HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TRÁI PHÁP LUẬT

TS. TRẦN HOÀNG HẢI & THS. ĐỖ HẢI HÀ – Đại học Luật TPHCM

Hợp đồng lao động (HĐLĐ) là một trong các chế định quan trọng nhất của pháp luật lao động1. Việc xây dựng và ban hành các quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ), giúp ổn định và hài hoà hóa QHLĐ trong doanh nghiệp. Tuy nhiên trên thực tế, rất nhiều các tranh chấp lao động mà Tòa án đã và đang giải quyết là những tranh chấp liên quan đến một vấn đề rất quan trọng của chế định này – trách nhiệm của NSDLĐ trong việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật. Bài viết phân tích một số bất hợp lý trong các quy định hiện hành về trách nhiệm của NSDLÐ đơn phương chấm dứt HÐLÐ trái pháp luật, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về vấn đề này trong Dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động (Dự thảo)2.

1. Những bất cập trong quy định hiện hành về trách nhiệm của NSDLÐ đơn phương chấm dứt HÐLÐ trái pháp luật

Theo Điều 41 Bộ luật Lao động năm 1994 đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006 và 2007 (BLLĐ), NSDLÐ đơn phương chấm dứt HÐLÐ trái pháp luật phải chịu những trách nhiệm pháp lý sau: “1. Trong trường hợp NSDLÐ đơn phương chấm dứt HÐLÐ trái pháp luật thì phải nhận NLĐ trở lại làm công việc theo hợp đồng đã ký và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) trong những ngày NLĐ không được làm việc cộng với ít nhất hai tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có).

Trong trường hợp NLĐ không muốn trở lại làm việc, thì ngoài khoản tiền được bồi thường quy định tại đoạn 1 khoản này, NLĐ còn được trợ cấp theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật này.

Trong trường hợp NSDLĐ không muốn nhận NLĐ trở lại làm việc và NLĐ đồng ý thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại đoạn 1 khoản này và trợ cấp quy định tại Điều 42 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận về khoản tiền bồi thường thêm cho NLĐ để chấm dứt HÐLÐ…; 4. Trong trường hợp đơn phương chấm dứt HÐLÐ, nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước, bên vi phạm phải bồi thường cho bên kia một khoản tiền tương ứng với tiền lương của NLĐ trong những ngày không báo trước”.

Quy định này có một số điểm không rõ ràng và chưa thực sự hợp lý. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, quy định buộc NSDLÐ đơn phương chấm dứt HÐLÐ trái pháp luật, trong mọi trường hợp, phải nhận NLÐ trở lại làm việc theo hợp đồng đã ký là không phù hợp và không khả thi.

Trước hết, phải thừa nhận rằng, chế tài buộc NSDLÐ nhận NLÐ trở lại làm việc theo hợp đồng đã ký có ưu điểm là khôi phục tình trạng ban đầu của bên bị vi phạm – NLÐ, nhằm bảo vệ NLĐ và đồng thời ngăn ngừa tình trạng NSDLĐ chấm dứt HĐLĐ tràn lan. Chế tài này cũng phù hợp với tinh thần của các quy định hiện hành trong Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS) về trách nhiệm dân sự mà theo đó, bên vi phạm nghĩa vụ dân sự phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đối với bên bị vi phạm3. Tuy nhiên, chế tài này cũng chứa đựng một số điểm hạn chế:

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 12/2011/TT-NHNN NGÀY 17 THÁNG 05 NĂM 2011 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ VIỆC QUẢN LÝ, SỬ DỤNG CHỮ KÝ SỐ, CHỨNG THƯ SỐ VÀ DỊCH VỤ CHỨNG THỰC CHỮ KÝ SỐ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 ngày 16/6/2010;
Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010;
Căn cứ Luật công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ngày 29/6/2006;
Căn cứ Luật giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 ngày 29/11/2005;
Căn cứ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Căn cứ Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 25/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số;
Thực hiện Nghị quyết số 60/NQ-CP về đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) quy định về việc quản lý, sử dụng chữ ký số, chứng thư số và dịch vụ chứng thực chữ ký số của Ngân hàng Nhà nước như sau:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định việc quản lý, sử dụng chữ ký số, chứng thư số và dịch vụ chứng thực chữ ký số trong giao dịch điện tử của Ngân hàng Nhà nước.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Tổ chức, cá nhân thuộc Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng; chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Kho bạc Nhà nước.

2. Tổ chức khác lựa chọn sử dụng dịch vụ chứng thực chữ ký số của Ngân hàng Nhà nước trong các hoạt động giao dịch điện tử do Ngân hàng Nhà nước tổ chức.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. “Chứng thư số” là một dạng chứng thư điện tử do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số của Ngân hàng Nhà nước cấp.

2. “Dịch vụ chứng thực chữ ký số” là một loại hình dịch vụ do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số của Ngân hàng Nhà nước cấp. Dịch vụ chứng thực chữ ký số bao gồm:

a) Tạo cặp khóa bao gồm khóa công khai và khóa bí mật cho thuê bao;

b) Cấp, gia hạn, tạm dừng, phục hồi và thu hồi chứng thư số của thuê bao;

c) Duy trì trực tuyến cơ sở dữ liệu về chứng thư số;

d) Những dịch vụ khác theo quy định của Nghị định chữ ký số.

Continue reading

BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ BẰNG BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH

TRẦN MINH DŨNG – Chánh Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ

I. Quy định pháp luật về biện pháp hành chính xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

1. Tại sao sử dụng biện pháp hành chính để xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ?

Khác với quyền sở hữu tài sản thông thường, quyền sở hữu trí tuệ có đặc điểm là đối tượng quyền tồn tại chủ yếu dưới dạng thông tin, do đó có khả năng lan truyền rộng lớn và dễ có khả năng được vật chất hoá hàng hoạt, sau đó trở thành thực thể tác động, ảnh hưởng đến đời sống của nhiều người, cũng như của cả xã hội. Do vậy, một hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không chỉ gây hậu quả tiêu cực cho người nắm giữ quyền bị xâm phạm đó, mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều người tiêu dùng khác, cũng như ảnh hưởng tiêu cực đối với xã hội.

Như vậy, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng là hành vi vi phạm pháp luật về bảo hộ và quản lý nhà nước trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ (Nhà nước đã xác lập quyền cho chủ thể quyền và nghiêm cấm hành vi xâm phạm quyền của chủ sở hữu trí tuệ) và gây ảnh hưởng đến lợi ích của chủ thể quyền, lợi ích của người tiêu dùng và gây ảnh hưởng tiêu cực cho xã hội cần phải loại trừ. Do vậy, trong một số trường hợp nhất định, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể coi là hành vi vi phạm hành chính.[1]

Pháp luật về sở hữu trí tuệ có quy định về việc Nhà nước có trách nhiệm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể quyền và việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là hành vi vi phạm pháp luật. Một hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không chỉ gây tổn hại cho chủ thể quyền đối với đối tượng sở hữu trí tuệ bị xâm phạm, mà còn có thể gây thiệt hại đến lợi ích của người thứ ba – người tiêu dùng trong xã hội và có thể nói là gây tổn hại cho lợi ích của xã hội. Ví dụ, việc xâm phạm quyền đối với một nhãn hiệu hàng hoá, thì hành vi xâm phạm quyền đó không chỉ gây tổn hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu bị xâm phạm (giảm thị phần, giảm lợi nhuận, làm suy giảm lòng tin của khách hàng vào sản phẩm mang nhãn hiệu đó…), mà còn gây thiệt hại cho người tiêu dùng khi mua phải hàng giả, hàng nhái nhãn hiệu hàng hoá đó (như chất lượng không được như hàng thật nhưng phải trả tiền với giá trị tương đương với hàng thật; đôi khi còn gây tổn hại đến sức khoẻ, tính mạng nếu hàng giả, hàng nhái đó liên quan đến thực phẩm hoặc dược phẩm…).

