CẦN THAY ĐỔI KHÁI NIỆM SỞ HỮU TOÀN DÂN

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Đại học Kinh tế TPHCM

Bên lề Diễn đàn đối tác pháp luật do Chương trình phát triển LHQ (UNDP) tổ chức ngày 13- 9, TS Phạm Duy Nghĩa, Giảng viên Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, cho rằng, khối lượng công sản rơi vào tay tư nhân tăng lên khủng khiếp trong 5 năm qua. Do vậy, cần bỏ khái niệm sở hữu toàn dân và thay bằng sở hữu quốc gia để có pháp nhân quản lý cụ thể.

TS Phạm Duy Nghĩa nói: Khác với cách đây 10 năm, hiện nay các nhóm lợi ích không che giấu vai trò ngày càng tích cực của họ trong việc hoạch định chính sách. Các tập đoàn dễ dàng có cuộc gặp với Chính phủ, thường xuyên tham gia đề xuất chính sách.
Do vậy, nhiều chuyên gia đánh giá, pháp luật kinh tế hiện nay dành lợi thế đầu tiên cho các cơ quan quản lý nhà nước, tiếp đến là các tập đoàn và doanh nhân. Những đối tượng khác luôn bị yếu thế.

Hiện nay đi mua một căn hộ thì người mua hoàn toàn không được đàm phán với chủ đầu tư về hợp đồng mua bán, phương thức thanh toán. Cuộc chơi luôn có lợi thế về người có tiền và có quyền lực.
Do vậy, cái mà nhà nước cần làm là xây dựng những chính sách can thiệp có hiệu quả. Nhà nước tạo khuôn khổ pháp lý cho các đơn vị cạnh tranh lành mạnh. Nhà nước không nên bảo lãnh, đi vay vốn, làm thay doanh nghiệp.

Ông và nhóm nghiên cứu về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN có đề xuất bỏ khái niệm sở hữu toàn dân, thay vào đó cần tái xác lập khái niệm sở hữu quốc gia và sở hữu của chính quyền địa phương. Đâu là lý do của kiến nghị này?

Sở hữu toàn dân là một khái niệm chính trị. Nhưng dưới cái mũ sở hữu toàn dân, nó đã gây ra nhiều bất công, làm cho tài sản công rơi vào tay những người có ảnh hưởng. Vì vậy cần có những khái niệm có thể dùng được để bảo vệ lợi ích quốc gia, đảm bảo phúc lợi được chia công bằng. Nhà nước chỉ là một thành tố trong quốc gia. Vì vậy sở hữu phải của nhiều thế hệ.

Continue reading

GÓP Ý CHO DỰ THẢO LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN

THS. BÙI XUÂN PHÁI – Giảng viên khoa Hành chính – Nhà nước

Một văn bản luật ra đời là một sản phẩm của nhiều hoạt động mang tính trí tuệ cao. Luật tiếp cận thông tin là một văn bản quan trọng, cụ thể hoá một phần quyền cơ bản của công dân – quyền tự do thông tin. Nó cũng là sự thể hiện thái độ trách nhiệm của nhà nước ta trước các điều ước quốc tế mà Việt nam là thành viên và trước nhân dân, đồng thời xác định mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân trong nhà nước pháp quyền mà chúng ta đang quyết tâm xây dựng.

Có thể nói đây là một bước chuyển quan trọng về chất trong quan niệm của chúng ta về quyền con người. Tuy nhiên, đây là lần đầu chúng ta xây dựng một luật về vấn đề này nên không thể tránh khỏi những khó khăn. Với mong muốn góp phần vào việc làm hoàn thiện luật này, tôi xin có một số góp ý cho dự thảo như sau:

Về tên gọi của dự luật này.

Nếu đây là văn bản luật được ban hành nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp 1992 (được sửa đổi năm 2001) về quyền được thông tin của công dân thì tên gọi dự luật này không phản ánh hết ý nghĩa của quyền này và như vậy đương nhiên nội dung và phạm vi điều chỉnh sẽ bị thu hẹp lại. Quyền được thông tin phải bao gồm cả quyền được biết thông tin và quyền được tạo ra thông tin. Tất nhiên các quyền này có giới hạn và phải gắn với những nghĩa vụ và bảo đảm nhất định. Quyền được biết thông tin gắn liền với quyền được cung cấp thông tin được đảm bảo bởi các chủ thể có trách nhiệm, còn quyền được tạo ra thông tin lại gắn với bản thân mỗi công dân và các chủ thể khác. Nếu dự luật để tên như vậy thì thiếu nội dung thứ hai và quyền cơ bản của công dân không được cụ thể hóa một cách đầy đủ. Nếu thể hiện được cả nội dung thứ hai này thì ý nghĩa của nó chính là sự thể hiện tính tích cực chính trị của công dân mà đặc biệt trong việc xây dựng chính sách pháp luật, đồng tời liên quan gần gũi với hoạt động phẩn biện xã hội.

