa nhận, đánh giá của xã hội. Giá trị đạo đức cũng không nằm ngoài đặc điểm chung đó. Vì vậy, trong đời sống đạo đức từ cổ chí kim, dù ở phương Đông hay phương Tây thì vẫn có thể tìm thấy sự tương đồng của những giá trị đạo đức cơ bản, như yêu lao động, trung thực, nhân ái…

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 12/2011/TT-BLĐTBXH NGÀY 26 THÁNG 04 NĂM 2011 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU CHUNG ĐỐI VỚI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN DO NHÀ NƯỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU

Căn cứ Nghị định số 22/2011/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu chung;
Căn cứ Nghị định số 186/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội;
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện mức lương tối thiểu chung đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu như sau:

Điều 1. Phạm vi và đối tượng áp dụng

Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động; thành viên Hội đồng thành viên (hoặc Chủ tịch công ty), Kiểm soát viên, Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng (không bao gồm Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng làm việc theo hợp đồng) trong các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, bao gồm:

1. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc các Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

2. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được chuyển đổi từ Tổng công ty, Công ty mẹ của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng các Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định chuyển đổi, phê duyệt điều lệ tổ chức hoạt động.

3. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng các Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập, chuyển đổi và phê duyệt điều lệ tổ chức hoạt động.

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu quy định tại khoản 1, 2 và khoản 3 nêu trên sau đây gọi tắt là công ty.

Điều 2. Áp dụng mức lương tối thiểu chung để tính các mức lương.

Công ty áp dụng mức lương tối thiểu chung 830.000 đồng/tháng để tính các mức lương, mức phụ cấp lương kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2011 như sau:

1. Căn cứ mức lương tối thiểu chung và hệ số lương trong các thang lương, bảng lương và phụ cấp lương quy định tại Nghị định số 205/2004/NĐ-CP, Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ, công ty tính lại mức lương, phụ cấp lương làm cơ sở đóng, hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; tiền lương ngừng việc; nghỉ ngày lễ; nghỉ hàng năm và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động.

2. Việc tính mức lương trong các thang lương, bảng lương và phụ cấp lương được thực hiện như sau: lấy hệ số lương cấp bậc theo chức danh nghề, công việc; hệ số lương chuyên môn, nghiệp vụ; hệ số lương chức vụ được xếp, phụ cấp lương, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có) nhân với mức lương tối thiểu chung 830.000 đồng/tháng.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 13/2011/TT-BLĐTBXH NGÀY 27 THÁNG 04 NĂM 2011 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI HƯỚNG DẪN ĐIỀU CHỈNH LƯƠNG HƯU, TRỢ CẤP BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ TRỢ CẤP HÀNG THÁNG THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 23/2011/NĐ-CP NGÀY 04 THÁNG 4 NĂM 2011 VÀ NGHỊ ĐỊNH SỐ 22/2011/NĐ-CP NGÀY 04 THÁNG 4 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ

Căn cứ Nghị định số 186/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội;
Căn cứ Nghị định số 23/2011/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã đã nghỉ việc (sau đây được viết là Nghị định số 23/2011/NĐ-CP);
Căn cứ Nghị định số 22/2011/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu chung (sau đây được viết là Nghị định số 22/2011/NĐ-CP);
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng như sau:

Điều 1. Đối tượng áp dụng

1. Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động (kể cả người nghỉ hưu hưởng trợ cấp hàng tháng từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang theo quy định tại Quyết định số 41/2009/QĐ-TTg ngày 16 tháng 3 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ); quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu trước ngày 01 tháng 5 năm 2011.

2. Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2003 và Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 1998 của Chính phủ đang hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng trước ngày 01 tháng 5 năm 2011.

3. Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng; người đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 04 tháng 8 năm 2000, Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ và công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hàng tháng trước ngày 01 tháng 5 năm 2011.

4. Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp hàng tháng trước ngày 01 tháng 5 năm 2011.

5. Người đang hưởng trợ cấp tuất hàng tháng trước ngày 01 tháng 5 năm 2011.

6. Người đang hưởng trợ cấp ốm đau, thai sản trước ngày 01 tháng 5 năm 2011 thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định mà từ ngày 01 tháng 5 năm 2011 trở đi còn thời hạn hưởng trợ cấp theo quy định.

Điều 2. Điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng

1. Đối tượng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 1 Thông tư này đang hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng, mức lương hưu, trợ cấp hàng tháng được điều chỉnh như sau:

Continue reading

TÀI SẢN DÙNG ĐỂ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NHIỀU NGHĨA VỤ: ƯU TIÊN THANH TOÁN CHO AI?

VŨ HỒNG

Xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các chủ thể cùng nhận một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ là một vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn xét xử của Tòa án và thực tiễn ký kết, thực hiện hợp đồng bảo đảm của các ngân hàng thời gian qua.

Được coi là mục tiêu quan trọng hàng đầu khi xây dựng hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm, nhưng dường như vấn đề nêu trên chưa thực sự được quan tâm đầy đủ và toàn diện.

Giấy tờ gốc hay thời điểm đăng ký quan trọng hơn?

Đầu tháng 7/2010, tòa án nhân dân tỉnh P thụ lý một vụ tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa Chi nhánh Ngân hàng X (dưới đây gọi tắt là X) và Chi nhánh Ngân hàng Y (dưới đây gọi tắt là Y) xoay quanh việc X nhận thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay của Công ty TNHH A và sau đó Công ty TNHH A lại dùng tài sản hình thành từ vốn vay đó thế chấp tại Y để vay vốn. A mất khả năng thanh toán, làm nảy sinh vấn đề xử lý tài sản thế chấp. Theo bản án sơ thẩm số 05/2010/KDTM-ST ngày 09/7/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh P thì Y được hưởng quyền ưu tiên phát mãi tài sản thế chấp vì đã “xuất trình toàn bộ các giấy tờ gốc của tài sản”, còn X không được hưởng quyền ưu tiên phát mãi tài sản thế chấp vì “không cầm, nắm giữ cơ sở pháp lý gốc của tài sản thế chấp”.

X không “tâm phục khẩu phục”, vì họ đã đăng ký giao dịch bảo đảm trước Y tới hơn 1 năm, cùng tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại TP Đà Nẵng (Giấy chứng nhận đăng ký thế chấp tài sản giữa A và X có thời điểm đăng ký là 13h56’ phút ngày 14 tháng 4 năm 2006; trong khi việc đăng ký thế chấp tài sản giữa A và Y có thời điểm đăng ký là 15h21’ ngày 4 tháng 6 năm 2007).

Tra lại các quy định của pháp luật hiện hành về thời điểm đăng ký, thứ tự ưu tiên thanh toán và căn cứ xác định thứ tự ưu tiên thanh toán thì “một tài sản có thể bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” (khoản 1, Điều 324 BLDS 2005).

Continue reading