Trong bối cảnh trình độ công nghệ ngày càng cao, việc sản xuất các sản phẩm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể được tiến hành với quy mô lớn và hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng được lưu thông với phạm vi rộng, khiến cho số người bị ảnh hưởng hoặc bị tổn hại cũng sẽ chiếm số đông trong xã hội. Vì vậy, các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng thuộc loại hành vi chống lại lợi ích xã hội. Do đó, bên cạnh quan hệ dân sự, vấn đề xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng được xem xét và xử lý theo khía cạnh hành chính. Mục tiêu của biện pháp hành chính trong thực thi quyền sở hữu trí tuệ là bảo vệ lợi ích của người thứ ba và của xã hội, cũng chính là gián tiếp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể quyền.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CẤU TRÚC CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ VIỆC CẤU TRÚC LẠI BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

imageNGUYỄN HỒNG HẢI

Cấu trúc Bộ luật dân sự là cách thức tổ chức, phân chia, sắp xếp và bố trí các phần, các chương, mục theo một hệ thống nhất định để thể hiện nội dung của Bộ luật dân sự. Nhìn vào cấu trúc của một bộ luật, người ta có thể thấy sự mạch lạc, quan điểm nhất quán có tính chiến lược và ý đồ của nhà làm luật khi điều chỉnh các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật. Đồng thời, qua đó cũng thấy được tính hợp lý, logic, hệ thống của các nội dung được quy định.

Xét về bản chất, cấu trúc của Bộ luật dân sự không làm thay đổi nhiệm vụ của nó[1]. Tuy nhiên, tùy thuộc vào mục đích triển khai mục tiêu, nội dung của Bộ luật dân sự, nhà làm luật các nước kết cấu Bộ luật dân sự theo những cách tiếp cận khác nhau. Trong đó, có hai phương thức cơ bản là Institutiones và Pandekten[2].

1. Institutiones (Institutional system), kết cấu Bộ luật dân sự thành các phần, chương theo chức năng của luật: chủ thể = người (luật về người – personae), khách thể = vật (luật về vật – res), hành vi = chuyển dịch tài sản (actiones). Phương thức này được sử dụng để kết cấu Bộ luật dân sự của Pháp, Áo, Ai Cập… và các Bộ Dân luật Bắc Kỳ (năm 1931), Bộ Dân luật Trung Kỳ – Hoàng Việt Trung kỳ Hộ luật (năm 1936) và Bộ Dân luật năm 1972 của chế độ miền Nam Việt Nam ;

2. Pandekten (Pandectist System), kết cấu Bộ luật dân sự thành các phần, chương theo hướng khái quát lý luận. Theo đó, Bộ luật dân sự được kết cấu theo các phần: (1) qui định chung, (2) vật quyền, (3) phần nghĩa vụ, (4) phần gia đình, (5) phần thừa kế. Phương thức này được sử dụng để kết cấu Bộ luật dân sự Đức, Thụy Sỹ, Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan…, kết cấu Bộ luật dân sự năm 1995 và 2005 của Việt Nam ở một khía cạnh nào đó cũng chịu ảnh hưởng theo phương thức này.

1. Cấu trúc của Bộ luật dân sự năm 2005

Bộ luật dân sự năm 2005 của Việt Nam được kết cấu thành 7 phần: (1) Những quy định chung (Điều 1 – Điều 162), (2) Tài sản và quyền sở hữu (Điều 163 – Điều 279), (3) Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự (Điều 280 – Điều 630), (4) Thừa kế (Điều 631 – Điều 687), (5) Quy định về chuyển quyền sử dụng đất (Điều 688 – Điều 735), (6) Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ (Điều 736 – Điều 757), (7) Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (Điều 758 – Điều 777).

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1440/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 10 THÁNG 05 NĂM 2011 CỦA BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ LẤY TIỀN LƯƠNG LÀM CĂN CỨ ĐỂ TÍNH TRỢ CẤP THÔI VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

Kính gửi:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre

Trả lời công văn số 320/SLĐTBXH ngày 15/4/2011 của quý Sở về việc áp dụng mức lương để tính trợ cấp thôi việc cho người lao động, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Theo quy định tại Điều 41 Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ thì tiền lương, tiền công làm căn cứ tính chế độ trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo pháp luật về lao động là tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có).

Theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 205/2004/NĐ-CP ngày 31/12/2004 của Chính phủ thì hệ thống thang lương, bảng lương, phụ cấp lương quy định tại Điều 3 và Điều 4 Nghị định này làm cơ sở để thỏa thuận tiền lương trong hợp đồng lao động, trả lương ngừng việc và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động.

Công ty Xuất nhập khẩu Lâm thủy sản Bến Tre (là doanh nghiệp nhà nước) khi chuyển thành Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Lâm Thủy sản Bến Tre vẫn đăng ký áp dụng thang lương, bảng lương theo Nghị định số 205/2004/NĐ-CP thì tiền lương làm căn cứ để tính trợ cấp thôi việc cho người lao động là tiền lương được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng lao động theo thang lương, bảng lương, phụ cấp lương theo quy định tại Nghị định 205/2004/NĐ-CP nêu trên (hệ số lương x mức lương tối thiểu chung do Chính phủ quy định).

2. Trường hợp của ông Nguyễn Hoàng Ân, theo công văn trình bày của quý Sở thì ông Ân có cả thời gian giữ chức vụ Phó Tổng giám đốc doanh nghiệp nhà nước và giữ chức thành viên Hội đồng quản trị công ty cổ phần. Theo quy định tại khoản 2, Điều 2, Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ thì hai chức danh trên không thuộc diện ký hợp đồng lao động. Vì vậy, đề nghị quý Sở căn cứ vào diễn biến cụ thể việc chấm dứt hợp đồng lao động và quá trình làm việc theo hợp đồng lao động của ông Ân tại Công ty Xuất nhập khẩu Lâm Thủy sản Bến Tre để xác định cụ thể việc tính trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Nghị định số 44/2003/NĐ-CP nêu trên.

Tương tự trường hợp ông Đinh Hoàng Vinh, đề nghị căn cứ cụ thể vào quá trình làm việc theo hợp đồng lao động của ông Vinh tại Công ty Xuất nhập khẩu Lâm Thủy sản Bến Tre và Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Lâm Thủy sản Bến Tre để tính trợ cấp thôi việc theo Nghị định số 44/2003/NĐ-CP nêu trên.

Trên đây là ý kiến của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, trả lời để quý Sở biết.

TL. BỘ TRƯỞNG
KT. VỤ TRƯỞNG VỤ LAO ĐỘNG-TIỀN LƯƠNG
PHÓ VỤ TRƯỞNG
Hoàng Minh Hào

SAO CỨ KIỆN VÒNG VO

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Tối nay đi uống cà fê hả?“ tôi rủ người bạn luật sư và bị từ chối ngay: “Chịu thôi, trời mưa đường ngập, lỡ sụp hố là tiêu đời ông ơi”. “Dũng cảm lên, sụp hố thì ông kiện làm gương đi”. “Còn lâu mới tìm ra mấy công ty làm cống thì kiện thế nào được”. Sao lại kiện công ty? Tôi hỏi và bị hỏi vặn: Chứ kiện ai?

Ai cũng từng nghe “Nhà vua không bao giờ sai” . Không phải vì Vua là thiên tài, hiểu biết tất cả, mà chỉ đơn giản vì đó là Vua. Nhà Vua ban hành luật lệ, nhưng không bị ràng buộc hay hạn chế bởi luật lệ. Chế độ quân chủ được thay thế bởi chế độ cộng hòa. Thoạt đầu, Nhà nước thay thế vị trí của Vua và cũng không bao giờ sai, vì hiển nhiên Nhà nước không thể sai. Chỉ có nhân viên Nhà nước làm sai mà thôi.