Chương 1

Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh. Nếu như dự luật có sự tiếp nhận ý kiến trên, phạm vi điều chỉnh của luật phải được mở rộng ra khá nhiều. Đó chính là những quan hệ xã hội xảy ra trong các hoạt động tạo ra thông tin và phổ biến thông tin. Luật là để điều chỉnh quan hệ xã hội biểu hiện thông qua hành vi của con người nên dự luật: “quy định về thông tin được tiếp cận, …hình thức tiếp cận thông tin…” là không hợp lý. Nên chỉnh lại là: “luật này xác định các loại thông tin mà công dân, cơ quan, tổ chức được tiếp cận…” và “quy định hình thức công bố thông tin”. Thông tin là cái đã có nên luật không quy định mà chỉ xác định thông tin nào thuộc đối tượng mà cá nhân, tổ chức… tiếp cận. Mặt khác, hình thức tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức… không phụ thuộc vào quy định của pháp luật.

Continue reading

DOANH NHÂN VÀ PHÁP LUẬT

PHƯƠNG NGUYỄN, HƯƠNG NGUYỄN, HIỀN LÃ

Từ khi có ý tưởng thành lập cho đến khi hình thành và phát triển kinh doanh, tạo ra lợi nhuận…doanh nghiệp đều phải tuân thủ các quy định pháp luật. Tuy nhiên trong thời kì hội nhập quốc tế hiện nay, Việt Nam đang tích cực tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế, ký kết các hiệp định thương mại cùng với nước ngoài thì những quy định pháp luật về kinh doanh lại trở nên vô cùng phức tạp.

Doanh nghiệp sẽ không khỏi lúng túng khi va chạm với hệ thống pháp luật nước nhà, với những thay đổi về chính sách pháp lý, hay luật nước ngoài dẫn đến những thiệt hại về kinh tế và hình ảnh của doanh nghiệp.

Đâu sẽ là giải pháp để doanh nghiệp Việt Nam thoát khỏi những rủi ro đáng tiếc để có thể duy trì và phát triển tối ưu nhất? Câu trả lời phụ thuộc vào việc áp dụng đúng khung luật và vai trò chỉ đạo của người chủ doanh nghiệp kết hợp với sự hỗ trợ từ các chuyên gia tư vấn luật pháp cho doanh nghiệp.

Thực trạng hiểu biết pháp luật của doanh nghiệp

Việc am hiểu pháp luật trong kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay còn nhiều hạn chế. Nhiều doanh nghiệp biết luật, hoặc chưa nắm vững luật mà vẫn làm trái pháp luật vì lợi ích kinh doanh, hay không hiểu rõ luật dẫn đến việc chưa xử lý tốt các tình huống khi làm việc với nước ngoài gây nên những tổn thất nặng nề.

Không ít doanh nghiệp mới thành lập gặp khó khăn trong kê khai ước toán doanh thu. Mặc dù đưa ra con số lạc quan so với thực tế nhưng họ không nhận ra rằng doanh nghiệp sẽ bị “tạm truy thu thuế thu nhập doanh nghiệp” dựa trên các con số ước toán do doanh nghiệp đưa ra. Việc tạm nộp “dư” thuế đồng nghĩa với việc sử dụng không hiệu quả nguồn vốn của doanh nghiệp. Trong tất cả các kế hoạch đầu tư, doanh nghiệp đều phải đánh giá về môi trường vàcác rủi ro pháp lý bên cạnh hàng loạt các yếu tố kinh doanh khác.

Continue reading

NHÀ CHUNG CƯ LÀM VĂN PHÒNG: CẤM ĐƯỢC KHÔNG?

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHUNG – LG. NGUYỄN GIA HUY CHƯƠNG

Liệu có cấm được việc sử dụng nhà chung cư làm văn phòng khi nhu cầu mặt bằng kinh doanh giá rẻ luôn tồn tại?

Ngay sau khi Bộ Xây dựng ban hành Công văn số 2544/BXD-QLN ngày 19.11.2009 về quy định quản lý và sử dụng nhà chung cư, đã có nhiều ý kiến xung quanh những quy định của văn bản này. Nội dung của Công văn 2544 tập trung vào một số vấn đề về công tác quản lý sử dụng nhà chung cư nhưng đáng quan tâm nhất là mục đích của việc sử dụng nhà chung cư: chuyển đổi mục đích sử dụng từ nhà ở sang làm văn phòng, cơ sở sản xuất, kinh doanh là trái với mục đích sử dụng, không đảm bảo an toàn.

Ở đây, người viết muốn góp một số ý kiến về nội dung của Công văn ở góc độ quy định pháp luật và thực tiễn đời sống xã hội Việt Nam.

“Vênh” giữa quy định và thực tiễn áp dụng

Theo Luật Nhà ở, nhà ở là công trình xây dựng với mục đích “để ở” và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân. Như vậy, mục đích sử dụng của nhà ở là phải để ở. Tuy nhiên, thực tế tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM, có nhiều nhà ở (bao gồm cả nhà chung cư) đã được sử dụng làm văn phòng, trụ sở của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh. Rõ ràng, việc sử dụng nhà ở như vậy đã sai về mặt mục đích theo quy định của pháp luật. Điều này cho thấy, có độ chênh khá lớn giữa quy định của Luật Nhà ở và thực tiễn áp dụng pháp luật đối với mục đích sử dụng nhà ở.

