BÀN VỀ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA VĂN BẢN DO NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN KÝ TÊN VÀ ĐÓNG DẤU CHI NHÁNH

LS. ĐỖ HỒNG THÁI – Văn phòng Đại diện VietinBank tại TP.HCM

Từ một thực tế về cách hiểu luật

Tháng 5/2010, Chi nhánh A (thuộc Ngân hàng X có trụ sở chính tại Hà Nội) lập thông báo địa điểm kinh doanh (mở phòng giao dịch) gửi Phòng Đăng ký kinh doanh (ĐKKD) thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. HCM. Hồ sơ đầy đủ, nhưng Phòng ĐKKD đã trả lại bởi lý do: “Giám đốc Chi nhánh A ký tên thừa ủy quyền của người đại diện theo pháp luật Ngân hàng X trên văn bản thông báo, nhưng không được đóng dấu của Chi nhánh A mà phải đóng dấu của Ngân hàng X mới bảo đảm tư cách pháp nhân, mới phù hợp tư cách nhân danh bên ủy quyền”. Cho dù, sau đó Ngân hàng X đã lập giấy ủy quyền ghi rõ rằng: “khi thực hiện công việc được ủy quyền, giám đốc Chi nhánh A được dùng con dấu của chi nhánh đóng trên văn bản đã ký thừa ủy quyền”, nhưng vẫn không được chấp thuận. Ngân hàng X không thể dùng dấu của trụ sở chính đóng trên văn bản do chi nhánh ký, thế là, kể từ đó, sự ủy quyền của Ngân hàng X về vấn đề này chỉ còn tồn tại trên giấy với biết bao phiền toái phát sinh: mọi giấy tờ liên quan của Ngân hàng X khi gửi

Phòng ĐKKD TP. HCM đều nhất nhất phải do chính người đại diện theo pháp luật ký tên và đóng dấu Ngân hàng X. Vấn đề “ký tên và đóng dấu” tưởng chừng đơn giản, dễ hiểu, song, gắn với vấn đề ủy quyền lại dường như trở nên phức tạp, ít nhất là dưới cách nhìn của một cơ quan công quyền. Trên thực tế, có vô số hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau mà một chi nhánh của doanh nghiệp vẫn đã và đang phải đảm đương các nhiệm vụ được doanh nghiệp giao nhằm đáp ứng các yêu cầu kinh doanh và quản trị doanh nghiệp. Đáng lưu ý là, con dấu của chi nhánh trên các văn bản ấy chưa từng bị bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào từ chối giao dịch vì lý do không thừa nhận tư cách của chi nhánh. Phải chăng, Phòng ĐKKD TP. HCM đã vô hiệu hóa tư cách của chi nhánh doanh nghiệp hay chính sự thừa nhận của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mới là trái luật? 2

Nhìn lại quy định của pháp luật

Pháp luật Việt Nam ghi nhận giá trị pháp lý của con dấu của doanh nghiệp (và cả con dấu của chi nhánh trực thuộc doanh nghiệp) là một yếu tố cấu thành thể thức văn bản bên cạnh chữ ký của người có thẩm quyền trên văn bản đó 2. Hay nói cách khác, khi đã được người có thẩm quyền ký và được đóng dấu thì chính chữ ký và con dấu đã thể hiện vị trí pháp lý và khẳng định giá trị pháp lý đối với chính văn bản đó.

Continue reading

BÀN VỀ ĐIỀU KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG CỦA UCP 600 NHÂN SỰ KIỆN ĐỘNG ĐẤT VÀ SÓNG THẦN Ở NHẬT BẢN

NGUYỄN HỮU ĐỨC – VIETCOMBANK Đà Nẵng

Ngày 11/3/2011, một trận động đất dữ dội, có cường độ 8,9 độ richte, đã xảy ra ngoài khơi Đông Bắc Nhật Bản, gây nên một cơn sóng thần cao đến 10 mét cuốn trôi nhà cửa, xe cộ, máy bay, tàu thuyền… Một số thành phố gần như bị xóa sổ, với hàng chục ngàn người chết và mất tích. Hoạt động của các doanh nghiệp, trong đó có các ngân hàng, ở những khu vực bị ảnh hưởng hầu như bị ngưng trệ hoàn toàn trong thời gian xảy ra động đất và sóng thần và tình trạng này sẽ vẫn còn tiếp tục kéo dài cho đến khi các doanh nghiệp này có thể khắc phục hậu quả và hoạt động trở lại.

Việc bị gián đoạn hoạt động kinh doanh do động đất và sóng thần là sự kiện vượt quá khả năng kiểm soát của các ngân hàng, do vậy, được xem là sự kiện bất khả kháng. Vậy, các ngân hàng bị gián đoạn hoạt động kinh doanh do ảnh hưởng của động đất và sóng thần có được miễn trách nhiệm thanh toán đối với L/C đã hết thời hạn hiệu lực trong thời gian bị gián đoạn này hay không? Trong bài viết nhân sự kiện kinh hoàng này, người viết xin bàn về điều kiện bất khả kháng được quy định tại Điều 36 của UCP 600. Điều 36 UCP 600 quy định về điều kiện bất khả kháng như thế nào?