Cùng với sự hình thành Nhà nước pháp quyền là sự xuất hiện ý thức, triết lý pháp lý mới. Bản chất Nhà nước pháp quyền là sự ràng buộc Nhà nước và việc sử dụng quyền lực Nhà nước bằng pháp luật. Như vậy Nhà nước có thể sai, có thể vi phạm pháp luật. Theo nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước phải chịu hoàn toàn trách nhiệm- kể cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại-đối với những hành vi vi phạm pháp luật của mình như mọi thành viên khác trong xã hội.

Điều 2 Hiến pháp 1992 của nước CHXHCN Việt nam (sửa đổi năm 2001), nêu rõ Nhà nước là của dân, do dân, vì dân, toàn bộ quyền lực Nhà nước là của dân. Chính điều này xác định rõ quan hệ giữa Nhà nước với người dân (công dân). Người dân trao quyền lực Nhà nước cho 03 cơ quan hiến định là Quốc hội, Chính phủ và Tư pháp sử dụng. Vì vậy, các cơ quan này phải chịu trách nhiệm trực tiếp với người dân về việc sử dụng quyền lực Nhà nước đúng mục đích vì dân, trên cơ sở và trong khuôn khổ pháp luật.

Cùng với sự phát triển quan niệm về quyền lực Nhà nước, người ta cũng chứng kiến sự thay đổi quan niệm về người phải chịu trách nhiệm khi sử dụng sai quyền lực công. Trước kia, công chức nào nào làm sai, người đó phải chịu trách nhiệm, vì Nhà nước không thể sai. (Chẳng hạn như Luật nước Phổ – nước Đức xưa – năm 1794 qui định). Ngày nay, khi quyền lực Nhà nước bị sử dụng sai, người chịu trách nhiệm là người trực tiếp nhận quyền lực ấy từ người dân: 03 cơ quan hiến định. Trên nguyên tắc, ngay cả khi cá nhân công chức làm sai thì Nhà nước cũng phải là người chịu trách nhiệm, vì công chức chỉ là người được Nhà nước ủy quyền thực hiện quyền lực Nhà nước cho những trường hợp cụ thể. Trong ý nghĩa pháp lý, điều đó có nghĩa là người dân có thể và trước tiên cần khởi kiện trực tiếp Chính phủ khi Chính phủ không hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Trong Nhà nước pháp quyền, quyền lực được trao là để hoàn thành những nhiệm vụ xác định. Người dân trao cho 3 cơ quan hiến định (Quốc hội, Chính phủ, Tòa án) quyền lực Nhà nước là để hoàn thành những nhiệm vụ vì dân được qui định trong Hiến pháp (những nhiệm vụ cơ bản chung), trong đó có nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự công cộng, bảo đảm các điều kiện sống tối thiểu …Điều 3 Hiến pháp CHXHCNVN còn qui định nhiệm vụ cao hơn thế cho Nhà nước: Nhà nước phải đảm bảo thực hiện mục tiêu cho „mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện…“. Các cơ quan hiến định phải trực tiếp chịu trách nhiệm trước dân khi không hoàn thành những nhiệm vụ cơ bản chung này.

Continue reading

CỦA 1%, DO 1% VÀ VÌ 1%

JOSEPH E. STIGLITZ  – Người dịch: BÙI ĐẠI DŨNG

Người Mỹ đã và đang chứng kiến những phản kháng [ở các nước như Ai Cập, Libya, …] chống lại sự áp đặt của chính quyền nhằm thâu tóm một khối lượng lớn của cải vào tay một nhóm ít người. Tuy nhiên trong bản thân xã hội dân chủ của Mỹ, gần một phần tư tổng thu nhập quốc dân tập trung vào tay của 1% dân số – tình trạng bất bình đẳng tới mức ngay cả những người giàu cũng có lý do để lo ngại.

Thật vô ích nếu cứ giả vờ rằng điều đã hiển nhiên xảy ra là còn chưa thật xảy ra. Nhóm thượng lưu 1% dân số của Mỹ hiện đã chiếm hữu gần một phần tư tổng thu nhập quốc dân hằng năm của nước Mỹ. Về mặt tài sản thì nhóm ấy sở hữu 40%. Thu nhập và tài sản của họ thời gian vừa qua đã tăng lên đáng kể. Hai mươi lăm năm trước đây, phần thu nhập của họ mới là 12% và tài sản là 33%. Có thể có lời giải thích tán dương về tài năng và cơ may của những người này và cho rằng triều lên thì mọi con thuyền đều được nâng lên (nước nổi thì bèo nổi). Cách giải thích này có thể là lầm lẫn. Khi mà thu nhập của nhóm 1% giàu nhất tăng thêm 18% trong thập kỷ vừa qua thì thu nhập của nhóm trung lưu lại giảm. Đối với những người chỉ có bằng trung học, mức suy giảm này rất tệ hại: giảm 12 % trong riêng một phần tư cuối của thế kỷ vừa qua. Tất cả tăng trưởng trong những thập kỷ gần đây và có thể cả trước đó nữa đều tập trung vào tay của nhóm thượng lưu. Về bất bình đẳng thu nhập, Mỹ còn tệ hơn bất cứ quốc gia nào thuộc châu Âu già cỗi mà Tổng thống George W. Bush thường chế giễu. Đồng hành gần gũi nhất với Mỹ về mặt này còn có Nga và Iran. Trong khi những nơi có truyền thống về bất bình đẳng ở Mỹ-Latinh như Brazil đã nỗ lực trong nhiều năm và khá thành công trong việc cải thiện hoàn cảnh khốn khổ của người nghèo và giảm bớt khoảng cách về thu nhập thì Mỹ lại cho phép sự bất bình đẳng tăng lên.

Biện minh và thực trạng

Các nhà kinh tế từ lâu đã cố gắng biện minh cho tình trạng bất bình đẳng nghiêm trọng với nhiều vấn đề tồi tệ thời kỳ giữa thế kỷ 19 – mức độ bất bình đẳng của thời kỳ đó chưa thấm vào đâu so với mức độ bất bình đẳng mà chúng ta đang thấy ở Mỹ hiện nay. Lý lẽ họ đưa ra để biện minh cho tình trạng này được gọi là “lý thuyết năng suất cận biên” (marginal productivity theory). Điểm cốt lõi của lý thuyết này là mối quan hệ giữa mức thu nhập cao với mức năng suất cao và đóng góp lớn cho xã hội. Đây là một lý thuyết luôn được người giàu yêu thích. Tuy nhiên, bằng chứng của lý thuyết này rất mong manh. Giới quản lý công ty, những người góp phần đem lại sự suy thoái trong ba thập kỷ qua với những đóng góp tiêu cực lớn lao cho xã hội chúng ta và cho công ty của họ vẫn tiếp tục nhận được những khoản tiền thưởng kếch xù. Trong một số trường hợp, các công ty xấu hổ khi gọi những khoản tiền đó là “tiền thưởng thực thi nhiệm vụ” mà thực ra họ cảm thấy cần phải đổi tên gọi ấy thành “tiền thưởng giữ chân” (thậm chí cái duy nhất giữ lại được chỉ là sự thực thi nhiệm vụ kém cỏi). Những người đã có những sáng tạo lớn lao và tích cực cho xã hội chúng ta, từ những người tiên phong trong nghiên cứu về gene di truyền cho đến những người tiên phong trong tin học thì chỉ nhận được khoản thù lao rẻ mạt so với những người chịu trách nhiệm về các sáng kiến tài chính trong khi những sáng kiến ấy đã đưa nền kinh tế toàn cầu tới miệng vực thảm họa.

Những người đã có những sáng tạo lớn lao và tích cực cho xã hội chúng ta, từ những người tiên phong trong nghiên cứu về gene di truyền cho đến những người tiên phong trong tin học thì chỉ nhận được khoản thù lao rẻ mạt so với những người chịu trách nhiệm về các sáng kiến tài chính trong khi những sáng kiến ấy đã đưa nền kinh tế toàn cầu tới miệng vực thảm họa.