Theo Công văn 2544, pháp luật về quản lý sử dụng nhà chung cư không cho phép chủ sở hữu nhà ở sử dụng hoặc cho người khác sử dụng phần sở hữu riêng trái với mục đích quy định. Cơ sở pháp lý mà Công văn 2544 viện dẫn là Khoản 6, Điều 23 tại Quy chế được ban hành kèm theo Quyết định số 08/2008/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng ngày 28.5.2008 về quản lý và sử dụng nhà chung cư (gọi tắt là Quy chế 08). Theo quy định này, mọi hành vi sử dụng căn hộ chung cư sai mục đích “để ở” đều bị cấm.

Continue reading

LUẬT DOANH NGHIỆP VÀ VAI TRÒ “NGƯỜI LÀM VƯỜN”

THS. TRẦN THANH TÙNG – Công ty Luật Phước & Partners

Luật Doanh nghiệp vẫn chưa làm tốt vai trò “người làm vườn”, tức giúp doanh nghiệp “cắt gọt” các bộ phận hoạt động không hiệu quả.

Kể từ khi được giới thiệu lần đầu vào năm 1999, Luật Doanh nghiệp, với tư cách là luật chung về việc thành lập, quản lý và điều hành doanh nghiệp, đã thực hiện xuất sắc vai trò “bà đỡ” của mình với sự ra đời của hàng trăm ngàn doanh nghiệp.

Tuy nhiên, vai trò bà đỡ đã làm lu mờ một vai trò khác không kém phần quan trọng: tạo hành lang pháp lý cho quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp. Hay nói cách khác, Luật Doanh nghiệp phải thực hiện được vai trò “người làm vườn”, tạo điều kiện cho doanh nghiệp “cắt gọt” những bộ phận không hiệu quả trong quá trình hoạt động.

Vai trò này, hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ bao gồm các quy định về tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp mà còn cả việc mua bán vốn góp/cổ phần, mua bán dự án, tài sản của doanh nghiệp. Bài viết này chỉ tập trung vào các quy định về tổ chức lại doanh nghiệp.

Nhiều lợi ích

Vai trò người làm vườn tạo ra nhiều lợi ích cho các bên liên quan và cho cả nền kinh tế.

Đối với nhà đầu tư, vai trò này giúp họ gia nhập thị trường thông qua việc mua vốn góp, cổ phần, thậm chí là mua lại toàn bộ doanh nghiệp.

Đối với doanh nghiệp, điều này cho họ khả năng rút lui khỏi thị trường khi làm ăn thua lỗ hoặc không muốn tiếp tục kinh doanh (thông qua việc bán doanh nghiệp) hoặc cơ cấu lại doanh nghiệp (như bán tài sản, chi nhánh…).

Đối với Nhà nước, doanh nghiệp được tái cấu trúc có thể tạo ra nguồn tài chính để đóng thuế cho Nhà nước, thay vì tiếp tục trở thành gánh nặng (vì hoạt động không hiệu quả).

Continue reading

LỖI VÀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

TS. PHÙNG TRUNG TẬP – Đại học Luật Hà Nội

Tác giả viết bài này năm 2004

Lỗi hiểu theo góc độ luật học, từ xưa đến nay có nhiều học giả, trong đó có các luật gia đã quan tâm nhận xét rất khác nhau trong việc xác định yếu tố lỗi trong trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói riêng. Có nhiều quan điểm khác nhau trong nhận thức về yếu tố lỗi nhưng nhìn chung các học giả đều thừa nhận lỗi được biểu hiện dưới hai hình thức cố ý và vô ý. Các học giả còn phân biệt mức độ lỗi trong hình lỗi vô ý gồm lỗi vô ý nặng và lỗi vô ý nhẹ.

Trong bài viết này, chúng tôi không bàn luận yếu tố lỗi trong tất cả các quan hệ pháp luật dân sự có tranh chấp, mà chỉ bàn về yếu tố lỗi trong một số loại trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng với mục đích đáp ứng phần nào cách nhìn nhận về yếu tố lỗi trong việc xác định trách nhiệm dân sự.

1. Hành vi có lỗi

Hành vi có lỗi, theo quy định tại Điều 309 BLDS thì "Người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự, thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác:. Khoản 1 Điều 309 nói trên quy định lỗi do hành vi không thực hiện nghĩa vụ dân sự thì người có hành vi đó bị coi là có lỗi. Theo quy định của khoản 2 Điều 309 BLDS thì nội dung của khoản này có ý nghĩa viện dẫn trực tiếp trong việc xác định trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng. Khoản 2 Điều 309 quy định: "Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra".

Về mặt khách quan, quy định trên đã dự liệu trường hợp người gây thiệt hại nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vấn thực hiện, cho dù người đó mong muốn hoặc không mong muốn nhưng đã có thái độ để mặc cho thiệt hại xảy ra thì người đó phải chịu trách nhiệm dân sự về hành vi có lỗi cố ý của mình.

Về măt chủ quan, người gây thiệt hại khi thực hiện hành vi gây hại luôn nhằm mục đích có thiệt hại xảy ra cho người khác và được thể hiện dưới hai mức độ:

Continue reading

CHỦ TRƯƠNG TỰ DO, THỰC TẾ NGĂN CẤM

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Công ty Luật BASICO

Điều quan trọng nhất là phải xem xét toàn diện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, theo hướng nới lỏng thay vì ngày càng xiết chặt các điều kiện kinh doanh. Cần xem xét bỏ bớt các điều kiện hạn chế, đặc biệt là các lĩnh vực cấm kinh doanh.

