MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CẤU TRÚC CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ VIỆC CẤU TRÚC LẠI BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

imageNGUYỄN HỒNG HẢI

Cấu trúc Bộ luật dân sự là cách thức tổ chức, phân chia, sắp xếp và bố trí các phần, các chương, mục theo một hệ thống nhất định để thể hiện nội dung của Bộ luật dân sự. Nhìn vào cấu trúc của một bộ luật, người ta có thể thấy sự mạch lạc, quan điểm nhất quán có tính chiến lược và ý đồ của nhà làm luật khi điều chỉnh các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật. Đồng thời, qua đó cũng thấy được tính hợp lý, logic, hệ thống của các nội dung được quy định.

Xét về bản chất, cấu trúc của Bộ luật dân sự không làm thay đổi nhiệm vụ của nó[1]. Tuy nhiên, tùy thuộc vào mục đích triển khai mục tiêu, nội dung của Bộ luật dân sự, nhà làm luật các nước kết cấu Bộ luật dân sự theo những cách tiếp cận khác nhau. Trong đó, có hai phương thức cơ bản là Institutiones và Pandekten[2].

1. Institutiones (Institutional system), kết cấu Bộ luật dân sự thành các phần, chương theo chức năng của luật: chủ thể = người (luật về người – personae), khách thể = vật (luật về vật – res), hành vi = chuyển dịch tài sản (actiones). Phương thức này được sử dụng để kết cấu Bộ luật dân sự của Pháp, Áo, Ai Cập… và các Bộ Dân luật Bắc Kỳ (năm 1931), Bộ Dân luật Trung Kỳ – Hoàng Việt Trung kỳ Hộ luật (năm 1936) và Bộ Dân luật năm 1972 của chế độ miền Nam Việt Nam ;

2. Pandekten (Pandectist System), kết cấu Bộ luật dân sự thành các phần, chương theo hướng khái quát lý luận. Theo đó, Bộ luật dân sự được kết cấu theo các phần: (1) qui định chung, (2) vật quyền, (3) phần nghĩa vụ, (4) phần gia đình, (5) phần thừa kế. Phương thức này được sử dụng để kết cấu Bộ luật dân sự Đức, Thụy Sỹ, Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan…, kết cấu Bộ luật dân sự năm 1995 và 2005 của Việt Nam ở một khía cạnh nào đó cũng chịu ảnh hưởng theo phương thức này.

1. Cấu trúc của Bộ luật dân sự năm 2005

Bộ luật dân sự năm 2005 của Việt Nam được kết cấu thành 7 phần: (1) Những quy định chung (Điều 1 – Điều 162), (2) Tài sản và quyền sở hữu (Điều 163 – Điều 279), (3) Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự (Điều 280 – Điều 630), (4) Thừa kế (Điều 631 – Điều 687), (5) Quy định về chuyển quyền sử dụng đất (Điều 688 – Điều 735), (6) Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ (Điều 736 – Điều 757), (7) Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (Điều 758 – Điều 777).

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1440/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 10 THÁNG 05 NĂM 2011 CỦA BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ LẤY TIỀN LƯƠNG LÀM CĂN CỨ ĐỂ TÍNH TRỢ CẤP THÔI VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

Kính gửi:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre

Trả lời công văn số 320/SLĐTBXH ngày 15/4/2011 của quý Sở về việc áp dụng mức lương để tính trợ cấp thôi việc cho người lao động, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Theo quy định tại Điều 41 Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ thì tiền lương, tiền công làm căn cứ tính chế độ trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo pháp luật về lao động là tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có).

Theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 205/2004/NĐ-CP ngày 31/12/2004 của Chính phủ thì hệ thống thang lương, bảng lương, phụ cấp lương quy định tại Điều 3 và Điều 4 Nghị định này làm cơ sở để thỏa thuận tiền lương trong hợp đồng lao động, trả lương ngừng việc và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động.

Công ty Xuất nhập khẩu Lâm thủy sản Bến Tre (là doanh nghiệp nhà nước) khi chuyển thành Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Lâm Thủy sản Bến Tre vẫn đăng ký áp dụng thang lương, bảng lương theo Nghị định số 205/2004/NĐ-CP thì tiền lương làm căn cứ để tính trợ cấp thôi việc cho người lao động là tiền lương được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng lao động theo thang lương, bảng lương, phụ cấp lương theo quy định tại Nghị định 205/2004/NĐ-CP nêu trên (hệ số lương x mức lương tối thiểu chung do Chính phủ quy định).

2. Trường hợp của ông Nguyễn Hoàng Ân, theo công văn trình bày của quý Sở thì ông Ân có cả thời gian giữ chức vụ Phó Tổng giám đốc doanh nghiệp nhà nước và giữ chức thành viên Hội đồng quản trị công ty cổ phần. Theo quy định tại khoản 2, Điều 2, Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ thì hai chức danh trên không thuộc diện ký hợp đồng lao động. Vì vậy, đề nghị quý Sở căn cứ vào diễn biến cụ thể việc chấm dứt hợp đồng lao động và quá trình làm việc theo hợp đồng lao động của ông Ân tại Công ty Xuất nhập khẩu Lâm Thủy sản Bến Tre để xác định cụ thể việc tính trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Nghị định số 44/2003/NĐ-CP nêu trên.