Continue reading

PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ HIẾN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ VÀ HIẾN XÁC CỦA CÁ NHÂN

BÙI ĐỨC HIỂN – Viện Nhà nước và Pháp luật

Ở Việt Nam quyền hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người đã được quy định trong Bộ luật Dân sự 2005 và được cụ thể hóa trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác 2006. Tuy nhiên, pháp luật về vấn đề này vẫn còn những hạn chế, tồn tại, trong khi nhu cầu về hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể nước ta ngày càng tăng[1], đòi hòi phải nghiên cứu hoàn thiện hơn nữa pháp luật về vấn đề này. Điều đó cho thấy việc nghiên cứu pháp luật và kinh nghiệm nước ngoài đóng vai trò quan trọng. Bài viết này sẽ tập trung nghiên cứu khái quát các quy định pháp luật một số nước trên thế giới về hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người và một vài gợi mở đối với Việt Nam.

1. Khái quát pháp luật quốc tế về hiến mô, bộ phận cơ thể người

Sự phát triển của y học, giải phẫu học thế giới đã làm cuộc sống con người thay đổi kỳ diệu, từ chỗ con người có thể bị chết do một bộ phận cơ thể nào đó bị bệnh, hỏng, con người lại có thể được tái sinh sự sống của mình qua việc được cấy, ghép một mô, bộ phận cơ thể của người nào đó đã bị chết hiến tặng…[2] Để tạo hành lang pháp lý cho sự kỳ diệu trên được phát triển, để cứu chữa người bệnh vượt qua hiểm nghèo thì không chỉ pháp luật các quốc gia mà pháp luật quốc tế cũng ghi nhận về vấn đề này từ rất sớm. Trong khuôn khổ pháp luật quốc tế đầu tiên có thể kể đến Công ước quốc tế về các Quyền kinh tế, văn hoá và xã hội, viết tắt tiếng Anh là CESCR, và Công ước quốc tế về các Quyền dân sự, chính trị, viết tắt tiếng Anh là CCPR, được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua 16/12/1966 và có hiệu lực từ ngày 23/3/1976. Việt Nam gia nhập 2 Công ước này ngày 24/9/1982. Còn trong khuôn khổ Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã thông qua Nghị quyết về việc phát triển các hoạt động cấy ghép năm 2004. Thậm chí tổ chức UNNESCO đã thành lập một cơ quan trực tiếp liên quan đến lĩnh vực này là Ủy ban quốc tế về Đạo đức y sinh. Cơ quan này cũng đã công bố Tuyên bố toàn cầu về đạo đức sinh học và quyền con người. Trong đó đã đưa ra những nguyên tắc chung nhằm bảo vệ quyền con người và được thừa nhận rộng rãi như nguyên tắc không được thương mại hóa bộ phận cơ thể người, mô, máu, tế bào; nguyên tắc bảo vệ người chưa thành niên và những người được pháp luật bảo hộ; phải có sự đồng ý của đương sự về việc hiến.

Trong khuôn khổ Hội đồng châu Âu có Công ước về bảo vệ quyền con người và nhân phẩm con người trong việc ứng dụng các tiến bộ y học và sinh học ngày 4 tháng 4 năm 1997 (gọi tắt là Công ước OVIEDO). Công ước này đã đưa ra nguyên tắc cơ bản như: bắt buộc phải có sự đồng ý của đương sự; quyền được thông tin đối với cả người hiến và người nhận. Ngoài ra trong nguồn luật của Liên minh châu Âu có thể chỉ ra Chỉ thị 2004/23 về thiết lập các tiêu chuẩn chất lượng và an toàn áp dụng đối với các hoạt động hiến, lấy, kiểm soát, xử lý, bảo quản, lưu trữ phân phối mô và tế bào người…[3] Qua các Công ước quốc tế và khu vực có thể thấy hiến, ghép mô, bộ phận cơ thể có vai trò đặc biệt quan trọng và được coi là quyền con người và để đảm bảo cho hoạt động này được diễn ra hiệu quả, quốc tế đã có những quy định mang tính nguyên tắc về vấn đề này làm tiêu chuẩn và là nguồn quan trọng cho các quốc gia trong quá trình nghiên cứu xây dựng pháp luật nước mình về hiến mô, bộ phận cơ thể người.

Continue reading

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀO LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP THỰC TRẠNG VÀ CHÍNH SÁCH (1)

TS. CHU TIẾN QUANG – Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương

THS. HÀ HUY NGỌC – Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển bền vững

I. Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong lĩnh vực nông nghiệp thời gian qua

Thứ nhất, chiếm tỷ trọng rất nhỏ về số lượng dự án và vốn đầu tư trong tổng FDI trong nền kinh tế.

Trong giai đoạn 1990-2009 tổng số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam được cấp phép là 12.575 dự án với số vốn đăng ký 194.429,5 triệu USD. Trong đó số dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp là 738 dự án, chiếm 5,9% tổng số dự án đăng ký, với số vốn đăng ký là 4.379,1 triệu USD, chiếm 2,3% tổng số vốn đăng ký.(2) Riêng năm 2009 có 1.208 dự án được cấp phép đầu tư với tổng số vốn đăng ký là 23.107,7 triệu USD; trong đó số dự án đăng ký đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp là 29 dự án, chiếm 2,4% tổng số dự án với số vốn là 134,5 triệu USD, chiếm 0,6% tổng vốn đăng ký, không có dự án quy mô lớn.

Bảng 1: Đầu tư đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép trong năm 2009 phân theo ngành kinh tế

Lĩnh vực

Số dự án

Tỷ lệ (%)

Vốn đăng ký (triệu USD)

Tỷ lệ (%)

Tổng

1208

100

23107,3

100

Nông lâm nghiệp, thủy sản

29

2,4

134,5

0,6

Công nghiệp-xây dựng

550

45,5

5175,7

22,4

Dịch vụ-Thương mại

629

52,1

17797,1

77

                Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2010

Thứ hai, phân bổ không đồng đều trong nông nghiệp

Các dự án FDI chỉ tập trung vào một số ngành như: chăn nuôi, chế biến thức ăn chăn nuôi, trồng rừng, chế biến gỗ và lâm sản, thủy sản. Trong đó, đầu tư vào trồng rừng và chế biến gỗ chiếm khoảng 78% tổng vốn FDI vào nông nghiệp. Cả nước có 453 dự án FDI đầu tư vào trồng rừng và chế biến gỗ đã được cấp phép với tổng số vốn đăng ký khoảng 1,7 tỷ USD, trong có 421 dự án đang có hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 1,38 tỷ USD, nhưng vốn thực hiện chỉ đạt 359 triệu USD.

Thứ ba, phân bổ không đồng đều theo địa phương

Hầu hết các dự án FDI vào nông nghiệp tập trung vào những tỉnh có lợi thế về vùng nguyên liệu, có điều kiện thuận lợi về thổ nhưỡng, khí hậu, cơ chế chính sách ưu đãi về đầu tư như: Bình Dương, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Lâm Đồng Thanh Hóa, Nghệ An, một số tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên. Trong đó, Bình Dương là tỉnh đứng đầu, tiếp theo là Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh và Lâm Đồng. Cụ thể về vốn FDI vào nông nghiệp được phản ánh qua số liệu bảng 2

Bảng 2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành nông nghiệp phân theo địa phương

TT

Địa phương

Số dự án

Vốn đăng ký (USD)

Vốn thực hiện (USD)

Tỷ lệ vốn điều lệ (%)

1

Bình Dương

265

1109622258

450439627

20.31

2

Đồng Nai

103

1058744864

468793875

21.14

3

TPHCM

85

268579865

101309892

4.57

4

Tây Ninh

25

222527500

149407680

6.74

5

Lâm Đồng

77

172100716

105429882

4.75

6

Long An

19

150201700

56433936

2.54

7

Vũng Tàu

24

108443720

48023720

2.17

8

Nghệ An

6

105838640

50638000

2.28

9

Thanh Hóa

9

87079000

33290000

1.50

10

Ninh Bình

5

63329672

26322529

1.19

11

Cáctỉnh khác

348

1336397754

727966035

32.82

 