Số lượng ngành, nghề, hàng hoá, dịch vụ bị ngăn cấm trong kinh doanh đã được gia tăng một cách nhanh chóng trong một thập kỷ qua. Nếu như năm 1999 mới chỉ có 29 loại hàng hoá, dịch vụ bị đặt vào vòng cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện, thì đến nay con số đó đã “tăng trưởng” vượt bậc trên 500%, đều tiến 23,5% mỗi năm.

Bảng tổng hợp Danh mục hàng hoá, dịch vụ bị cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện:

Ghi chú:  Năm 1999: Theo Nghị định số 11/1999/NĐ-CP ngày 03-3-1999.
                 Năm 2002: Theo Nghị định số 11/1999/NĐ-CP và được bổ sung
                                       theo Nghị định số 73/2002/NĐ-CP ngày 20-8-2002.
                 Năm 2006: Theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12-6-2006.
                  Đến 8-2010: Theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP, 43/2009/NĐ-CP và
                                       được bổ sung theo các văn bản hiện hành liên quan.
                 Cuối 2010: Theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP và dự kiến bổ sung theo Dự thảo Nghị định 8-2010.

Continue reading

CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH NHẰM THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

THS. NGUYỄN NGỌC MINH  – Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm dầu khí Việt Nam

Phát triển thị trường bất động sản (BĐS) là một đòi hỏi cấp thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: “Thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng XHCN, đặc biệt quan tâm các thị trường quan trọng nhưng hiện chưa có hoặc còn sơ khai như: thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ”1.

Tuy nhiên để thị trường BĐS phát triển lành mạnh, công khai và minh bạch, Nhà nước phải thực hiện đồng bộ một loạt các giải pháp từ những giải pháp tổng thể, lâu dài đến những giải pháp mang tính trước mắt mà một trong những giải pháp cần được thực hiện trước tiên là cải cách thủ tục hành chính. Bởi lẽ, thủ tục hành chính (TTHC) xuất hiện ở tất cả các phân khúc của thị trường BĐS từ thị trường BĐS sơ cấp (TTHC về giao đất, cho thuê đất; TTHC về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ); TTHC về cấp phép xây dựng v.v..) đến thị trường BĐS thứ cấp (TTHC trong việc xác lập các giao dịch về chuyển nhượng BĐS; TTHC liên quan đến thực hiện nghĩa vụ tài chính về mua bán, chuyển nhượng BĐS v.v..). Như vậy, TTHC có tác động rất lớn đến sự vận hành của thị trường BĐS. TTHC thông thoáng, hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển thị trường BĐS. Ngược lại, TTHC phức tạp, rườm rà, thiếu minh bạch sẽ gây cản trở sự phát triển thị trường BĐS.

Thời gian qua, thực hiện Đề án 30 của Chính phủ về cải cách TTHC, các bộ, ban, ngành và các địa phương đã tiến hành rà soát, loại bỏ những TTHC không cần thiết. Điều này góp phần đáng kể vào việc cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh nói chung và thúc đẩy thị trường BĐS nói riêng phát triển. Tuy nhiên, trên thực tế một số TTHC vẫn đang là rào cản, là thách thức không nhỏ cho nhà đầu tư, kinh doanh BĐS.

1. Thủ tục hành chính và tác động của thủ tục hành chính tới sự vận hành của thị trường bất động sản

TTHC là trình tự, cách thức thực hiện và hồ sơ do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức2.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 27/2010/TT-BLĐTBXH NGÀY 14 THÁNG 9 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN QUẢN LÝ LAO ĐỘNG, TIỀN LƯƠNG, THÙ LAO VÀ TIỀN THƯỞNG TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN DO NHÀ NƯỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU

Căn cứ Nghị định số 186/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội;
Căn cứ Nghị định số 86/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định quản lý lao động và tiền lương trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ;
Căn cứ Nghị định số 25/2010/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về chuyển đổi công ty nhà nước thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu và tổ chức quản lý Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu;
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện
quản lý lao động, tiền lương, thù lao và tiền thưởng trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu như sau:

MỤC I. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Phạm vi điều chỉnh của Thông tư này là các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, bao gồm:

1. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc các Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

2. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được chuyển đổi từ Tổng công ty, Công ty mẹ của Tổng công ty do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng các Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định chuyển đổi, phê duyệt điều lệ tổ chức hoạt động.

3. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng các Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập, chuyển đổi và phê duyệt điều lệ tổ chức hoạt động.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 3397/TCT-KK NGÀY 1 THÁNG 9 NĂM 2010 CỦA TỔNG CỤC THUẾ, BỘ TÀI CHÍNH VỀ VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN VIỆC ĐĂNG KÝ THUẾ THEO QUI ĐỊNH TẠI NGHỊ ĐỊNH SỐ 43/2010/NĐ-CP NGÀY 14 THÁNG 4 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ

Kính gửi:

Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Vừa qua Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 về đăng ký doanh nghiệp và ngày 4/6/2010, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) ban hành Thông tư số 14/2010/TT-BKH hướng dẫn một số nội dung về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp.