Điều 36 UCP 600 quy định về điều kiện bất khả kháng như sau:

“Ngân hàng không chịu trách nhiệm hoặc có nghĩa vụ đối với các hậu quả phát sinh từ việc hoạt động kinh doanh của mình bị gián đoạn do thiên tai, nổi loạn, dân biến, nổi dậy, chiến tranh, khủng bố, hoặc do đình công hoặc đóng cửa doanh nghiệp hoặc bất kỳ nguyên nhân nào khác vượt quá sự kiểm soát của ngân hàng. Khi bắt đầu hoạt động trở lại, ngân hàng sẽ không thanh toán hoặc chiết khấu L/C đã hết thời hạn hiệu lực trong thời gian ngân hàng bị gián đoạn kinh doanh”. (A bank assumes no liability or responsibility for the consequences arising out of the interuption of its business by Acts of God, riots, civil commonitions, insurrections, wars, acts of terrorism, or by any strikes or lockouts or any other causes beyond its control. A bank will not, upon resumption of its business, honour or negotiate under a credit that expired during such interuption of its business).

Trong bối cảnh giả định nhiều ngân hàng Nhật Bản ngừng hoạt động do bị ảnh hưởng bởi động đất và sóng thần, rõ ràng với quy định như trên, người thụ hưởng L/C có lý do chính đáng để lo lắng rằng ngân hàng có thể viện dẫn quy định tại Điều 36 UCP 600 để từ chối thanh toán L/C nếu như thời hạn hiệu lực L/C rơi vào thời điểm ngân hàng ngừng hoạt động và người thụ hưởng không thể xuất trình chứng từ đến được ngân hàng trong thời hạn hiệu lực quy định. Tương tự, ngân hàng được chỉ định đã thanh toán hoặc chiết khấu L/C cũng có lý do để lo lắng về việc ngân hàng phát hành có thể viện dẫn quy định tại Điều 36 UCP 600 để từ chối hoàn trả tiền. Điều 36 UCP 600 có luôn luôn đúng trong mọi tình huống? Câu trả lời ngay là không. Ngân hàng có thể được miễn trừ trách nhiệm thanh toán hoặc chiết khấu L/C đã hết hiệu lực trong thời gian ngân hàng đó bị gián đoạn kinh doanh theo Điều 36 UCP 600 hay không còn tùy thuộc quy định của L/C. Người viết bài này xin đưa ra một số tình huống giả định khác nhau và phân tích để thấy rằng không phải trường hợp nào ngân hàng cũng được miễn trừ trách nhiệm nghĩa vụ thanh toán hoặc chiết khấu L/C khi hoạt động kinh doanh của ngân hàng đó bị gián đoạn do bị ảnh hưởng bởi sự kiện bất khả kháng như thiên tai, nổi loạn, dân biến, nổi dậy, chiến tranh, khủng bố…

Continue reading

ÁN LỆ VÀ ÁN MẪU–NHỮNG KHẢ NĂNG ÁP DỤNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

CAO VIỆT THĂNG – Viện Nhà nước và Pháp luật, Trung Tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia

Trong Dự án Luật sửa đổi một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự, mới đây Tòa án nhân dân tối cao đã đề xuất cho phép được xét xử theo án lệ, nhưng Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa tán thành1. Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh đã mở một chuyên đề nói về án lệ. Trong đó có rất nhiều quan điểm đưa ra nhằm ủng hộ hay phản đối việc áp dụng án lệ ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong những quan điểm đó, đôi khi còn có sự hiểu không chính xác về án lệ, án mẫu. Vì vậy, trước khi cân nhắc có nên áp dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay hay không, chúng ta cần phân biệt rõ về án lệ và án mẫu để có một phương án giải quyết hợp lý.

1. Phân biệt án lệ và án mẫu

1.1. Án lệ

Nói đến án lệ, người ta thường nói đến sự khiếm khuyết của các quy phạm pháp luật trong một hệ thống pháp luật. Thông thường án lệ chỉ xuất hiện khi có một sự kiện pháp lý mới nảy sinh mà chưa có những quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh cụ thể về lĩnh vực đó hoặc doxung đột pháp luật mà chưa có các dẫn chiếu pháp luật rõ ràng.

Cơ sở hình thành án lệ chính là những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật. Khi có những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật, tòa án sẽ viện dẫn những căn cứ pháp luật được coi là hợp lý để đưa ra một phán quyết có tính đột phá và bản án này sẽ được tòa án tối cao công bố là án lệ để áp dụng chung cho các trường hợp tương tự do khiếm khuyết quy phạm hoặc chưa có dẫn chiếu quy phạm rõ ràng. Tuy nhiên, việc hình thành án lệ – theo các nhà kinh điển – cũng không phải là phương thức làm luật tốt. Chẳng hạn, Montesquieu cho rằng “…Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự do của công dân, quan toà sẽ là người đặt ra luật”2.

Ngoài ra, việc xây dựng án lệ cũng phải tuân thủ những yêu cầu hết sức nghiêm ngặt chứ không chỉ đơn thuần là phán quyết bất kỳ của toà án tối cao đối với một vấn đề mới. Cụ thể:

Continue reading