Tổng số

952

4682865689

2218055176

100.00

Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư và tính toán của nhóm tác giả, 2009

Continue reading

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 03/2011/TTLT-BNV-TTCP NGÀY 06 THÁNG 05 NĂM 2011 CỦA BỘ NỘI VỤ – THANH TRA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH KHEN THƯỞNG CÁ NHÂN CÓ THÀNH TÍCH XUẤT SẮC TRONG TỐ CÁO, PHÁT HIỆN HÀNH VI THAM NHŨNG

Căn cứ Luật Thi đua, Khen thưởng ngày 26 tháng 11 năm 2003 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Phòng, chống tham nhũng ngày 29 tháng 11 năm 2005 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng ngày 4 tháng 8 năm 2007;
Căn cứ Luật Khiếu nại, Tố cáo ngày 02 tháng 12 năm 1998 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, Tố cáo ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng;
Căn cứ Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng;
Căn cứ Nghị định số 48/2008/NĐ-CP ngày 17 tháng 4 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ;
Căn cứ Nghị định số 65/2008/NĐ-CP ngày 20 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Chính phủ;
Bộ Nội vụ và Thanh tra Chính phủ quy định khen thưởng cá nhân có thành tích xuất sắc trong tố cáo, phát hiện hành vi tham nhũng như sau:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định về khen thưởng cho cá nhân có thành tích xuất sắc trong tố cáo, phát hiện hành vi tham nhũng theo quy định của Luật Thi đua, Khen thưởng và Luật Phòng, chống tham nhũng, bao gồm: đối tượng, nguyên tắc, hình thức, tiêu chuẩn, thẩm quyền và hồ sơ, thủ tục, Quỹ khen thưởng và mức thưởng.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với:

1. Cá nhân người Việt Nam, người Việt Nam ở nước ngoài, cá nhân người nước ngoài có thành tích xuất sắc trong tố cáo, phát hiện hành vi tham nhũng;

2. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khen thưởng.

Điều 3. Nguyên tắc khen thưởng

Nguyên tắc khen thưởng thực hiện theo quy định khoản 2 Điều 6 Luật Thi đua, Khen thưởng, Điều 67 Luật Phòng, chống tham nhũng và các văn bản hướng dẫn thi hành; có xét đến tính đặc thù của công tác phòng, chống tham nhũng.

Điều 4. Hình thức khen thưởng

Hình thức khen thưởng áp dụng theo Thông tư này gồm có:

1. Huân chương Dũng cảm;

2. Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ;

3. Bằng khen của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan Trung ương các đoàn thể, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (gọi tắt là bằng khen của cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương);

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 11/2011/TT-NHNN NGÀY 29 THÁNG 04 NĂM 2011 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ CHẤM DỨT HUY ĐỘNG VÀ CHO VAY VỐN BẰNG VÀNG CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010;
Căn cứ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Căn cứ Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội;
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (gọi là tổ chức tín dụng) như sau:

Điều 1. Tổ chức tín dụng không được thực hiện cho vay vốn bằng vàng đối với khách hàng và các tổ chức tín dụng khác (kể cả các hợp đồng tín dụng đã ký kết nhưng chưa giải ngân hoặc giải ngân chưa hết); không được gửi vàng tại tổ chức tín dụng khác; không được thực hiện các nghiệp vụ ủy thác, đầu tư và các hình thức cấp tín dụng khác bằng vàng.

Điều 2. Tổ chức tín dụng không được huy động vốn bằng vàng, trừ trường hợp phát hành chứng chỉ ngắn hạn bằng vàng để chi trả vàng theo yêu cầu của khách hàng khi số vàng thu nợ và tồn quỹ không đủ để chi trả. Việc phát hành chứng chỉ ngắn hạn bằng vàng của tổ chức tín dụng chấm dứt vào ngày 01 tháng 5 năm 2012.

Điều 3. Tổ chức tín dụng không được chuyển đổi vốn huy động bằng vàng trước đây thành đồng Việt Nam và các hình thức bằng tiền khác. Đối với số vốn bằng vàng đã chuyển đổi thành tiền phải tất toán chậm nhất là ngày 30 tháng 6 năm 2011.

Điều 4. Trách nhiệm của các tổ chức

1. Đối với các tổ chức tín dụng: Gửi báo cáo huy động và cho vay vốn bằng vàng theo Phụ lục 1, Phụ lục 2, Phụ lục 3 và Phụ lục 4 của Thông tư này; cung cấp các thông tin liên quan theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong từng thời kỳ.

2. Đối với Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

a) Thực hiện thanh tra, kiểm tra việc chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của các tổ chức tín dụng trên địa bàn, xử lý các vi phạm theo thẩm quyền.

Continue reading

MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG TRONG SỬA ĐỔI PHẦN QUY ĐỊNH CHUNG CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

NGUYỄN HỒNG HẢI

Trong cấu trúc và mục đích kết cấu của Bộ luật dân sự, phần Quy định chung được kết cấu như là phần quy định những nguyên lý cơ bản nhất về quan hệ tư, về luật tư và là điều khoản chung cho toàn bộ các phần trong Bộ luật dân sự và các văn bản luật trong hệ thống luật tư. Qua thực tiễn thi hành, phần Quy định chung của Bộ luật dân sự năm 2005 (từ Điều 1 đến Điều 162) bên cạnh những quy định tốt đã bộc lộ những khiếm khuyết cơ bản trong thể hiện vai trò nêu trên của mình, nhiều quy định không thể hiện đầy đủ những nguyên lý của quan hệ luật tư, chưa thực sự là điều khoản chung, không có tính ổn định và tính khái quát cao… Trước thực trạng như vậy, việc sửa đổi phần Quy định chung cần thiết phải đặt ra và là một nội dung quan trọng trong công tác sửa đổi cơ bản Bộ luật dân sự. Việc sửa đổi phần Quy định chung cần có những nghiên cứu rất cơ bản về lý luận, tổng kết công tác thực tiễn và trong tư duy xây dựng pháp luật. Bài dẫn đề này xin đề cập một số định hướng cơ bản sau:

1. Việc sửa đổi cần được dựa trên những nguyên tắc cơ bản, thống nhất trong tư duy xây dựng pháp luật dân sự nói chung và phần Quy định chung của Bộ luật dân sự nói riêng

– Thứ nhất, những nguyên lý cơ bản nhất của các quan hệ tư là đối tượng điều chỉnh của Bộ luật dân sự phải được ghi nhận, không tái quy định hoặc bổ sung vào trong Bộ luật dân sự những quy định đi ngược với những nguyên lý này;

– Thứ hai, việc xây dựng và hoàn thiện phần Quy định chung nói riêng và Bộ luật dân sự nói chung phải dựa vào luận cứ khoa học trên nền tảng học thuyết pháp lý đã được khẳng định cả về lý luận và thực tiễn, phù hợp với điều kiện kinh tế – văn hóa – xã hội của Việt Nam. Kế thừa những thành tựu và kinh nghiệm trong kết cấu, nội dung của các Bộ luật dân sự cổ, cận đại và hiện hành của Việt Nam (Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931, Bộ Dân luật Trung kỳ năm 1936, Bộ Dân luật năm 1972 của chế độ Sài Gòn cũ, Bộ luật dân sự năm 1995, năm 2005 của Nhà nước ta). Đồng thời, học tập, tham khảo kinh nghiệm về kết cấu, nội dung Bộ luật dân sự của các nước trên thế giới có truyền thống về pháp luật dân sự thành văn (Đức, Pháp, Nhật…) và của các nước có điều kiện kinh tế – văn hóa – xã hội tương đồng với Việt Nam (Thái Lan, Cam – Phu – Chia, Philippine…).