Để thực hiện tốt các quy định mới về đăng ký doanh nghiệp nêu tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP, tạo thuận lợi cho việc triển khai kết nối trao đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp giữa hai cơ quan đăng ký kinh doanh (ĐKKD) và cơ quan Thuế, Tổng cục Thuế hướng dẫn và yêu cầu các Cục Thuế thực hiện một số nội dung sau:

1. Đối tượng áp dụng Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 về đăng ký doanh nghiệp và thực hiện trao đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp giữa hai cơ quan ĐKKD và cơ quan thuế:

1.1. Đối tượng áp dụng là các loại hình doanh nghiệp thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Các tổ chức, cá nhân kinh doanh khác vẫn thực hiện đăng ký thuế theo quy định tại Thông tư 85/2007/TT-BTC ngày 18/7/2007 về hướng dẫn đăng ký và cấp mã số thuế của Bộ Tài chính và theo quy trình Quản lý đăng ký thuế ban hành kèm theo Quyết định số 443/QĐ-TCT ngày 29/4/2009 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế.

1.2. Những doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và Giấy chứng nhận đăng ký thuế trước khi Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 nêu trên có hiệu lực thi hành không bắt buộc phải thực hiện thủ tục đổi sang Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc sẽ được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp khi thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp.

1.3. Cấp mã số thuế đối với địa điểm kinh doanh là kho hàng:

– Theo quy định tại Điều 21 Luật Quản lý thuế thì kho hàng không thuộc đối tượng phải đăng ký thuế.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 3473/TCT-TNCN NGÀY 8 THÁNG 9 NĂM 2010 CỦA TỔNG CỤC THUẾ, BỘ TÀI CHÍNH VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

Kính gửi:

                                       – Hội Tư vấn thuế Việt Nam;
                                        – Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Qua quá trình thực thi về Luật Thuế TNCN, Tổng cục Thuế nhận được một số vấn đề vướng mắc về chính sách thuế TNCN do Hội tư vấn Thuế Việt Nam phản ánh tại công văn số 22/HTVT ngày 22/4/2010. Vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

1. Về việc xác định cá nhân là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam:

Theo hướng dẫn tại Thông tư 84/2008/TT-BTC thì cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:

1. Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam

2. Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau:

– Có nơi ở đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú.

– Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở với thời hạn của hợp đồng thuê từ 90 ngày trở lên trong năm tính thuế.

Căn cứ hướng dẫn nêu trên và theo thông lệ quốc tế thì điều kiện cá nhân có thuê nhà để ở tại Việt Nam Với thời hạn của hợp đồng thuê từ 90 ngày trở lên là đối tượng cư trú chỉ áp dụng trong trường hợp cá nhân đó không chứng minh được là đối tượng cư trú của nước nào. Nếu ở Việt Nam trên 90 ngày và dưới 183 ngay trong năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đến Việt Nam nhưng chứng minh được là đối tượng cư trú của một nước khác thì cá nhân đó vẫn là đối tượng không cư trú tại Việt Nam.

2. Về kê khai thu nhập của cá nhân cư trú có thu nhập khác từ kinh doanh:

Tại điểm 1.1, mục II , phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chỉnh phủ quy định chi tiết một số điều cửa Luật thuế thu nhập cá nhân nêu: "Thu nhập từ kinh doanh bao gồm thu nhập từ sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh theo quy định của pháp luật như; sản xuất, kinh doanh hàng hóa xây dựng, vận tải, kinh doanh ăn uống, kinh doanh dịch vụ, kể cả dịch vụ cho thuê nhà do thuê mặt bằng."

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT: TRANH CHẤP “TIỀN GIÚP” VAY VỐN NGÂN HÀNG

VĂN ĐOÀN

Nguyên đơn thì nói tiền vay, bị đơn lại nói tiền thưởng. Nhiều ý kiến cho rằng tòa chưa làm rõ tiền gì nên tuyên án chưa chính xác.

Ông H. ở quận Phú Nhuận (TP.HCM) hiện đang kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm của TAND quận 3 về vụ kiện đòi lại tiền cho vay vì cho rằng cấp sơ thẩm chưa làm rõ nhiều tình tiết quan trọng của vụ án.

Người nói vay, người nói thưởng

Ông H. cho biết tháng 10-2009, ông làm hồ sơ vay ngân hàng 2,7 tỉ đồng để làm vốn kinh doanh. Hồ sơ của ông H. được ông D., cán bộ tín dụng của ngân hàng, thẩm định.

Khoảng 10 ngày sau, ông D. cho ông biết là hồ sơ không thể vay được 2,7 tỉ đồng mà chỉ có thể vay được khoảng 1,8 tỉ đồng. Ông trả lời rằng số tiền vay như vậy là quá ít. Ngay lúc đó, ông D. giới thiệu cho ông một người bạn ở ngân hàng khác giúp hồ sơ vay được nhiều tiền hơn. Kèm theo đó là điều kiện nếu ông vay được nhiều thì phải cho ông D. vay lại 180 triệu đồng trong thời hạn sáu tháng với lãi suất bằng lãi suất ngân hàng. Ông đồng ý.

