MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN TRAO ĐỔI THÊM VỀ ĐỊNH HƯỚNG SỬA ĐỔI CƠ BẢN BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 [1]

NGUYỄN HỒNG HẢI

Nằm trong các hoạt động chuẩn bị sửa đổi cơ bản Bộ luật dân sự năm 2005, trong hai ngày (02/03/2011 và 27/04/2011), Bộ Tư pháp và Tổ chức Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã phối hợp tổ chức Tọa đàm giữa các chuyên gia Việt Nam với các chuyên gia dài hạn của Nhật Bản về một số định hướng sửa đổi cơ bản Bộ luật dân sự năm 2005. Đại diện của Vụ Pháp luật dân sự – kinh tế (Bộ Tư pháp) Viện khoa học xét xử (Tòa án nhân dân tối cao) và chuyên gia Nhật Bản đã tập trung thảo luận về bốn nội dung: (1) yêu cầu, phạm vi và tiến độ sửa đổi cơ bản Bộ luật Dân sự năm 2005; (2) một vài vấn đề cần được nghiên cứu để xây dựng Bộ luật dân sự; (3) một số định hướng trong sửa đổi phần quy định chung của Bộ luật dân sự; (4) một số bất cập trong thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2005.

Về cơ bản, các chuyên gia Việt Nam và Nhật Bản đã nhất trí về định hướng sửa đổi cơ bản bộ luật dân sự năm 2005 và những nguyên tắc mà nhóm biên tập[2] đưa ra bao gồm:

Thứ nhất, Bộ luật dân sự phải thể chế hóa được đầy đủ các quan điểm mới của Đảng về xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và thể chế kinh tế thị trường trong các văn kiện đã được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng: (1) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); (2) Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020; (3)  Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng;

Thứ hai, tiếp nhận các quan điểm khoa học, khái niệm, phạm trù khoa học pháp lý liên quan đến Bộ luật dân sự mà trước đây chưa được áp dụng, ví dụ: trái quyền, vật quyền… Bên cạnh đó, kế thừa các thành tựu xây dựng pháp luật về dân sự ở Việt Nam và trên thế giới;

– Thứ ba, đặt Bộ luật dân sự ở vai trò là luật gốc, luật cơ bản của hệ thống luật tư, có tính trừu tượng hóa cao, khái quát hóa cao, điều chỉnh các quan hệ xã hội ổn định, không quy định các vấn đề phụ thuộc nhiều vào các quyết định chính trị để đảm bảo tính ổn định của Bộ luật dân sự;

– Thứ tư, xác định Bộ luật dân sự là bộ luật của lưu thông dân sự, bình đẳng, tôn trọng quyền tự quyết, tự định đoạt của các chủ thể;

– Thứ năm, tăng cường các biện pháp tôn trọng và bảo đảm quyền dân sự.

Tuy nhiên, tại Tọa đàm có nhiều vấn đề còn có những ý kiến khác nhau, cần có nghiên cứu cơ bản, sự trao đổi khoa học từ phía các chuyên gia Việt Nam và nước ngoài Nhật Bản trong quá trình xây dựng dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi.

1. Về nguồn của Luật dân sự

Trên cơ sở đề xuất của nhóm biên tập, bên cạnh quy phạm pháp luật và tập quán (Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2005), cần thừa nhận học thuyết pháp lý và án lệ là nguồn của luật dân sự, các đại biểu tham dự tọa đàm đã đưa ra hai quan điểm:

HỘ GIA ĐÌNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI: PHÁP LUẬT CHƯA CÓ HƯỚNG DẪN CỤ THỂ

NGUYỄN QUANG DANH

Trong cuộc sống ngoài xã hội có rất nhiều giao dịch, quan hệ tài sản có liên quan đến hộ gia đình ở lĩnh vực đất đai, tài sản gắn liền với đất. Tuy nhiên, quy định về hộ gia đình vẫn chưa được làm sáng tỏ, gây lúng túng cho cơ quan quản lý cũng như người dân.

Hộ gia đình Theo Điều 106 BLDS quy định, hộ gia đình là những hộ mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật quy định. Hộ gia đình là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực nầy.

Quyền tài sản của hộ gia đình Theo Điều 107 BLDS quy định:

1. Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Cha, mẹ hoặc 1 thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ. Chủ hộ có thể ủy quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ quan hệ dân sự.

2. Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình.

Điều 108 BLDS quy định: “Tài sản chung của hộ gia đình gồm QSD đất, QSD rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản docác thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung của hộ”.

Bên cạnh đó. Hộ gia đình phải chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ; nếu tài sản chung của hộ không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình (theo khoản 2, Điều 110 BLDS).

Continue reading

NHỮNG BẤT CẬP VỀ GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

LS. NGUYỄN VĂN HẬU – Trưởng văn phòng Luật sư Nguyễn Văn Hậu và Cộng sự

Hiện nay những quy định về cấp GCNQSDĐ cho người dân trong các văn bản pháp luật có liên quan đã phần nào phát huy được hiệu quả, tạo sự thống nhất trong quản lý nhà, đất. Tuy nhiên cạnh đó, các văn bản này cũng dần lộ rõ sự bất hợp lý, cần được xem xét lại.

Với việc sửa đổi, bổ sung Luật dất đai 2003 và sự ra đời của Nghị định số 88/2009/NĐ – CP ngày 19/10/2009 về cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất,  hai loại GCN về quyền sử dụng đất (sổ đỏ) cấp theo Nghị định 181//2004/NĐ-CP và quyền sở hữu nhà (sổ hồng) cấp theo Nghị định 90/2006/NĐ –CP trước đây đã được gộp vào thành một sổ mới (sổ đỏ mới).

Hiện tại có 5 loại mẫu GCN cho nhà và đất song song tồn tại, gồm: sổ đỏ được cấp theo Luật Đất đai năm 1993; sổ đỏ cấp theo Luật đất đai năm 2003; GCN quyền sở hữu nhà ở (sổ hồng) cấp theo Nghị định 61/CP năm 1994 về mua bán kinh doanh nhà ở; GCN quyền sở hữu nhà (sổ hồng mới) cấp theo Luật Nhà ở và Nghị định 90/2006/NĐ – CP năm 2006 và cuối cùng là sổ đỏ được cấp theo Nghị Định số 88/2009/NĐ – CP.

Nghị định 88/2009/NĐ – CP được ban hành nhằm giải quyết một số vấn đề bất cập trong các quy định trước đây về cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu tài sản. Cụ thể: (i) Hạn chế việc đi lại của người dân, để đăng ký được GCN này thì người dân chỉ phải làm thủ tục tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện (nếu ở cấp huyện không thành lập văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thì làm thủ tục tại phòng Tài nguyên và môi trường tại huyện đó); (ii) Bốn loại mẫu GCN hiện hành không phù hợp yêu cầu chứng nhận QSDĐ và QSHTS (Tên gọi từng loại mẫu không bao quát hết; Nội dung các loại mẫu không bao hàm tất cả các loại đất, các loại tài sản;\.

Một số hạn chế của từng loại mẫu: Phần dành cho chỉnh lý biến động ít; Không thống nhất nội dung giữa các loại GCN; Hình thức thì giấy quá dầy…) ; (iii) Thống nhất về thẩm quyền cấp GCN ở văn phòng đăng ký QSDĐ ở 2 cấp: cấp huyện cấp giấy cho hộ gia đình, cá nhân và cấp tỉnh, thành phố cấp cho tổ chức…

Bên cạnh những ưu điểm đạt được thì với quy định mới về cấp GCNQSDĐ hiện nay đang gặp phải một số khó khăn nhất định. Những bất cập, khó khăn này sẽ được chúng tôi phân tích trên 2 phương diện về lý luận và trên thực tế.

Về  lý luận

Thứ nhất, Người dân có nhu cầu thực tế nhưng Luật lại không cho nhận chuyển QSDĐ nông nghiệp. Theo Điều 1 Nghị quyết 1126/NQ – QH ngày 21/6/2007 có quy định người dân sẽ bị hạn chế trong việc nhận chuyển QSDĐ nông nghiệp. Điểm bất hợp lý này được thể hiện thông qua việc, nếu Nông dân cần ứng dụng Khoa học – Công nghệ vào toàn bộ quá trình sản xuất nông nghiệp như trồng, chăm sóc và thu hoạch lúa…trên quy mô lớn nhằm nâng cao tối đa năng suất, giảm chi phí sản xuất. Để đạt mục đích trên thì yêu cầu cơ bản là diện tích đất sản xuất phải lớn.

Continue reading