– Thứ ba, phần Quy định chung của Bộ luật dân sự phải là phần điều khoản chung cho toàn bộ hệ thống quy phạm thuộc lĩnh vực luật tư. Trong đó, việc quy định các phần còn lại của Bộ luật dân sự và trong các văn bản luật chuyên ngành (Luật Doanh nghiệp, Luật Thương Mại, Luật nhà ở, Luật hôn nhân và gia đình…) không được trái với các quy định trong phần Quy định chung mà chỉ là sự cụ thể hóa các nguyên tắc, các định chế của nó vào trong các chế định, quan hệ cụ thể;

– Thứ tư, đảm bảo tính ổn định và tính khái quát cao trong các quy định của phần Quy định chung, tạo cơ sở pháp lý chung trong xây dựng pháp luật, giải thích pháp luật hoặc là căn cứ áp dụng pháp luật khi các phần còn lại của Bộ luật dân sự hoặc các văn bản luật chuyên ngành thuộc hệ thống luật tư không có quy định hoặc quy định không cụ thể.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN TRAO ĐỔI THÊM VỀ ĐỊNH HƯỚNG SỬA ĐỔI CƠ BẢN BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 [1]

NGUYỄN HỒNG HẢI

Nằm trong các hoạt động chuẩn bị sửa đổi cơ bản Bộ luật dân sự năm 2005, trong hai ngày (02/03/2011 và 27/04/2011), Bộ Tư pháp và Tổ chức Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã phối hợp tổ chức Tọa đàm giữa các chuyên gia Việt Nam với các chuyên gia dài hạn của Nhật Bản về một số định hướng sửa đổi cơ bản Bộ luật dân sự năm 2005. Đại diện của Vụ Pháp luật dân sự – kinh tế (Bộ Tư pháp) Viện khoa học xét xử (Tòa án nhân dân tối cao) và chuyên gia Nhật Bản đã tập trung thảo luận về bốn nội dung: (1) yêu cầu, phạm vi và tiến độ sửa đổi cơ bản Bộ luật Dân sự năm 2005; (2) một vài vấn đề cần được nghiên cứu để xây dựng Bộ luật dân sự; (3) một số định hướng trong sửa đổi phần quy định chung của Bộ luật dân sự; (4) một số bất cập trong thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2005.

Về cơ bản, các chuyên gia Việt Nam và Nhật Bản đã nhất trí về định hướng sửa đổi cơ bản bộ luật dân sự năm 2005 và những nguyên tắc mà nhóm biên tập[2] đưa ra bao gồm:

Thứ nhất, Bộ luật dân sự phải thể chế hóa được đầy đủ các quan điểm mới của Đảng về xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và thể chế kinh tế thị trường trong các văn kiện đã được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng: (1) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); (2) Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020; (3)  Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng;

Thứ hai, tiếp nhận các quan điểm khoa học, khái niệm, phạm trù khoa học pháp lý liên quan đến Bộ luật dân sự mà trước đây chưa được áp dụng, ví dụ: trái quyền, vật quyền… Bên cạnh đó, kế thừa các thành tựu xây dựng pháp luật về dân sự ở Việt Nam và trên thế giới;

– Thứ ba, đặt Bộ luật dân sự ở vai trò là luật gốc, luật cơ bản của hệ thống luật tư, có tính trừu tượng hóa cao, khái quát hóa cao, điều chỉnh các quan hệ xã hội ổn định, không quy định các vấn đề phụ thuộc nhiều vào các quyết định chính trị để đảm bảo tính ổn định của Bộ luật dân sự;

– Thứ tư, xác định Bộ luật dân sự là bộ luật của lưu thông dân sự, bình đẳng, tôn trọng quyền tự quyết, tự định đoạt của các chủ thể;

– Thứ năm, tăng cường các biện pháp tôn trọng và bảo đảm quyền dân sự.

Tuy nhiên, tại Tọa đàm có nhiều vấn đề còn có những ý kiến khác nhau, cần có nghiên cứu cơ bản, sự trao đổi khoa học từ phía các chuyên gia Việt Nam và nước ngoài Nhật Bản trong quá trình xây dựng dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi.

1. Về nguồn của Luật dân sự

Trên cơ sở đề xuất của nhóm biên tập, bên cạnh quy phạm pháp luật và tập quán (Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2005), cần thừa nhận học thuyết pháp lý và án lệ là nguồn của luật dân sự, các đại biểu tham dự tọa đàm đã đưa ra hai quan điểm:

HỘ GIA ĐÌNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI: PHÁP LUẬT CHƯA CÓ HƯỚNG DẪN CỤ THỂ

NGUYỄN QUANG DANH

Trong cuộc sống ngoài xã hội có rất nhiều giao dịch, quan hệ tài sản có liên quan đến hộ gia đình ở lĩnh vực đất đai, tài sản gắn liền với đất. Tuy nhiên, quy định về hộ gia đình vẫn chưa được làm sáng tỏ, gây lúng túng cho cơ quan quản lý cũng như người dân.

Hộ gia đình Theo Điều 106 BLDS quy định, hộ gia đình là những hộ mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật quy định. Hộ gia đình là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực nầy.

Quyền tài sản của hộ gia đình Theo Điều 107 BLDS quy định:

1. Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Cha, mẹ hoặc 1 thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ. Chủ hộ có thể ủy quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ quan hệ dân sự.

2. Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình.

Điều 108 BLDS quy định: “Tài sản chung của hộ gia đình gồm QSD đất, QSD rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản docác thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung của hộ”.

Bên cạnh đó. Hộ gia đình phải chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ; nếu tài sản chung của hộ không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình (theo khoản 2, Điều 110 BLDS).

Continue reading

NHỮNG BẤT CẬP VỀ GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

LS. NGUYỄN VĂN HẬU – Trưởng văn phòng Luật sư Nguyễn Văn Hậu và Cộng sự

Hiện nay những quy định về cấp GCNQSDĐ cho người dân trong các văn bản pháp luật có liên quan đã phần nào phát huy được hiệu quả, tạo sự thống nhất trong quản lý nhà, đất. Tuy nhiên cạnh đó, các văn bản này cũng dần lộ rõ sự bất hợp lý, cần được xem xét lại.

Với việc sửa đổi, bổ sung Luật dất đai 2003 và sự ra đời của Nghị định số 88/2009/NĐ – CP ngày 19/10/2009 về cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất,  hai loại GCN về quyền sử dụng đất (sổ đỏ) cấp theo Nghị định 181//2004/NĐ-CP và quyền sở hữu nhà (sổ hồng) cấp theo Nghị định 90/2006/NĐ –CP trước đây đã được gộp vào thành một sổ mới (sổ đỏ mới).

Hiện tại có 5 loại mẫu GCN cho nhà và đất song song tồn tại, gồm: sổ đỏ được cấp theo Luật Đất đai năm 1993; sổ đỏ cấp theo Luật đất đai năm 2003; GCN quyền sở hữu nhà ở (sổ hồng) cấp theo Nghị định 61/CP năm 1994 về mua bán kinh doanh nhà ở; GCN quyền sở hữu nhà (sổ hồng mới) cấp theo Luật Nhà ở và Nghị định 90/2006/NĐ – CP năm 2006 và cuối cùng là sổ đỏ được cấp theo Nghị Định số 88/2009/NĐ – CP.

Nghị định 88/2009/NĐ – CP được ban hành nhằm giải quyết một số vấn đề bất cập trong các quy định trước đây về cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu tài sản. Cụ thể: (i) Hạn chế việc đi lại của người dân, để đăng ký được GCN này thì người dân chỉ phải làm thủ tục tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện (nếu ở cấp huyện không thành lập văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thì làm thủ tục tại phòng Tài nguyên và môi trường tại huyện đó); (ii) Bốn loại mẫu GCN hiện hành không phù hợp yêu cầu chứng nhận QSDĐ và QSHTS (Tên gọi từng loại mẫu không bao quát hết; Nội dung các loại mẫu không bao hàm tất cả các loại đất, các loại tài sản;\.