Sau đó, ông đã vay được 2 tỉ đồng nên ông thực hiện ngay cam kết với ông D. Việc vay mượn này không có giấy tờ gì làm bằng cả. Thời gian sau, đến hạn trả nợ, ông D. vẫn không chịu trả tiền nên ông khởi kiện đòi lại.

Phía ông D. cũng thừa nhận có giới thiệu bạn giúp ông H. vay tiền. Tuy nhiên, khi đó ông H. bảo rằng nếu vay được 2 tỉ đồng thì sẽ thưởng cho ông 180 triệu đồng. Khi vay xong, ông H. đã thưởng cho ông như cam kết ban đầu. Cuối cùng, ông D. khẳng định:  “Số tiền trên là tiền thưởng chứ không phải tiền vay. Ông H. kiện là không có cơ sở”.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 3142/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 11 THÁNG 9 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ TRỢ CẤP THÔI VIỆC

Kính gửi:

Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long

Trả lời công văn số 1670/NHN-QTNS ngày 20/7/2010 của Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long về việc chế độ trợ cấp thôi việc, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1995, theo đó từ ngày Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành mà người lao động thôi việc ở cơ quan, đơn vị thì thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động, doanh nghiệp có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc theo quy định của Nhà nước, sau đó chuyển sang doanh nghiệp khác làm việc thì thực hiện giao kết hợp đồng lao động mới.

2. Theo quy định tại điểm c, khoản 3, Điều 14 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động và hướng dẫn tại Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26/5/2009 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chỉ quy định đối với trường hợp người lao động làm việc ở nhiều công ty nhà nước chuyển công tác trước ngày 01/01/1995 (ngày Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành) thì trợ cấp thôi việc được tính theo thời gian làm việc ở từng doanh nghiệp, công ty nhà nước cuối cùng có trách nhiệm chi trả toàn bộ tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động, kể cả phần trợ cấp thôi việc thuộc trách nhiệm chi trả của công ty nhà nước mà người lao động đã làm việc trước khi chuyển công tác trước ngày 01/01/1995, sau đó gửi thông báo để yêu cầu hoàn trả số tiền đã được chi trả hộ.

Như vậy, trường hợp ông Nguyễn Văn Toản và bà Trịnh Hồng Mỹ chuyển về làm việc tại Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long từ tháng 09/2005 và tháng 04/2002 (sau ngày 01/01/1995), không thuộc đối tượng áp dụng quy định nêu trên. Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long chỉ phải thanh toán tiền trợ cấp thôi việc cho ông Toản và bà Mỹ trong thời gian làm việc tại Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long. Trường hợp, Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long đã trả hộ khoản trợ cấp thôi việc cho thời gian ông Toản và bà Mỹ làm việc tại các đơn vị trước kia thì đề nghị Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long làm việc cụ thể với các đơn vị liên quan và ông Toản, bà Mỹ để giải quyết.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời để Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long biết và thực hiện.

TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ LAO ĐỘNG-TIỀN LƯƠNG
Tống Thị Minh

“CÔNG THỔ QUỐC GIA” HAY SỰ SÁNG TẠO “KỲ QUẶC” VỀ SỞ HỮU?

NGUYỄN QUANG A

Không có cái gọi là sở hữu toàn dân. Đó chỉ là một từ được "sáng tạo" ra để duy trì "quyền sở hữu thực" của một nhóm cá nhân. Xét thực tế đó cũng chẳng khác gì quyền của vua chúa xưa kia.

Sở hữu toàn dân: Sự "sáng tạo chết người"

Quyền sở hữu tài sản là một quyền căn bản trong các quyền con người. Quyền sở hữu và hệ thống thông tin về quyền sở hữu là vấn đề cốt lõi của mọi xã hội.

Có quyền sở hữu rạch ròi và có một hệ thống thông tin minh bạch về quyền sở hữu chính là bí ẩn của sự thành công của tất cả các nước đã phát triển và sự thiếu vắng một hệ thống như vậy là nguyên nhân chính của sự thất bại trong phát triển kinh tế-xã hội của tất cả phần còn lại nhiều nước trên thế giới. Đấy là thông điệp chính của cuốn sách nổi tiếng của học giả Peru, Hernando de Soto, cuốn "Sự bí ẩn của tư bản" được xuất bản năm 2000.

Tôi đã dịch cuốn sách ra tiếng Việt và bản dịch đã được gửi cho các nhà hoạch định chính sách với hy vọng giúp các nhà hoạch định chính sách và các đại biểu quốc hội có thông tin tham khảo trong quá trình thảo luận sửa đổi Luật đất đai. Đáng tiếc thông điệp của cuốn sách đã không có tác động gì đến Luật đất đai (sửa đổi) được thông qua năm 2003.

Năm 2006 Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã xuất bản cuốn sách đó với cái tên "sự bí ẩn của vốn" và tiêu đề phụ "Vì sao chủ nghĩa tư bản thành công ở phương Tây và thất bại ở mọi nơi khác", nhưng chỉ là "sách tham khảo nội bộ" không được phát hành rộng rãi qua hệ thống phát hành sách.

Quyền sở hữu có các tác dụng chủ yếu để: (1) xác định tiềm năng kinh tế của tài sản, (2) tích hợp thông tin tản mác (về các tài sản) vào một hệ thống, (3) khiến dân chúng có trách nhiện, (4) làm cho các tài sản có thể chuyển đổi, (5) kết nối dân chúng và (6) bảo vệ các giao dịch.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: VỪA LÀM CHỦ, VỪA LÀM CÔNG ĂN LƯƠNG KIỆN VÌ BỊ CHO THÔI VIỆC, TRANH CHẤP GÌ?