Tương tự trường hợp ông Đinh Hoàng Vinh, đề nghị căn cứ cụ thể vào quá trình làm việc theo hợp đồng lao động của ông Vinh tại Công ty Xuất nhập khẩu Lâm Thủy sản Bến Tre và Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Lâm Thủy sản Bến Tre để tính trợ cấp thôi việc theo Nghị định số 44/2003/NĐ-CP nêu trên.

Trên đây là ý kiến của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, trả lời để quý Sở biết.

TL. BỘ TRƯỞNG
KT. VỤ TRƯỞNG VỤ LAO ĐỘNG-TIỀN LƯƠNG
PHÓ VỤ TRƯỞNG
Hoàng Minh Hào

SAO CỨ KIỆN VÒNG VO

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Tối nay đi uống cà fê hả?“ tôi rủ người bạn luật sư và bị từ chối ngay: “Chịu thôi, trời mưa đường ngập, lỡ sụp hố là tiêu đời ông ơi”. “Dũng cảm lên, sụp hố thì ông kiện làm gương đi”. “Còn lâu mới tìm ra mấy công ty làm cống thì kiện thế nào được”. Sao lại kiện công ty? Tôi hỏi và bị hỏi vặn: Chứ kiện ai?

Ai cũng từng nghe “Nhà vua không bao giờ sai” . Không phải vì Vua là thiên tài, hiểu biết tất cả, mà chỉ đơn giản vì đó là Vua. Nhà Vua ban hành luật lệ, nhưng không bị ràng buộc hay hạn chế bởi luật lệ. Chế độ quân chủ được thay thế bởi chế độ cộng hòa. Thoạt đầu, Nhà nước thay thế vị trí của Vua và cũng không bao giờ sai, vì hiển nhiên Nhà nước không thể sai. Chỉ có nhân viên Nhà nước làm sai mà thôi.

Cùng với sự hình thành Nhà nước pháp quyền là sự xuất hiện ý thức, triết lý pháp lý mới. Bản chất Nhà nước pháp quyền là sự ràng buộc Nhà nước và việc sử dụng quyền lực Nhà nước bằng pháp luật. Như vậy Nhà nước có thể sai, có thể vi phạm pháp luật. Theo nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước phải chịu hoàn toàn trách nhiệm- kể cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại-đối với những hành vi vi phạm pháp luật của mình như mọi thành viên khác trong xã hội.

Điều 2 Hiến pháp 1992 của nước CHXHCN Việt nam (sửa đổi năm 2001), nêu rõ Nhà nước là của dân, do dân, vì dân, toàn bộ quyền lực Nhà nước là của dân. Chính điều này xác định rõ quan hệ giữa Nhà nước với người dân (công dân). Người dân trao quyền lực Nhà nước cho 03 cơ quan hiến định là Quốc hội, Chính phủ và Tư pháp sử dụng. Vì vậy, các cơ quan này phải chịu trách nhiệm trực tiếp với người dân về việc sử dụng quyền lực Nhà nước đúng mục đích vì dân, trên cơ sở và trong khuôn khổ pháp luật.

Cùng với sự phát triển quan niệm về quyền lực Nhà nước, người ta cũng chứng kiến sự thay đổi quan niệm về người phải chịu trách nhiệm khi sử dụng sai quyền lực công. Trước kia, công chức nào nào làm sai, người đó phải chịu trách nhiệm, vì Nhà nước không thể sai. (Chẳng hạn như Luật nước Phổ – nước Đức xưa – năm 1794 qui định). Ngày nay, khi quyền lực Nhà nước bị sử dụng sai, người chịu trách nhiệm là người trực tiếp nhận quyền lực ấy từ người dân: 03 cơ quan hiến định. Trên nguyên tắc, ngay cả khi cá nhân công chức làm sai thì Nhà nước cũng phải là người chịu trách nhiệm, vì công chức chỉ là người được Nhà nước ủy quyền thực hiện quyền lực Nhà nước cho những trường hợp cụ thể. Trong ý nghĩa pháp lý, điều đó có nghĩa là người dân có thể và trước tiên cần khởi kiện trực tiếp Chính phủ khi Chính phủ không hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Trong Nhà nước pháp quyền, quyền lực được trao là để hoàn thành những nhiệm vụ xác định. Người dân trao cho 3 cơ quan hiến định (Quốc hội, Chính phủ, Tòa án) quyền lực Nhà nước là để hoàn thành những nhiệm vụ vì dân được qui định trong Hiến pháp (những nhiệm vụ cơ bản chung), trong đó có nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự công cộng, bảo đảm các điều kiện sống tối thiểu …Điều 3 Hiến pháp CHXHCNVN còn qui định nhiệm vụ cao hơn thế cho Nhà nước: Nhà nước phải đảm bảo thực hiện mục tiêu cho „mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện…“. Các cơ quan hiến định phải trực tiếp chịu trách nhiệm trước dân khi không hoàn thành những nhiệm vụ cơ bản chung này.

Continue reading