Một số hạn chế của từng loại mẫu: Phần dành cho chỉnh lý biến động ít; Không thống nhất nội dung giữa các loại GCN; Hình thức thì giấy quá dầy…) ; (iii) Thống nhất về thẩm quyền cấp GCN ở văn phòng đăng ký QSDĐ ở 2 cấp: cấp huyện cấp giấy cho hộ gia đình, cá nhân và cấp tỉnh, thành phố cấp cho tổ chức…

Bên cạnh những ưu điểm đạt được thì với quy định mới về cấp GCNQSDĐ hiện nay đang gặp phải một số khó khăn nhất định. Những bất cập, khó khăn này sẽ được chúng tôi phân tích trên 2 phương diện về lý luận và trên thực tế.

Về  lý luận

Thứ nhất, Người dân có nhu cầu thực tế nhưng Luật lại không cho nhận chuyển QSDĐ nông nghiệp. Theo Điều 1 Nghị quyết 1126/NQ – QH ngày 21/6/2007 có quy định người dân sẽ bị hạn chế trong việc nhận chuyển QSDĐ nông nghiệp. Điểm bất hợp lý này được thể hiện thông qua việc, nếu Nông dân cần ứng dụng Khoa học – Công nghệ vào toàn bộ quá trình sản xuất nông nghiệp như trồng, chăm sóc và thu hoạch lúa…trên quy mô lớn nhằm nâng cao tối đa năng suất, giảm chi phí sản xuất. Để đạt mục đích trên thì yêu cầu cơ bản là diện tích đất sản xuất phải lớn.

Continue reading

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ MÂU THUẪN, XUNG ĐỘT LỢI ÍCH GIỮA NHÓM TRỤC LỢI VÀ NHÓM THIỆT HẠI HIỆN NAY

TS. HỒ BÁ THÂM & TS. NGUYỄN TRẦN DƯƠNG

Từ nghiên cứu mâu thuẫn xung  đột lợi ích  ở TP.HCM, chúng tôi cho rằng về thực chất và nổi bật là mâu thuẫn xung  đột giữa các nhóm trục lợi và nhóm thiệt hại lợi ích. Đây coi như một sự khái quát mới về một cặp mâu thuẫn, xung đột lợi ích hiện nay  ở nước ta và trong đó có TP.HCM.

Sau đây là một số nội dung, chúng tôi muốn trao đổi với bạn đọc.

1. Kinh tế thị trường với sự hình thành nhóm trục lợi và nhóm thiệt hại   

– Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế có  đặc điểm chủ yếu như sau:

Đó là nền kinh tế có nhiều chế  độ sở hữu và thành phần kinh tế với nhiều chủ thể lợi ích có xu hướng phân hóa đa dạng khác nhau, có khi đối lập nhau như lợi ich cá nhân, lợi ích nhóm, lợi ích giai tầng xã hội…, từ đó nảy sinh mâu thuẫn lợi ích.

Nền kinh tế thị trường có bản chất và động lực cơ bản là chạy theo mục đích lợi nhuận, thậm chí có lúc gần như là mục đích duy nhất. 

Nền kinh tế bên cạnh mặt tích cực như: năng động,  đòi hỏi sự minh bạch, tạo cơ hội cho mọi người làm việc và phát triển… nhưng  đồng thời nó cũng có mặt khuyết tật, tiêu cực tạo nên khủng hoảng kinh tế chu kỳ, phân hóa tạo nên những người rất giàu và những người rất nghèo, gây nên xung đột lợi ích.

Nền kinh tế thị trường hiện đại có đặc điểm là gắn với xu hướng công nghệ sạch, thân thiện môi trường, gắn với công bằng xã hội, phúc lợi xã hội, đề cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp…. Xu hướng này là tiền  đề của nền kinh tế thị trường XHCN.

Cùng với quá trình  đó là quá trình  đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa đã nảy sinh nhiều vấn đề về lợi ích khác nhau, thậm chí đối lập nhau, nhất là trên lĩnh vực nhà đất, các quan hệ lao động trong các doanh nghiệp và môi trường sống.

Nước ta từ khi chuyển sang thời kỳ  đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa nhưng nền kinh tế này còn sơ khai, trình độ thấp, mặc dù có yếu tố  để tiến tới nền kinh tế thị trường hiện  đại, hướng tới kinh tế thị trường hiện đại. Trong thời kỳ mới này những mâu thuẫn, xung đột lợi ích đã và đang diễn ra rất đa dạng và có phần phức tạp.

– Đời sống xã hội.

Đời sống xã hội là toàn bộ không gian xã hội gắn với hoạt động của con người, cộng đồng người với những nhu cầu, lợi ích nhất định. Có nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội: lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đời sống xã hội trong công trình này chủ yếu lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội, nhưng là xét trong quan hệ với các lĩnh vực khác, hoặc bao gồm một phần lĩnh vực khác.

XUNG ĐỘT LỢI ÍCH GIỮA CÁ NHÂN VÀ TỔ CHỨC

CẢNH THÁI

Lợi ích của cá nhân hay của tổ chức quan trọng hơn? Bất công xảy ra đối với một người là có nguy cơ sẽ xảy ra đối với mọi người!

Báo chí trong nước đưa nhiều tin bài về vụ một huấn luyện viên Taekwondo đi máy bay của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines), và xảy ra va chạm với tiếp viên của hãng hàng không này. Đúng sai thuộc về ai chưa rõ nhưng đây là một điển hình cho xung đột lợi ích hay mâu thuẫn xuất hiện giữa một cá nhân và một tổ chức, hơn nữa, đây là một tổ chức có tính độc quyền về vận chuyển hàng không.

Tin tức khác cho thấy một vài cá nhân ở Hà Nội không đồng ý với quyết định bồi thường di dời căn nhà của mình cho dự án quy hoạch và xây dựng tại khu “đất vàng” của một công ty cổ phần về xây dựng và bất động sản đang thực hiện. Liệu các cá nhân không đồng ý với giá thỏa thuận đền bù có bị “cưỡng chế” giải tỏa để thực hiện dự án cho lợi ích của tổ chức?

Có dư luận cho rằng những người đại diện cho tổ chức như cô tiếp viên của Vietnam Airlines hay lực lượng an ninh hàng không hành động thái quá… Dư luận khác lại ủng hộ “tổ chức” và cho rằng các cá nhân có thể đã hành động “quá đáng”. Vị huấn luyện viên có thể đã “nóng nảy” hay “chống cự”, “bất hợp tác” với nhân viên hàng không… và chủ nhân các ngôi nhà trong dự án quy hoạch có thể đã “quá tham” khi không chấp nhận giá đền bù gần 1 tỉ đồng/mét vuông trong khi đời sống chung của người dân không được như vậy…

Bên cạnh đó, các thông tin phản hồi từ hàng trăm độc giả của các diễn đàn cho thấy có người ủng hộ cá nhân là vị huấn luyện viên không quen biết nọ hay ủng hộ các cá nhân là chủ nhân các ngôi nhà bị quy hoạch giải tỏa ở “khu đất vàng” Hà Nội vì họ ở vị thế yếu, bị “tổ chức” lớn, có tính độc quyền, các dịch vụ được tổ chức đưa ra có tính “không thể không theo hay không sử dụng được”.

Vấn đề đặt ra ở đây là liệu quyền lợi của cá nhân so với tổ chức có công bằng và được đặt ngang nhau? Khi có xung đột lợi ích giữa cá nhân và tổ chức hay tập thể, đặc biệt là các tổ chức có tính độc quyền cao như Vietnam Airlines hay các công ty đầu tư quy hoạch và xây dựng dự án dân cư… thì nên giải quyết trên cơ sở nào?Nếu chúng ta xem nhẹ lợi ích của cá nhân bất chấp các cá nhân này có lý lẽ đúng đắn thì trong tương lai nếu chính chúng ta rơi vào tình cảnh tương tự, ai sẽ bênh vực cho cá nhân chúng ta?