HOÀNG YẾN

Hiện tranh chấp của người vừa là thành viên sáng lập, vừa làm công ăn lương với doanh nghiệp của mình không hiếm. Khi tổng kết hoạt động xét xử, TAND Tối cao cần có đúc kết để áp dụng thống nhất.

Giải quyết vụ bà NTA kiện Công ty Xuất nhập khẩu X., TAND tỉnh Quảng Bình đang băn khoăn chưa xác định được loại tranh chấp trong vụ án là gì.

Người có hai tư cách

Giữa tháng 8-2010, bà A. khởi kiện ra TAND tỉnh cho rằng mình đã bị Công ty X. đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật.

Trong đơn, bà A. trình bày bà làm việc ở Công ty X. đã hơn 20 năm. Năm 2004, Công ty X. tiến hành cổ phần hóa. Bà là một trong những cổ đông sáng lập công ty lúc đó. Sau đó bà được bầu là thành viên hội đồng quản trị, đồng thời được bổ nhiệm làm phó giám đốc công ty.

Đầu năm nay, chủ tịch hội đồng quản trị công ty bất ngờ ra quyết định cho bà nghỉ việc mà không thông báo trước. Bà A. cho rằng suốt thời gian làm việc, bà không hề vi phạm bất kỳ một quy định nào của công ty, cũng như hoàn thành tốt công việc ở cương vị phó giám đốc. Vì thế bà yêu cầu tòa buộc công ty hủy quyết định cho nghỉ việc, đồng thời nhận bà trở lại làm việc ở chức vụ cũ.

Tranh chấp lao động hay thương mại?

Nhận đơn, tòa phân vân khi xác định loại tranh chấp trong vụ án. Bởi lẽ bà A. có hai tư cách: Vừa là thành viên sáng lập, vừa là người lao động của Công ty X. Từ đây, vụ việc phát sinh hai luồng quan điểm trái ngược.

Continue reading

THỰC TRẠNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC BÊN LIÊN QUAN TRÊN THỊ TRƯỜNG

image THANH HƯƠNG (Tổng hợp)

Sự phát triển của hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam là một xu thế tất yếu, nhất là trong bối cảnh hội nhập toàn diện, khi chúng ta đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Kinh tế thị trường đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Sự phong phú về hoạt động kinh doanh, tốc độ tăng trưởng cao về kinh tế, mức thu nhập ngày càng cao của nhiều tầng lớp dân cư, tính phức tạp, đa dạng của các loại rủi ro là những yếu tố quan trọng tác động mạnh đến việc hình thành và tăng nhanh các nhu cầu về bảo hiểm trong xã hội.

I. Thực trạng cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm hiện nay

Cạnh tranh xuất hiện và tồn tại khách quan trong quá trình hình thành, phát triển của sản xuất hàng hoá và trở thành đặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, khi kinh tế phát triển, cạnh tranh sẽ diễn ra trên quy mô rộng hơn với mức độ gay gắt hơn trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong ngành dịch vụ như bảo hiểm.

Trước hết, đó là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm về sản phẩm, chất lượng dịch vụ, nguồn nhân lực, phát triển kênh phân phối sản phẩm và trình độ ứng dụng công nghệ thông tin.

Thứ hai đó là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam với các doanh nghiệp bảo hiểm tại nước ngoài về cung cấp sản phẩm bảo hiểm trong khuôn khổ đã cam kết tại WTO.

Thứ ba là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm với các dịch vụ tài chính khác như thu hút tiền gửi tiết kiệm, chứng khoán, kinh doanh bất động sản. Bên cạnh những nội dung cạnh tranh chính như đã nói ở trên, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ vẫn có nhiều vấn đề nổi cộm như cạnh tranh hạ phí, tăng chi phí khai thác, chưa kiểm soát được trục lợi bảo hiểm, dùng áp lực của các mối quan hệ để chi phối khách hàng, độc quyền kinh doanh bảo hiểm đối với một số ngành đặc thù.

Continue reading

THỰC TRẠNG, NHỮNG MẶT TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ TRONG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ LIÊN QUAN ĐẾN CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM

THANH MAI (Tổng hợp)

Đối tượng sở hữu công nghiệp (SHCN) là một yếu tố thể hiện lợi thế cạnh tranh trong thương mại, nên đã có không ít đối thủ cạnh tranh thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm hại đến các đối tượng SHCN để thu lợi bất chính trong kinh doanh.

Điều 39 Luật Cạnh tranh xác định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, mà cụ thể là sở hữu công nghiệp; bao gồm:

– Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ;

– Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hóa, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ

– Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Việt Nam cũng là thành viên, nếu việc sử dụng của người đại diện hoặc đại lý đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng

– Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục địch chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng.

