NHỮNG VẤN ĐỀ BỊ BỎ QUÊN LIÊN QUAN ĐẾN CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Không thể phủ nhận những đóng góp của Bộ luật Dân sự năm (BLDS) 1995 và sau này là BLDS năm 2005 vào việc hoàn thiện khung pháp lý về tài sản, đặc biệt về phần chế độ sở hữu tư nhân, gọi tắt là pháp luật sở hữu, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của giao lưu dân sự và nhất là sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ một quyền sở hữu đậm chất hành chính mà việc thực hiện được đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của nhà chức trách1, người dân đã có được một quyền sở hữu đích thực và, về phương diện kỹ thuật pháp lý, tiệm cận với quyền sở hữu được quan niệm trong luật của các nước. Quyền sở hữu ấy bao gồm các quyền năng được chính thức định nghĩa trong BLDS cho phép chủ sở hữu khai thác được các tiềm năng vật chất, kinh tế, xã hội của tài sản. Trong chừng mực nào đó, chính khung pháp lý về quyền sở hữu được ghi nhận trong BLDS đã tạo ra sự an toàn cho việc tích luỹ và sử dụng của cải trong khu vực tư, từ đó, tạo điều kiện cho sự đóng góp của chủ thể vào sự thịnh vượng chung của toàn xã hội.

Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận so với yêu cầu rất cao về mức độ hoàn thiện, tinh vi của một chế độ sở hữu tư nhân cần thiết cho sự phát triển lành mạnh và ổn định của nền kinh tế thị trường, các quy định trong BLDS còn tỏ ra lỏng lẻo, sơ sài và chưa phù hợp. Cần nhấn mạnh rằng so với BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 hầu như không ghi nhận cải cách nào mang tính đột phá về phương diện nội dung pháp luật tài sản. Bởi vậy, những khuyết tật của hệ thống pháp luật tài sản phát sinh từ những quy định bất cập tồn tại kéo dài và điều đó ảnh hưởng xấu đến sự đóng góp của luật pháp vào việc xây dựng xã hội mới.

Trong khuôn khổ sửa đổi BLDS năm 2005, chế độ pháp lý về sở hữu cần được xem xét ở nhiều khía cạnh, từ đó, rất nhiều vấn đề sẽ bật ra và cần được giải quyết thấu đáo. Trong phạm vi hạn hẹp của bài viết này, người viết chỉ mong muốn giới thiệu những suy nghĩ xoay quanh các vấn đề bị bỏ quên trong nhiều năm qua liên quan đến quan niệm tài sản, chế độ pháp lý về bất động sản và chế độ sở hữu chung cư.

1. Quan niệm tài sản

Luật so sánh. Trong quan niệm Latinh, tài sản có thể được hình dung, mô tả theo một trong hai cách tuỳ theo xuất phát điểm quan sát để nhìn nhận đối tượng2.

Continue reading

XỬ LÝ BÀI TOÁN LÃI SUẤT, THÁO GỠ KHÓ KHĂN VỀ VỐN CHO DOANH NGHIỆP

THS. CHU THỊ MINH TRÍ – Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng hải & THS. NGUYỄN THỊ THÚY – Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á

Thời gian qua diễn biến lãi suất trên thị trường tiền tệ tiếp tục thu hút sự quan tâm lớn của dư luận nói chung, của người vay vốn, doanh nghiệp nói riêng. Hầu hết các Ngân hàng Thương mại (NHTM) đã huy động vốn vượt trần lãi suất huy động theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), lãi suất cho vay lên tới 24% – 25%/năm, người sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp không có khả năng chịu đựng được mức lãi suất đó. Vậy, nguyên nhân của tình trạng đó là gì và giải bài toán đó như thế nào trong điều kiện hiện nay để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 11 của Chính phủ.

Theo quy định, trần lãi suất huy động của NHNN là không quá 14%/năm đối với nội tệ, song lãi suất thực trả cho người gửi tiền lên tới 17-20%/năm nhưng vốn vẫn khó huy động. Số liệu NHNN đã công bố rộng rãi cho thấy, tính đến cuối tháng 5-2011, tổng nguồn vốn huy động của hệ thống NHTM, tổ chức tín dụng (TCTD) trong cả nước tăng có 1,48% so với cuối năm 2010. Đây là mức tăng thấp nhất trong so với cùng kỳ nhiều năm gầy đây. Đáng chú ý là lãi suất huy động vốn, thu hút tiền gửi của các NHTM tăng lên tới 18 – 20%/năm, cao nhất trong nhiều năm qua, tương đương mức lãi suất cuối năm 2008, nhưng vẫn không thu hút được tiền gửi vào hệ thống ngân hàng. Điều này cũng chứng tỏ lý thuyết truyền thống tăng cao lãi suất để thu hút bớt tiền từ lưu thông về ngân hàng không phải lúc nào cũng đạt được hiệu quả và không phù hợp trong điều kiện hiện nay ở nước ta. Đặc biệt là vốn huy động nội tệ lại giảm tới 2,75%, mặc dù lãi suất huy động vốn tăng rất cao, còn vốn huy động ngoại tệ tăng 18,84%. Điều này cho thấy những tháng đầu năm 2011, với lo ngại đồng tiền Việt Nam mất giá, lạm phát tăng cao, trong khi đó lãi suất tiền gửi ngoại tệ lên tới 5,0 – 5,5%/năm, nên người dân đã lựa chọn USD để gửi ngân hàng thương mại. Trong đó có một lượng đáng kể ngoại tệ từ nước ngoài chuyển về nước dưới dạng kiều hối để gửi tiết kiệm vì lãi suất tiền gửi USD cao hơn nhiều so với lãi suất tại Mỹ và nhiều nước khác trên thế giới. Đây là xu hướng tích cực nhìn từ góc độ Việt Nam thiếu vốn, phải đi vay vốn nước ngoài, thì nguồn vốn từ kiều hối chuyển về gửi các NHTM trong nước bổ sung nguồn vốn để cho vay là khá quan trọng. Từ giữa tháng 4-2011, lãi suất tiền gửi USD của dân cư theo quy định của NHNN giảm xuống tối đa chỉ còn 3%/năm, nhưng với số tiền USD gửi trước đó được giữ nguyên lãi suất thời điểm gửi và người dân không rút ra, còn lượng tiền gửi USD mới không sụt giảm, làm cho tiền gửi USD trong hệ thống NHTM vẫn tăng cao, mặc dù tiền gửi USD của doanh nghiệp biến động.

Continue reading