Continue reading

MẤY VẤN ĐỀ VỀ ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PGS.TSKH. LƯƠNG ĐÌNH HẢI – Phó viện trưởng Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt

Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và luận giải sự kết hợp, hòa trộn, thống nhất biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, giữa kinh tế và chính trị là nét độc đáo riêng của Việt Nam. Từ thực tiễn của hơn 20 năm đổi mới trong lĩnh vực này, tác giả đã đưa ra những yêu cầu mới và một số vấn đề cần quan tâm trong đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong giai đoạn tới đây của công cuộc đổi mới ở Việt Nam.

Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam được chính thức bắt đầu từ 1986 với khâu đột phá là đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế. Không thể nói một cách đơn giản rằng, ở Việt Nam, đổi mới kinh tế trước đổi mới chính trị sau. Trên thực tế, hai quá trình đó không tách rời nhau. Nhưng, rõ ràng là, Việt Nam đổi mới tư duy kinh tế trước, đổi mới tư duy chính trị sau theo nghĩa đổi mới chính trị ngay từ đầu đã không phải là trọng tâm và chủ yếu. Đổi mới tư duy, đổi mới các quan điểm, quan niệm về phương thức phát triển đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam, dù trước hết trong kinh tế thì cũng đã là đổi mới chính trị. Đổi mới các quan điểm chính trị chính là bước khởi đầu cho đổi mới trong kinh tế và trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

Nếu xét từ góc độ đó thì đổi mới ở Việt Nam lại không phải bắt đầu từ đổi mới kinh tế, mà đúng ra là bắt đầu từ đổi mới quan điểm, đường lối về cách thức phát triển kinh tế của Đảng, nghĩa là bắt đầu từ đổi mới các quan điểm chính trị trong lĩnh vực kinh tế. Dĩ nhiên, đổi mới chính trị ở đây chưa phải là đổi mới đồng bộ, toàn diện, tất cả các yếu tố, bộ phận của chính trị nói chung. Nhưng, rõ ràng là, không có đổi mới quan điểm về cách thức phát triển đất nước thì không thể có những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội trong đổi mới vừa qua. Nếu nhìn cả vào những tìm tòi, thử nghiệm trước Đại hội Đảng lần thứ VI thì rõ ràng là việc đổi mới quan điểm chính trị về phương thức phát triển kinh tế đã được bắt đầu sớm hơn nhiều so với mốc thời gian của Đại hội VI(1).

Trong quan hệ đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam khó có thể nói đổi mới kinh tế trước hay đổi mới chính trị trước. Nếu xét từng yếu tố riêng lẻ thì có thể kết luận là đổi mới kinh tế hoặc đổi mới chính trị trước. Nhưng, nếu xét tổng thể, toàn diện thì các kết luận như vậy là thiếu căn cứ. Sự kết hợp, hoà trộn giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, sự thống nhất biện chứng giữa kinh tế và chính trị, giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là nét độc đáo riêng của Việt Nam, khác với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây.

Continue reading

BÀN THÊM VỀ KHÁI NIỆM “GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC”

THS. ĐOÀN QUỐC THÁI – Học viện Kỹ thuật Quân sự

Trong bài viết này, tác giả bước đầu xác định và luận giải một số tính chất cơ bản của giá trị đạo đức, như tính xã hội, tính lịch sử cụ thể, tính định hướng cho hành động của con người,… Đồng thời, tác giả cũng phân tích quan hệ giữa giá trị đạo đức với các quy tắc, chuẩn mực đạo đức; làm rõ sự thống nhất và khác biệt giữa chúng.

Trong những năm gần đây, “giá trị đạo đức” là thuật ngữ xuất hiện với tần suất lớn trên các sách báo và tạp chí. Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy là chúng ta mới chủ yếu tập trung phân tích, luận giải các giá trị đạo đức cụ thể của đời sống đạo đức, mà hầu như ít bàn đến giá trị đạo đức với tư cách một khái niệm khoa học. Đây là một thiếu sót không nhỏ vì khái niệm là công cụ, phương tiện để nhận thức các đối tượng và do đó, nhận diện các giá trị đạo đức cụ thể một cách khách quan, khoa học nhất thiết phải dựa trên quan niệm thống nhất về “giá trị đạo đức”.

Giá trị là phạm trù được bàn đến và sử dụng từ rất sớm trong lịch sử tư tưởng, bắt đầu bằng quan niệm lợi ích của các nhà triết học cổ đại, như Xôcrát, Platôn, tiếp tục được phát triển ở thời kỳ trung cổ và cận đại. Tuy nhiên, phải đến tận nửa sau thế kỷ XIX những vấn đề về bản chất, cấu trúc của giá trị, vị trí của các giá trị trong hiện thực mới được nghiên cứu với tư cách là lý luận về giá trị. Ở Việt Nam, vấn đề giá trị mới được quan tâm từ khoảng những năm 80 của thế kỷ XX. Theo nhận xét của tác giả Hồ Sĩ Quý, hầu hết các nhà nghiên cứu đầu ngành của khoa học xã hội đều ít nhiều đã tham gia bàn luận về giá trị, giá trị văn hóa, giá trị đạo đức. Có thể kể đến một số tên tuổi tiêu biểu cho những bàn luận này, như Trần Văn Giàu, Trần Đình Hượu, Vũ Khiêu, Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Cao Xuân Hạo, Phan Ngọc, Nguyễn Văn Huyên… Tuy nhiên, “đi vào chi tiết vấn đề có thể nói còn khá tản mạn”([1]). Nhìn chung các học giả Việt Nam mới chỉ tập trung làm rõ các giá trị đạo đức cụ thể trong đạo đức truyền thống hoặc đạo đức mới, chứ chưa bàn đến giá trị đạo đức với tư cách một khái niệm. Cũng có một vài quan niệm đề cập đến khía cạnh này nhưng chỉ là sự tiếp cận bước đầu, còn hạn chế nhất định và chưa có sự thống nhất. Giá trị đạo đức, theo tác giả Mai Xuân Hợi, “là những cái được con người lựa chọn và đánh giá như việc làm có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội, được lương tâm đồng tình và dư luận biểu dương”(2). Quan niệm này mới chỉ bàn đến giá trị đạo đức từ phương diện lựa chọn, đánh giá của con người, tức là phương diện chủ quan của giá trị đạo đức. Theo tác giả Ngô Toàn, giá trị đạo đức là những chuẩn mực, những khuôn mẫu lý tưởng, những quy tắc ứng xử nhằm điều chỉnh và chuẩn hoá hành vi con người(3). Quan niệm này không đề cập đến mặt chủ quan của giá trị đạo đức, đồng nhất giá trị đạo đức với đạo đức.

Giá trị đạo đức, nhìn từ góc độ cấu thành hệ thống các giá trị tinh thần của đời sống xã hội, là một hình thái của giá trị tinh thần, có quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau với các giá trị khoa học, giá trị thẩm mỹ, giá trị chính trị… Về bản chất, bước đầu có thể khái quát những nội dung chính về giá trị đạo đức: thứ nhất, giá trị đạo đức mang tính xã hội. Thực ra, nói đến giá trị là giá trị xã hội, mang tính xã hội. Ngay cả những giá trị riêng biệt (của sự vật, hiện tượng) hay giá trị cá nhân đều được quy chiếu bởi cái chung, bởi sự thừa nhận, đánh giá của xã hội. Giá trị đạo đức cũng không nằm ngoài đặc điểm chung đó. Vì vậy, trong đời sống đạo đức từ cổ chí kim, dù ở phương Đông hay phương Tây thì vẫn có thể tìm thấy sự tương đồng của những giá trị đạo đức cơ bản, như yêu lao động, trung thực, nhân ái…

Continue reading