Có thể thấy, khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ đã được mở rộng và làm rõ hơn so với khái niệm “chỉ dẫn gây nhầm lẫn” (một trong các dạng biểu hiện cụ thể của hành vi cạnh tranh không lành liên quan đến sở hữu trí tuệ) mà Luật Cạnh tranh đã đưa ra trước đây. Đồng thời, để bảo vệ chủ thể bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Luật Sở hữu trí tuệ cũng đã quy định để cho các chủ thể này có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự cũng như biện pháp hành chính theo pháp luật về cạnh tranh.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ: TRANH CHẤP NHÃN HIỆU BÁNH TRÁNG

ÁI MINH

Vụ việc gây nhiều tranh cãi khiến tòa phải hoãn xử nhiều lần. Phía Công ty TG đã xuất trình được hợp đồng để chứng minh mình sản xuất, xuất khẩu bánh tráng mang nhãn hiệu K’ theo đúng yêu cầu của bên mua hàng.

Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM đang chuẩn bị đưa ra xét xử vụ án tranh chấp về nhãn hiệu một mặt hàng bánh tráng ở Tiền Giang.

Gia công theo kiểu dáng của công ty khác

Năm 2007, Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp với sản phẩm bánh tráng hiệu K. kèm ảnh cho Công ty TP. Một năm sau, Công ty TP được Cục cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa trên. Để bảo vệ nhãn hiệu hàng hóa trên thị trường Mỹ, công ty này tiếp tục đăng ký bảo hộ tại Mỹ sản phẩm bánh K. và được bảo hộ nhãn hiệu cùng kiểu dáng công nghiệp.

Tháng 11-2009, Công ty TP phát hiện trong một số siêu thị ở Mỹ có bày bán mặt hàng bánh tráng hiệu K’ có màu sắc tương tự, khó phân biệt và gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của công ty. Tìm hiểu, Công ty TP biết Công ty TG đã sản xuất số bánh hiệu K’ trên. Qua đối chất, Công ty TG thừa nhận khoảng tháng 9-2009 có xuất sang Mỹ gần 39.000 tấn bánh tráng K’. Nhãn hiệu này do khách hàng bên Mỹ đặt gắn lên bao bì sản phẩm.

Đầu tháng 12-2009, Công ty TP đã nhờ luật sư ở Mỹ gửi công văn khuyến cáo Công ty TG về hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Tháng 2-1010, Công ty TP đã kiện Công ty TG ra TAND tỉnh Tiền Giang để yêu cầu chấm dứt hành vi sản xuất, xuất khẩu loại bánh tráng K’, thu hồi toàn bộ lượng bánh đã xuất khẩu, bán trên thị trường Mỹ.

Công ty TP còn yêu cầu Công ty TG phải xin lỗi công khai ba kỳ liên tiếp trên ba tờ báo. Đồng thời, Công ty TG phải thanh toán các khoản chi phí cho dịch vụ luật sư, gồm 5.000 USD thuê luật sư ở Mỹ và 60 triệu đồng phí thuê luật sư tại Việt Nam, tổng cộng hơn 153 triệu đồng.

Continue reading

DOANH NGHIỆP VÀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

NGUYÊN THẢO

Luật Trọng tài thương mại đã được Quốc Hội thông qua tại kỳ họp tháng 6/2010. Đối với nhiều doanh nghiệp, luật này còn khá xa lạ. Theo thống kê của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam ở nước ta khi xảy ra tranh chấp thương mại 89% trường hợp các bên đưa nhau ra toà án để giải quyết.

Trong khi đó, theo thống kê quốc tế, 90% các doanh nghiệp quốc tế chọn con đường trọng tài để giải quyết tranh chấp thương mại và chỉ có 10% số vụ việc là qua toà án. Vì sao đại đa số các doanh nnghiệp quốc tế lại chọn giải pháp trọng tài? Phân tích vấn đề này, các chuyên gia đưa ra những nguyên nhân sau.

Giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường trọng tài có những ưu điểm nổi bật nên nhiều doanh nghiệp quốc tế lựa chọn biện pháp này. Đó là:

– Nhanh chóng: Theo thủ tục tố trụng trọng tài, thời gian thụ lý giải quyết tranh chấp chỉ thu gọn trong vài tháng. Ở đây không có quá trình điều tra, xác minh mà tự các bên liên quan phải cung cấp đầy đủ căn cứ, tài liệu theo luật định cho Trung tâm trọng tài. Hội đồng trọng tài sẽ dựa trên những chứng cứ đó và các bộ luật để phân tích, đánh giá, phán quyết. Khi cần yêu cầu bổ sung thêm tài liệu, hồ sơ, Trung tâm trọng tài sẽ thông báo cụ thể đến bên liên quan và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các bên thực hiện nhiệm vụ và bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.

– Sâu về chuyên môn: Các trọng tài viên của một Trung tâm trọng tài bao gồm hai nhóm: nhóm chuyên gia và nhóm luật sư. Nhóm đầu là những chuyên gia đầu ngành của nhiều lĩnh vực được Trung tâm mời làm trọng tài viên tham gia xử các vụ việc có liên quan đến chuyên ngành mà chuyên gia đang làm việc và có nhiều kinh nghiệm. Vì vậy, cùng với các luật sư trong hội đồng trọng tài, các khía cạnh chuyên môn được mổ xẻ, phân tích một cách khoa học, khách quan và nhanh chóng. Đây là một trong các ưu điểm nổi trội của phương pháp trọng tài.

Continue reading